Thực trạng và giải pháp thu hút, sử dụng vốn ODA và FDI cho phát triển kinh tế Việt Nam - Pdf 22

GIỚI THIỆU
Trong tiến trình phát triển kinh tế đất nước từ nền kinh tế nông nghiệp lên công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Việt Nam rất cần nguồn vốn cho việc đầu tư phát triển kinh tế trong khi đó
nguồn vốn tiết kiệm trong nước lại rất hạn chế. Vậy giải pháp nào giúp Việt Nam giải quyết
những mâu thuẫn trên?
Theo lý thuyết hai khoảng cách của Hollis B. Chenery
Trong nền kinh tế mở, ta có phương trình:
Y = (C + G) + (Ig + Ip) + (X - M ) (1)
Trong đó: Y: là tổng thu nhập
C+G : Tiêu dùng của khu vực tư nhân (C) và chi tiêu của chính phủ (G)
Ig + Ip : Đầu tư của chính phủ (Ig) và đầu tư của tư nhân (Ip)
X : Giá trị hàng hóa xuất khẩu
M : Giá trị hàng hóa nhập khẩu
Nếu phân tích tổng thu nhập của nền kinh tế theo yếu tố thu nhập của từng khu vực, ta có :
Y = Tg + (C + Sp) (2)
Với Tg là thu nhập của chính phủ và Sp là tiết kiệm của khu vực tư nhân.
Từ (1) và (2) ta có :
(X – M) = (Tg – G – Ig) + (Sp – Ip)
Thay Tg – G = Sg (Tiết kiệm của chính phủ)
⇔ (Ig - Sg ) + (Ip - Sp ) = (M – X) (3)
Từ (3) sẽ xảy ra tình trạng “2 Khoảng cách”:
- Đầu tư vượt quá tiết kiệm
- Nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu
Nếu có sự gia tăng nhu cầu đầu tư (Ip,Ig) vượt quá mức tiết kiệm trong nước (Sp, Sg), để cân
bằng cán cân kinh tế vĩ mô thì có thể thực hiện biện pháp là: Gia tăng thu hút vốn đầu tư nước
ngòai để lấp vào lỗ hổng thiếu hụt (GS. Binh Minh)
1
Theo Quan điểm của Đảng :” nguồn vốn trong nước có tính chất quyết định, nguồn vốn nước
ngòai có vai trò quan trọng”.
Từ những lý do đó, Nhóm 2 muốn tìm hiểu kỹ hơn về nguồn vốn nước ngòai đặc biệt là nguồn
vốn tài trợ phát triển chính thức (ODA) và Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngòai (FDI) tại Việt

phân cấp mạnh mẽ để các Bộ, ngành và địa phương phát huy tính chủ động và nâng cao trách
nhiệm từ khâu xây dựng dự án, thực hiện dự án, khai thác và vận hành các sảm phẩm đầu ra.
Theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP Việt Nam có 4 cấp tham gia vào quá trình quản lý và thực
hiện nguồn vốn ODA (Ban QLDA, Chủ dự án, Cơ quan chủ quản, Cơ quan quản lý nhà nước về
ODA). Các cấp này có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể:
- Ban QLDA: Đơn vị giúp việc cho Chủ dự án trong việc quản lý thực hiện chương trình,
dự án ODA.
- Chủ dự án: Là đơn vị được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA
và nguồn vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án theo nội dung đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt, và quản lý, sử dụng công trình sau khi chương trình, dự án kết thúc.
- Cơ quan chủ quản: Là các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ,
các cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức nghề nghiệp, các cơ quan trực
thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chương trình, dự án.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về ODA: Gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính,
Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ.
3

Kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy dù quản lý nhà nước theo mô hình tập trung hay
phân cấp thì một nguyên tắc "vàng" là Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA theo quy định tại Nghị định
131/2006/NĐ-CP bao gồm các nội dung sau:
1. Quyết định chiến lược, chính sách, quy hoạch, định hướng thu hút và sử dụng ODA
cho từng thời kỳ; ủy quyền cho Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ ODA
và những sửa đổi, bổ sung (nếu có) của Danh mục;
2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng ODA theo thẩm quyền;
3. Điều hành vĩ mô công tác quản lý và sử dụng ODA.
Đồng thời giữa các cơ quan quản lý nhà nước về ODA cũng có sự phân công về chức
năng, nhiệm vụ cụ thể trên một cơ chế phối hợp tốt và nhịp nhàng, trong đó:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA, có

- Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA; báo cáo tổng hợp theo định kỳ
(6 tháng, một năm), đột xuất và theo yêu cầu đặc biệt của Đảng và Nhà nước về tình hình quản
lý, thực hiện các chương trình, dự án và hiệu quả thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA.
- Làm đầu mối xử lý các vấn đề liên quan đến nhiều Bộ, ngành; kiến nghị Thủ tướng
Chính phủ quyết định biện pháp xử lý các vấn đề về ODA thuộc thẩm quyền của Thủ tướng
Chính phủ.
- Biên soạn và phổ biến các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về vận động, chuẩn bị, thẩm
định, quản lý thực hiện, theo dõi, đánh giá chương trình, dự án có tính đến yêu cầu hài hoà thủ
tục với các nhà tài trợ; hỗ trợ công tác đào tạo quản lý chương trình, dự án theo hướng chuyên
nghiệp và bền vững.
- Chủ trì tổ chức thực hiện các biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử
dụng nguồn vốn ODA.

2. Bộ Tài chính có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút, sử dụng
ODA và điều phối các nguồn vốn ODA; hướng dẫn chuẩn bị nội dung chương trình, dự án liên
quan đến điều kiện sử dụng vốn, quản lý tài chính, phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
ODA.
- Chuẩn bị nội dung đàm phán chương trình, dự án vốn vay với nhà tài trợ; theo ủy quyền
Thủ tướng Chính phủ, tiến hành đàm phán các điều ước quốc tế cụ thể về ODA vốn vay theo quy
định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 131/2006/NĐ-CP.
- Đại diện chính thức cho “người vay” là Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong các điều ước quốc tế cụ thể về ODA vốn vay, kể cả trong trường
hợp Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho một cơ quan khác chủ trì đàm phán các điều ước quốc tế
nêu trên.
- Quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn quy chế quản lý tài chính đối
với chương trình, dự án;
5
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan trình Thủ tướng

6
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị nội dung đàm phán; theo sự ủy quyền của
Thủ tướng Chính phủ, tiến hành đàm phán và ký các điều ước quốc tế cụ thể về ODA với các tổ
chức tài chính quốc tế: Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB); bàn giao vốn và toàn bộ các thông tin liên quan đến chương trình, dự án cho
Bộ Tài chính sau khi các điều ước quốc tế cụ thể về ODA có hiệu lực, trừ thoả thuận vay với
IMF;
- Phối hợp với Bộ Tài chính xác định và công bố danh sách các ngân hàng thương mại
đủ tiêu chuẩn để ủy quyền thực hiện việc giao dịch thanh toán đối ngoại đối với nguồn vốn
ODA, ủy quyền cho vay lại và thu hồi vốn trả nợ ngân sách trong trường hợp cần thiết;
- Tổng hợp theo định kỳ (6 tháng, một năm) và thông báo cho Bộ Tài chính, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan về tình hình rút vốn và thanh toán thông qua hệ thống
tài khoản của các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA mở tại các ngân hàng.

5. Bộ Ngoại giao có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và thực hiện chủ trương, phương hướng
vận động ODA cũng như chính sách đối tác trên cơ sở chính sách đối ngoại chung; tham gia vận
động ODA;
- Tham gia đàm phán, góp ý kiến xây dựng nội dung dự thảo điều ước quốc tế về ODA;
kiểm tra việc đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế về ODA; thực hiện các thủ tục đối ngoại về
việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về ODA;
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo các cơ quan đại diện ngoại giao
của Việt Nam tại nước ngoài tiến hành vận động ODA phù hợp với quy hoạch, kế hoạch thu hút
và sử dụng nguồn vốn ODA trong từng thời kỳ.

6. Văn phòng Chính phủ có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Giúp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thống nhất quản
lý nhà nước về ODA;
- Tham gia ý kiến về nội dung trong quá trình chuẩn bị chương trình, dự án theo yêu cầu của

(Theo Bộ Kế họach và đầu tư)
2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA Ở VIỆT NAM
2.1 Quá trình huy động và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam: Gồm 3 giai đoạn.
2 .1.1 Giai đoạn từ : 1993 – 2000.
Năm 1993, đã đánh dấu sự quay trở lại Việt Nam của các nhà tài trợ song phương và đa
phương sau một thời gian ngừng cung cấp các chương trình, dự án viện trợ (trừ một số nước Bắc
Âu). Từ khi Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, nhiều
Chính phủ và tổ chức đã nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam. Những nỗ lực từ cả 2 phía các nhà
tài trợ và Chính phủ Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập
quan hệ với hơn 50 nhà tài trợ song phương và đa phương cùng khoảng 600 tổ chức phi Chính
phủ với hơn 1500 chương trình dự án. Hiện nay, ngân hàng thế giới (WB) là cơ quan viện trợ đa
8
phương lớn nhất, Nhật Bản là quốc gia viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam. Xét về
viện trợ không hoàn lại thì Pháp là lớn nhất và Đan Mạch là thứ nhì Với việc nối lại các
chương trình, dự án viện trợ, mỗi năm cộng đồng các nhà tài trợ cam kết cung cấp cho nước ta
hơn 2 tỷ USD .
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch đầu tư thì hết năm 2000 tổng công số vốn cam
kết các nhà tài trợ dành cho Việt Nam là gần 18.54 tỷ USD, vốn ODA giải ngân khoảng 8.01 tỷ
USD, tương đương với khoảng 45% tổng nguồn vốn ODA đã cam kết. Tốc độ giải ngân bình
quân hàng năm khoảng 24%.Tình hình giải ngân các năm cụ thể như sau
Năm Vốn cam kết Vốn giải ngân Tỷ lệ giải ngân Tốc độ tăng
1993 1.81 0.41 22.65%
1994 1.94 0.72 37.11% 75.60%
1995 2.26 0.74 32.74% 2.77%
1996 2.43 0.9 37.03% 21.62%
1997 2.4 1 41.67% 11.11%
1998 2.2 1.24 56.36% 24%
1999 2.1 1.35 64.28% 8.87%
2000 2.4 1.65 68.75% 22.22%
Nguồn : Bộ kế họach và đầu tư

2001 2.4 1.5 62.50% -9%
2002 2.5 1.53 61.20% 2%
2003 2.83 1.42 50.20% 21.55%
2004 3.44 1.65 48% 0
2005 3.44 1.853 53.90%
Để sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ các điều
ước quốc tế về ODA (dự án, nghị định thư, hiệp định, chương trình). Tính từ năm 2001 đến hết
2004, tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết đạt 8.781 triệu USD, trong đó
7.385 triệu USD vốn vay và 1.396 triệu USD viện trợ không hoàn lại, chiếm khoảng 78% tổng
nguồn vốn ODA đã được cam kết trong cùng giai đoạn.
10
 Phân theo ngành nghề, lĩnh vực.
Nguồn vốn ODA đã được ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực như giao thông vận tải; phát
triển nguồn và mạng lưới truyền tải và phân phối điện; phát triển nông nghiệp và nông thôn bao
gồm thuỷ lợi, thuỷ sản, lâm nghiệp kết hợp xoá đói giảm nghèo; cấp thoát nước và bảo vệ môi
trường; y tế, giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ, tăng cường năng lực và thể chế
Nguồn vốn ODA đã bổ sung một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước để đầu tư phát
triển, chiếm khoảng từ 22% đến 25% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả phần
vốn ODA cho vay lại từ ngân sách nhà nước).
Nguồn vốn ODA đã được giải ngân tính cho ngân sách nhà nước (không bao gồm phần
giải ngân cho các khoản chi tại nước tài trợ, chi cho chuyên gia ) trong giai đoạn từ năm 2001
đến hết năm 2004 ước đạt khoảng 6.172 triệu USD, bằng 71,9% tổng giá trị các điều ước quốc tế
về ODA đã ký kết và bằng 55% tổng lượng ODA đã cam kết trong thời kỳ này.
2.1.3.Giai đoạn 2006 đến nay
Năm Cam kết tỷ USD Giải ngân tỷ USD % thực hiện % tăng vốn
2006 3,75 1,8 48% 9.01%
2007 4,5 2 44,44% 20%
2008 5,426 2,2 40,55% 20,58%
2009 5,914 3 50.70% 9%
2010 5,07* 2,47* 48,71% -14.30%

2010 cam kết ODA dành cho Việt Nam sẽ đạt con số lớn nhất kể từ trước tới nay.
2.2 Những kết quả đạt được và hạn chế
2.2.1 Kết quả
Từ 1993 đến cuối 2010, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho VN đạt tới hơn
64 tỉ USD. Tổng số vốn đã được giải ngân đạt trên 28 tỉ USD (năm 2010 giải ngân đạt 3,5 tỉ
USD). Theo số liệu thống kê, tỉ lệ giải ngân vốn ODA trong 4 năm (2006- 2010) cho thấy, tổng
số giải ngân đạt hơn 12,5 tỉ USD, chiếm trên 40% tổng vốn ODA cam kết.
Qua bảng trên ta nhận thấy tốc độ tăng trưởng khả năng thu hút vốn ODA của nước ta
tăng với tốc độ khá nhanh và ổn định trong suốt giai đoạn từ 1993- 2009 mặc dù có một giai
đoạn ngắn tăng trưởng âm nhưng giai đoạn này trùng với cuộc khủng hoảng kinh tế đặc biệt là
sự mất giá của đồng yên Nhật mà Nhật là nước tài trợ ODA lớn nhất của Việt Nam nên có thể
chấp nhận được. Còn lại trong suốt quá trình từ 1993- 2003 là mức độ tăng trưởng ổn định trên
dưới 8% đặc biệt tăng cao vào giai đoạn từ 04- nay thời điểm này trùng với giai đoạn trước và
sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Từ năm 2001 - 2008, số vốn ODA cam kết đạt 29,77 tỷ USD; số vốn đã ký kết đạt hơn
22 tỷ USD; giải ngân theo kế hoạch đạt 15,51 tỷ USD; thực hiện đạt 14,33 tỷ USD. Với nguồn
vốn này, tỷ lệ giải ngân/cam kết đạt 57,8%; tỷ lệ giải ngân/ký kết đạt 64,9%; tỷ lệ giải ngân/kế
13
hoạch đạt 92,4%. Số liệu này cho thấy mức độ giải ngân nguồn vốn ODA trong các năm gần đây
đã được cải thiện đáng kể, nhưng so với các nước trong khu vực thì vẫn còn chậm.
Tuy khả năng thu hút ODA của chúng ta tăng trưởng ở mức khá nhưng việc thực hiện
vốn cam kết hay nói cách khác là tốc độ giải ngân của Việt Nam còn chậm và chưa đạt được hiệu
quả cao và đang có xu hướng sút giảm trong thời gian trở lại đây. Tốc độ giải ngân chậm gây ra
việc lãng phí, thất thoát vốn gây ra gánh nặng nợ không cần thiết cho thế hệ sau và gây ảnh
hưởng xấu cho khả năng thu hút các nguồn đầu tư quốc tế khác.
Qua hơn 17 năm thực hiện nguồn vốn ODA ta thấy, tỉ lệ giải ngân nguồn vốn viện trợ
không hoàn lại đạt mức khá cao, ngược lại tỉ lệ giải ngân của nguồn vốn ODA có hoàn lại ở mức
còn thấp. Nguyên nhân cơ bản là do nguồn vốn ODA viện trợ không hoàn lại không có những
ràng buộc về trả nợ nước ngoài, nguồn vốn này chủ yếu dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật, tập trung
vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, xã hội, cải cách hành chính Còn vốn ODA có hoàn trả lại có

Gòn, Tiên Sa (Đà Nẵng), xây dựng cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, phát triển giao thông
nông thôn ở hầu hết các tỉnh và nhiều công trình quan trọng đã được xây dựng khác như: Cầu
Mỹ Thuận, cầu Sông Gianh, dự án nâng cấp quốc lộ 1A, cầu Bãi Cháy…
Nguồn vốn ODA đã đầu tư phát triển ngành điện bao gồm phát triển nguồn điện (các dự
án Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2-1, Ô Môn, Phả Lại 2, Hàm Thuận - Đa My, Đại Ninh, Đa Nhim) và phát
triển hệ thống đường dây 500 kV Plâyku - Nhà Bè, gần 50 trạm biến áp của cả nước, cải tạo
nâng cấp mạng lưới điện thành thị và nông thôn ở trên 30 tỉnh và thành phố.Nhà máy Nhiệt điện
Phú Mỹ 2 -1; nhà máy thủy điện sông Hinh ……
3. ODA đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn kết hợp
xoá đói giảm nghèo Cho đến gần đây, Việt Nam luôn được coi là một trong những quốc gia sử
dụng hiệu quả vốn ODA nhất trên thế giới, đưa tỷ lệ đói nghèo giảm từ khoảng 58% năm 1992
xuống khoảng 10% năm 2009. Nguồn vốn ODA đã giúp nông dân nghèo tiếp cận nguồn vốn vay
để tạo ra các ngành nghề phụ, hỗ trợ phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,
phát triển giao thông nông thôn, thuỷ lợi, cung cấp nước sạch, phát triển lưới điện sinh hoạt,
trạm y tế, trường học
15
4.ODA đóng góp cho sự phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, tác động tích cực đến việc cải
thiện chỉ số phát triển con người ở Việt Nam. Tổng nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo ước
chiếm khoảng 8,5 - 10% tổng kinh phí giáo dục và đào tạo, đã góp phần cải thiện chất lượng và
hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc nâng cao chất
lượng dạy và học, như các dự án ODA hỗ trợ cải cách giáo dục tiểu học, trung học và đại học, tự
án tạo nghề
5. ODA đã góp phần tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án
hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế
theo lịch trình phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và lộ trình chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường năng lực con người Thông qua các dự án ODA, hàng
ngàn cán bộ Việt Nam được đào tạo và đào tạo lại; nhiều công nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý
hiệnđại được chuyển giao.
6. Quan hệ giữa phía Việt Nam và các nhà tài trợ đã được thiết lập trên cơ sở quan hệ đối
tác, đề cao vai trò làm chủ của bên tiếp nhận ODA thông qua các hoạt động hài hoà và tuân thủ

khoản giải ngân ODA trực tiếp và đây là điều hết sức cần lưu ý khi phân bổ ODA.
Thứ ba, các điều kiện sử dụng vốn ODA: (Nguyễn Ngọc Vũ, 2010)
ODA là nguồn vốn vay nên phải có nghĩa vụ trả nợ, dẫn tới gánh nặng nợ cho quốc gia
trong tương lai
Các nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành
công nghiệp non trẻ và bằng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước tài trợ, từng bước mở cửa
thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hóa mới của nước tài trợ, ưu đãi các nhà đầu tư trực
tiếp nước ngòai đầu tư vào các lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
Nguồn vốn ODA còn được gắn với các điều kiện khỏan mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối
đa các sản phẩm của họ. Nước tiếp nhận vốn ODA tuy có quyền quản lý sử dụng ODA nhưng
thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thỏa thuận, đồng ý của các nước viện
trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà
thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
2.2.3 Nguyên nhân cho những kết quả đạt được
(1) Chính phủ luôn coi trọng việc hoàn thiện môi trường pháp lý để quản lý và sử dụng
hiệu quả nguồn vốn ODA
(2) Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với các nhà tài trợ nhằm tăng cường quản lý ODA,
làm hài hòa thủ tục giữa Việt Nam và các nhà tài trở để thúc đẩy tiến trình thực hiện các chương
trình, dự án.
(3) Công tác quản lý nhà nước về ODA đã được tăng cường. Năm 2001, Chính phủ đã
ban hành Nghị định mới về quản lý và sử dụng ODA, tạo ra khung pháp lý chặt chẽ và khá đồng
bộ đối với công tác quản lý nhà nước về ODA. Trong giai đoạn 2001 - 2005, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Nghị định nói
trên của Chính phủ. Công tác quản lý nhà nước về ODA ở các cấp về cơ bản đã tập trung vào
một đầu mối, ở Trung ương là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở các Bộ là các Vụ Kế hoạch và Đầu tư
hoặc Vụ Hợp tác quốc tế, ở các tỉnh là các Sở Kế hoạch và Đầu tư.
17
2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế
 Sự khác biệt về quy trình thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ.
Do cơ chế, chính sách trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng còn nhiều bất hợp lý, năng lực của

18
cảnh Việt Nam. Chính phủ và các nhà tài trợ cam kết nâng cao tác động của viện trợ trong việc
giảm đói nghèo và bất bình đẳng, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển thể chế, nguồn nhân lực và
đẩy nhanh việc thực hiện các mục tiêu phát triển của Việt Nam.
CÁC CHỈ TIÊU VÀ MỤC TIÊU CỦA CAM KẾT HÀ NỘI
Chỉ tiêu Mục tiêu định hướng đến năm 2010[2]
Tinh thần làm chủ
1 Hoàn thành việc xây dựng Kế hoạch 5 năm ;
Các nguyên tắc của Chiến lược Tăng trưởng
và Giảm nghèo (CPRGS) được lồng ghép; Kế
hoạch 5 năm được thực hiện có hiệu quả.
Đạt được các mục tiêu của Kế hoạch 5 năm
phát triển kinh tế - xã hội
Sự tuân thủ của hệ thống quốc gia
2 Chiến lược hỗ trợ của nhà tài trợ tuân thủ
theo Kế hoạch 5 năm và các chiến lược quốc
gia, ngành, vùng, tỉnh và thành phố có liên
quan khác.
Chiến lược hỗ trợ
của tất cả các nhà tài trợ

3 Các nhà tài trợ tăng cường năng lực của
Chính phủ bằng cách khắc phục các Ban
QLDA song trùng.
Không có các Ban QLDA song trùng
4 Các mục tiêu xây dựng năng lực được nêu rõ
trong Kế hoạch 5 năm, chương trình Cải cách
hành chính công (PAR), Chính phủ và các cơ
quan lãnh đạo các chương trình xây dựng
năng lực toàn diện với sự hỗ trợ có điều phối

thuận trong khung khổ hàng năm hoặc nhiều
năm.
75% viện trợ được giải ngân đúng tiến độ.
8 Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ cải
thiện môi trường và an sinh xã hội – Tỷ lệ
phần trăm các báo cáo đánh giá tác động
môi trường (EIA) và đáng giá xã hội (SIA)
được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế và sử
dụng các hệ thống của Chính phủ.
Ít nhất 100% EIA và SIA của các dự án do
các nhà tài trợ được thực hiện theo tiêu chuẩn
quốc tế và ít nhất 30% trong số này được
thực hiện thông qua các hệ thống của Chính
phủ
Hài hòa hóa và tinh giản hóa
9 Số lượng các đánh giá chẩn đoán và phân tích
về nhu cầu phát triển của Việt Nam ít hơn
nhưng chất lượng cao hơn. Tỷ lệ phần trăm
các đánh giá chẩn đoán quốc gia/ngành và
các nghiên cứu được 2 nhà tài trợ trở lên sử
dụng.
Các đánh giá chẩn đoán được tất cả các nhà
tài trợ sử dụng; ít nhất 75% các đánh giá phân
tích quốc gia được 2 nhà tài trợ trở
lên sử dụng.

1
0
Các công cụ quản lý chu trình dự án chung
được thỏa thuận và sử dụng từ đầu đến cuối

hướng kết quả (khách quan, có các chỉ tiêu,
năng lực theo dõi và đánh giá và có thông tin
để ra quyết định).
Số điểm 3 dựa trên tiêu chí của DAC [4]
và được theo dõi liên tục
Trách nhiệm chung
1
4
Định kỳ đánh giá chung về tình hình thực
hiện những cam kết đã thỏa thuận về hiệu quả
viện trợ.
Đánh giá thường niên
( Nguồn: Bộ tài chính)
3.2. Nâng cao nhận thức nợ công trong toàn dân và tiếp nhận vốn ODA.
ODA là một bộ phận của NSNN, là một phần nguồn lực tài chính quốc gia và tạo gánh nặng
nợ nần cho toàn dân không những cho thế hệ hiện tại mà còn cho những thế hệ tương lai. (Từ bài
học cơn bão nợ công ở Hy Lạp và Bồ Đào Nha đã cho thấy tính chất quan trọng của nợ công)
góp phần gia tăng hệ thống giám sát trong tòan dân
Mặc dù vốn ODA là viện trợ nhưng 20% là không hoàn lại, 80% vay trả nợ (lãi suất và vốn
gốc). Tuy nhiên trong những năm gần đây đồng tiền quốc gia của Việt Nam (VNĐ) luôn bị mất
giá so với các đồng tiền khác trên thế giới điều này đã nên áp lực rất lớn đến cơ cấu nợ của quốc
gia. Vì vậy, khi đàm phán và nhận vốn ODA, chúng ta cần xem xét các kế họach trả nợ và sự
mất giá của đồng tiền quốc giá (nếu có). Đồng thời, xây dựng các kế họach giảm dần ODA với
thời gian trả nợ ngắn và gắn với các điều kiện chặt chẽ
Sử dụng vốn ODA có chọn lọc. “ ODA cần phải sử dụng phù hợp và kết hợp hài hòa với các
nguồn vốn đầu tư khác…Chất lượng trong thu hút ODA sẽ quan trọng hơn là số lượng ODA.
Điều này có nghĩa là là việc huy động và sử dụng ODA cần phải căn cứ vào các yếu tố kinh tế -
21
xã hội và phải đánh giá kỹ các lợi ích mang lại từ việc chuyển giao vốn, kiến thức, công nghệ, kỹ
năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến” (Theo Ông Lê Quốc Hội, Trường Đại Học Kinh tế quốc

Phần B. Nguồn Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngòai (FDI)
Nhu cầu FDI trên toàn thế giới tiếp tục tăng không chỉ với các nước đang phát triển, nước có
thu nhập thấp mà ngay cả các nước phát triển, các nước công nghiệp, các nước có thu nhập cao.
Từ năm 2006, nhất là từ 2007 và dự báo các năm tiếp theo xu thế M&A (mua lại và sát nhập)
xuyên quốc gia đã và sẽ gia tăng (tổng giá trị M&A trên toàn cầu 6 tháng đầu năm 2007 đạt 2,8
nghìn tỷ USD bằng 1,5 lần 6 tháng đầu năm 2006), cùng với xu thế toàn cầu hóa và chuyển giao
công nghệ. FDI không chỉ bổ sung thêm vốn đã thiếu và công nghệ lạc hậu của các nước nhận
FDI mà còn với các nước đầu tư không những khai thác lợi thế ở các nước nhận đầu tư mà còn
giúp tăng cường năng lực công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nước.
Trung bình một năm trong thời kỳ trên FDI sẽ lên tới 1500 tỷ USD, riêng năm 2011 sẽ lên
trên 1600 tỷ USD (mức trung bình một năm thời kỳ 2002-2006 khoảng 843 tỷ USD). Theo xếp
hạng 10 nước và lãnh thổ nhận FDI nhất đã thu hút tới gần 58% FDI trên toàn thế giới, mặc dù
dân số các nước này chỉ chiếm gần 40% dân số thế giới, trung bình một người dân một năm nhận
khoảng 864,1 USD*; trong 10 nước và lãnh thổ có 9 nước và lãnh thổ thuộc nhóm công nghiệp,
có nền kinh tế thu nhập cao, chỉ duy nhất có Trung Quốc thuộc nhóm nước đang phát triển, có
nền kinh tế thu nhập trung bình chỉ nhận trung bình một năm khoảng 66,8 USD
Dự báo dòng vốn FDI vào các nước
(trung bình một năm trong thời kỳ 2007-2011)
Quốc gia Tỷ USD
Xếp
hạng
Tỷ lệ so với
FDI toàn
thế giới -%
GDP
BQĐN
2004
Nhận FDI
BQĐN-USD

USD trong một năm, chỉ bằng 1/3 mức đã đạt được trong năm 2007, và gấp hơn 1,6 lần mức BQ
thu hút FDI trong một năm trong suốt thời kỳ 20 năm đầu tư nước ngoài ở nước ta. Đây là một
con số để chúng ta tham khảo khi đề ra mục tiêu thu hút FDI trong các năm tới.
Bức tranh triển vọng thu hút FDI BQ trong một năm của thời kỳ 2007-2011 của một số
nước ASEAN như sau:
Dự báo dòng vốn FDI vào các nước
(trung bình một năm trong thời kỳ 2007-2011)
Quốc gia
Tỷ
USD
Xếp
hạng
Tỷ lệ so với
FDI toàn thế
giới -%
GDP
BQĐN
2004
Nhận FDI
BQĐN-USD *
Xingapo 27,1 15 1,81 25207 6452,4
Thái Lan 8,9 27 0,59 2537 139,4
Malaixia 6,8 34 0,45 2716 265,6
Inđônêxia 6,6 36 0,44 1193 30,2
Việt Nam 6,5 38 0,44 555 79,3
Philippin 2,4 55 0,16 1042 28,7
Nga và các nước Đông Âu cũng là các quốc gia thu hút được nhiều FDI. BQĐN thu hút trong
một năm của thời kỳ 2007-2011 ở các nước như sau: Nga: 217,9 USD ( tổng FDI BQ một năm
nước Nga thu hút được khoảng 31,4 tỷ USD, xếp thứ 13), Ba Lan: 329,8 USD, Cadăcxtan: 446,7
USD, Cộng hòa Séc: 529,4 USD, Hunggary: 504,9 USD, Ucraina: 103,4 USD, Bungari: 333,3

đầu tư nước ngoài và thu hẹp sự khác biệt về chính sách đầu tư giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư
trong nước. Trong điều 4 chương I của Luật Đầu tư 2005, Nhà nước đã khẳng định sẽ cam kết
thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên. Hơn thế nữa, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư,
bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định
của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Những thay đổi
này thể hiện nỗ lực của Chính phủ trong cải thiện, tạo môi trường đầu tư chung theo xu hướng hội
25

Trích đoạn Ảnh hưởng đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên, sức khỏe con người: Cải tiến các thủ tục hành chính.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status