LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng trong bất cứ một nghiên cứu hay
một luận văn nào khác.
Tôi xin cam đoan tất cả trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự
giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn.
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Hồ Thị Hương Cẩm
11
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Nâng cao thu nhập cho lao động
nông thôn tại xã Cẩm Huy, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh”, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể, tôi xin được bày tỏ
sự biết ơn sâu sắc tới các cá nhân, tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã dạy bảo và trang bị
cho tôi những kiến thức giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo Lê Khắc Bộ đã trực
tiếp tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ lãnh đạo ủy
ban nhân dân xã, hợp tác xã, hội nông dân và tập thể bà con trong xã Cẩm
Huy, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian tôi thực tập tại địa bàn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và
những người thân đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng
như hoàn thành khóa luận này.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong khi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
nhưng trình độ, năng lực của bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu
“Nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn tại xã Cẩm Huy, huyện
Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh”
.Đề tài được thực hiện với mục tiêu đó là: Hệ thống hóa cơ sở lí luận,
thực tiễn về vấn đề lao động và nâng cao thu nhập cho người lao động.
33
Đánh giá thực trạng thu nhập của lao động nông thôn xã Cẩm Huy. Phân
tích các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập chính của người dân lao động xã
Cẩm Huy. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu
nhập cho lao động nông thôn xã Cẩm Huy, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà
Tĩnh trong thời gian tới.
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp
chọn mẫu điều tra nghiên cứu dùng để điều tra thực trạng thu nhập của lao
động nông thôn trên địa bàn xã, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao
động nông thôn và phương hướng sản xuất của các nhóm hộ trong thời gian
tới. Tôi đã trực tiếp điều tra phỏng vấn 60 hộ gia đình được phân bổ đều
cho 3 thôn đó là: Thôn 2, thôn 4, thôn 5 nhằm thu thập thêm thông tin cần
thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài. Phương pháp thu thập và
tổng hợp xử lý số liệu điều tra (số liệu do UBND xã Cẩm Huy, do HTX
dịch vụ nông nghiệp, do các hộ nông dân cung cấp). Pương pháp phân tích
số liệu dùng để phân tích thực trạng thu nhập của lao động ở các nhóm hộ,
đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của lao động (cơ cấu ngành
nghề, trình độ văn hóa chuyên môn, ). Phương pháp thống kê mô tả dùng
để mô tả, phân tích phương án sản xuất, cách lựa chọn ngành nghề của lao
động ở các nhóm hộ. Phương pháp so sánh dùng để so sánh mức thu nhập,
các điều kiện cơ bản của các lao động khác nhau từ đó tìm ra các yếu tố
ảnh hưởng tới mức thu nhập của lao động.
Qua quá trình nghiên cứu thực tế tình hình lao động và thu nhập của
lao động trên địa bàn xã cho thấy, nhìn chung thu nhập của người lao động
nơi đây còn thấp và có sự khác nhau giữa các lao động. Lao động trong
ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao hơn 70% tổng lao động điều tra nhưng
sản xuất cho người dân, tăng hệ số sử dụng đất.
Tóm lại, Đảng và nhà nước cũng như chính quyền địa phương cần quan
tâm hơn nữa đối với thu nhập của người lao động, cần có chính sách khuyến
khích, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển để nâng cao thu
nhập cho người dân, cuộc sống của bà con ngày càng no ấm, hạnh phúc.
55
MỤC LỤC
66
DANH MỤC BẢNG
77
DANH MỤC VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
CN - TTCN: Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
CC : Cơ cấu
ĐVT : Đơn vị tính
GT : Giá trị
NN : Nông nghiệp
LĐ NN : Lao động nông nghiệp
TM-DV : Thương mại – Dịch vụ
XDCB : Xây Dựng Cơ Bản
SL : Số lượng
TN : Thu nhập
TNBQ : Thu nhập bình quân
88
Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nông nghiệp là một ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Với 80% dân cư làm nông nghiệp và 75% lao động trong ngành
nông nghiệp nên sự tồn tại và phát triển của nó luôn là vấn đề quan trọng
được Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành quan tâm và tạo điều kiện phát
trong tiến trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cũng như quá trình phát
triển kinh tế của đất nước.
Hiện nay, lao động nông thôn có khoảng 32,7 triệu người chiếm tới
76% dân số trong độ tuổi lao động của cả nước. Đây là lực lượng lao động
có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hóa
– Hiện đại hóa đất nước và sự ổn định chính trị của đất nước. Song thực tế
hiện nay, lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến
thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh
nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm
trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trước.Do vậy,
thu nhập của người lao động ở nông thôn là rất thấp,cùng với quá trình đô
thị hóa mạnh mẽ, việc sử dụng đất nông nghiệp cho xây dựng các khu
công nghiệp làm cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm xuống, dẫn
tới làn sóng di cư mạnh mẽ từ nông thôn ra thành thị để nâng cao mức thu
nhập. Thu nhập thấp, đời sống khó khăn đang là nguyên nhân chủ yếu cản
trở sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội ở nông thôn. Do vậy, nâng cao
thu nhập cho lao động nông thôn là đòi hỏi rất cấp bách.
Cẩm Huy là một xã thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mang
đặc điểm chung của một xã thuần nông với hầu hết lao động làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong thời gian gần đây các ngành nghề
1010
thương mại, dịch vụ của xã cũng đã và đang phát triển thu hút một số
lượng lớn lao động vào làm nhưng đời sống của các hộ gia đình lao động
vẫn gặp nhiều khó khăn, thu nhập người lao động trong xã còn thấp và
không ổn định.
Làm thế nào có thể giảm bớt những khó khăn, vất vả và nâng cao
hơn nữa đời sống người dân lao động? Làm thế nào để nâng cao thu nhập
cho lao động nông thôn xã Cẩm Huy?Có những giải pháp gì để giúp
người nông dân nâng cao thu nhập của mình? Những câu hỏi đó được đặt
ra và rất cần có những câu trả lời cụ thể, rõ ràng. Xuất phát từ những lí do
28/6/2014.
Thời gian nghiên cứu: số liệu thu thập từ năm 2011 đến năm
2013.
Phần II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN, THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1212
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Cơ sở lý luận về lao động và lao động nông thôn
2.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về lao động và lao động nông thôn
Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động quan trọng có mục đích của con người.
Bất cứ làm việc gì con người đều phải tiêu hao năng lực với một
lượng nhất định, tuy nhiên chỉ có sự tiêu hao năng lực có mục đích
mới gọi là lao động.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra sản
phẩm vật chất và các giá trị tinh thần mà con người mong muốn. Lao
động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự
phát triển của đất nước. Lao động còn mang tính xã hội, trong lao động đã
hình thành mối quan hệ tự nhiên giữa người với người, được gọi là quan
hệ lao động.
Số lượng lao động hiện có của một quốc gia hay một địa phương tạo
nên lực lượng lao động bao gồm cả những lao động đang làm việc và
những người thất ngiệp.
Quy mô của lực lượng lao động là tùy thuộc vào quy mô dân số và
tỷ lệ dân số đến tuổi làm việc.
Bất kỳ một vùng, miền hay địa phương nếu có lực lượng lao động
trẻ chiếm tỷ trọng cao thì sẽ có nhiều thuận lợi và dễ dàng trong việc đào
tạo huấn luyện để đáp ứng các nhu cầu của ứng dụng kỹ thuật và công
nghệ mới nhằm tăng năng suất lao động.
1313
địnhcủa pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao
động vànhững người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang
làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Nguồn lao động về mặt số
lượng bao gồm:
- Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
- Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang
thất nghiệp, đang học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, nhưng
có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả
những người nghỉ hưu trước tuổi quy định).
Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình
độ chuyên môn, tay nghề (trí lực ) và sức khoẻ (thể lực) của người lao
động. Lực lượng lao động theo quan niệm của tổ chức lao động Quốc tế
(ILO-International Labour Organization ) là bộ phận dân số trong độ tuổi
laođộng. Theo quy định thực tế đang có việc làm và những người thất
nghiệp.
Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm
việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam
từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động.
Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở
nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm
việc làm.
Tuy nhiên, do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông
thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những
người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ
tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.
1515
Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở
nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải
quyết việc làm ở nông thôn.
thể lực và tâm lực nhưng trong phạm vi đề tài này không có điều kiện đề
cập đến, do đó chỉ đánh giá về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn.
* Về trình độ học vấn của người lao động: Có thể phân chia theo các mức
độ sau:
- Chưa tốt ngiệp cấp I
- Cấp I
- Cấp II
- Cấp III
Việc phân chia và tính được chính xác tỷ lệ lao động có trình độ học
vấn khác nhau là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng nguồn lao
động nông thôn. Trình độ THPT là trình độ cơ sở rất quan trọng tạo điều
kiện cho người lao động có khả năng tự học hỏi, tiếp thu và áp dụng
những kỹ thuật mới vào sản xuất và kinh doanh. Sự hiểu biết về pháp luật,
việc xây dựng đời sống văn minh, hiệu quả của các chính sách phát triển
nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ văn hóa của người lao động.
Vì vậy, việc đánh giá đúng trình độ văn hóa của lao động nông thôn là cơ
sở quan trọng để đưa ra những biện pháp đào tạo và chuyển giao khoa học
kỹ thuật đến người lao động.
* Trình độ chuyên môn: Có thể được phân theo các mức độ sau:
- Trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật
- Trình độ trung cấp
- Trình độ cao đẳng và trình độ đại học
- Trình độ trên đại học
Đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là phát triển theo cơ chế
thị trường, định hướng XHCN và có sự quản lý của nhà nước. Như vậy,
nông nghiệp cũng phải phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa với trình
1717
độ và hiệu quả cao. Đặc biệt với xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, sự
cạnh tranh giữa các quốc gia sẽ hết sức gay gắt, điều đó tạo ra cho nông
nghiệp nước ta phát triển còn thấp. Trước thực tế đó, việc áp dụng khoa
thực chất chỉ mang tính tương đối. Việc phân chia như trên là dựa vào thu
nhập và thời gian lao động được phân bố cho các ngành. Trong thực tế,
mỗi hộ nông dân thường có cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy
sản, ít nhất cũng có chăn nuôi và trồng trọt. Vì vậy, trong gia đình một
người có thể vừa làm trồng trọt, vừa làm chăn nuôi, vừa làm các việc
khác. Việc phân chia lao động theo ngành như trên cho phép đánh giá
được cơ cấu kinh tế trong nông thôn và trình độ phân công lao động trong
nông thôn. Điều này có ý nghĩa quan trọng để đánh giá trình độ phát triển
của mỗi vùng nông thôn trong việc khai thác tối đa và hợp lý những thế
mạnh của địa phương mình.
2.1.1.2 Đặc điểm của lao động nông thôn
- Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng: Đặc điểm
này làm cho việc tổ chức hiệp tác lao động và việc bồi dưỡng đào tạo,
cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn.
- Lao động nông thôn có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp hơn so với
thành thị: Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm một tỷ lệ thấp.
Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế
hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói
quen là chính. Điều đó làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất
định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực
hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.
- Người lao động chủ yếu làm việc trong kinh tế hộ gia đình, lao động tự
làm là chính. Mục đích làm việc là để góp phần cùng các thành viên khác
trong gia đình tăng sản lượng (hoặc thu nhập). Quan hệ làm công ăn
lương chưa phát triển.
- Cung lao động khu vực nông thôn co giãn nhiều vì khu vực này có tỷ lệ
tăng dân số nhanh hơn so với khu vực thành thị. Cầu lao động lại ít co
1919
giãn vì cơ cấu sản xuất nông thôn chậm thay đổi, các nguồn lực cho sản
xuất bị hạn chế.
nghiệp được giải phóng trở nên dư thừa và được các ngành khác thu hút,
sử dụng và hoạt động sản xuất - dịch vụ. Nhưng do tốc độ tăng tự nhiên
của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn tốc độ thu hút lao
động dư thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động nông
nghiệp mới giảm tương đối, số lượng lao động tuyệt đối còn tăng lên. Giai
đoạn này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế
của đất nước quyết định. Chúng ta có thể nhìn thấy hiện tượng này ở Việt
Nam hiện nay đó là hiện tượng có nhiều nông dân bỏ ruộng và đi làm các
việc phi nông nghiệp khác hoặc đi làm thuê với thu nhập cao hơn là làm
nông nghiệp.
- Giai đoạn thứ hai: Nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng
suất lao động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt
trình độ cao. Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã được ngành
khác thu hút hết. Vì thế giai đoạn này số lượng lao động ở nông thôn giảm
cả tương đối và tuyệt đối.Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản
xuất lương thực thực phẩm. Nước ta là một nước có truyền thống nông
nghiệp lâu đời dân số sông chủ yếu bằng nghề nông. Vì vậy, nguồn lao
động nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp là rất đông đảo. Cùng
với sự đi lên của nền kinh tế và sự gia tăng về dân số thì nhu cầu về lương
thực thực phẩm ngày càng gia tăng.Việc sản xuất lương thực thực phẩm
chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp và sức lao động để tạo ra
lương thực, thực phẩm là do nguồn lao động nông thôn cung cấp. Nền
kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, thunhập
của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm ngày
càng lớn và yêu cầu về chất lượng cũng ngày càng cao. Để có thể đáp ứng
2121
đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì nguồn lao động nông
thôn phải đượ cnâng cao về trình độ tay nghề và kinh nghiệm sản xuất.
Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến Nông – Lâm - Thuỷ sản. Công nghiệp chế
được của người lao động thông qua quá trình làm những hoạt động được
coi là việc làm trong quy định của nhà nước.
+ Thu nhập không chính đáng: Trái lại với thu nhập chính đáng thì
thu nhập không chính đáng là những khoản tiền hoặc hiện vật mà người
lao động nhận được thông qua làm những công việc bị ngăn cấm thì được
coi là thu nhập không chính đáng.
Ngoài ra, thu nhập còn chia theo hình thức việc làm của người lao
động như: Thu nhập bán thời gian, thu nhập hiệu quả, thu nhập đầy đủ
Ý nghĩa của thu nhập
Thu nhập có ý nghĩa rất lớn đối với công việc nói riêng và với người lao
động nói chung. Thu nhập là mức thang phần nào đánh giá và nói lên chất
lượng công việc. Một thu nhập cao thường là một công việc tốt và một thu
nhập không cao thường là những công việc ít được mong muốn.
Bên cạnh đó, thu nhập còn có ý nghĩa lớn đối với mức sản xuất,
hoạt động và chất lượng làm việc của người lao động. Mức thu nhập tốt sẽ
thúc đẩy và là động lực cao để người lao động cố gắng với công việc mình
làm và ngược lại, mức thu nhập thấp mà không tương xứng với công lao,
sức lực người lao động bỏ ra thì trước hết sẽ làm cho tinh thần người lao
động chán nản từ đó không có tâm huyết với nghề, chất lượng làm việc sẽ
thấp xuống.
Người lao động luôn muốn có được thu nhập cao trong công việc
mình làm. Chính vì vậy, ý nghĩa của thu nhập đối với việc chọn ngành,
chọn nghề của người lao động là rất lớn. Thu nhập có ý nghĩa rất lớn, thu
nhập thể hiện sự mong muốn về công việc của người lao động.
2323
Khái niệm thu nhập của lao động nông thôn
Với người lao động nông thôn, thu nhập có hai phần cơ bản:
- Thu nhập tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tiền công
do làm thuê.
- Các khoản hỗ trợ từ người thân, họ hàng, các khoản trợ cấp
không ổn định.
+ Trong nông thôn, thị trường lao động cũng thiếu tính ổn định do tính
thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Trong thời kỳ vụ, nhu cầu thuê lao động
tăng nhưng thuê nhân công vừa khó vừa phải trả tiền công cao. Ngược lại,
thời kỳ nhàn rỗi nhu cầu thuê lao động thấp, người nông dân không có
việc làm nên họ sẵn sàng làm thuê với mức tiền công thấp, thu nhập của
lao động nông thôn không ổn định thể hiện rõ ở những vùng sản xuất
thuần nông.
2.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động ở
nông thôn
Các nhân tố tự nhiên
Thu nhập của lao động nông thôn một phần rất lớn là thu từ nông
nghiệp, do đó các yếu tố về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất
nông nghiệp, từ đó ảnh hưởng lớn đến thu nhập của lao động nông thôn.
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên gồm:
Vị trí địa lý
Những vùng thuận lợi là những vùng gần các trung tâm đô thị, các
trung tâm kinh tế và văn hoá sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các
thông tin khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cũng
như mua sắm các tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, những vùng nông thôn sâu, cách xa các trung tâm kinh tế và
2525