tóm tắt luận an cơ sở khoa học về môi trường nước và thủy sinh vật để quản lý nguồn lợi thủy sản vùng ven biển sóc trăng- bạc liêu - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
MAI VIẾT VĂN
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC
VÀ THỦY SINH VẬT ĐỂ QUẢN LÝ
NGUỒN LỢI THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN
SÓC TRĂNG - BẠC LIÊU
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 62 62 03 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Cần Thơ, tháng 12 năm 2013
Công trình được hoàn thành tại Bộ môn Quản lý và Kinh tế Nghề cá,
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ.
Người hướng dẫn:
1. PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn
2. TS. Trần Đắc Định
3. GS.TS. Jacques Moreau
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường tại:
………………………………………………………………………
Vào lúc: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm học liệu – Đại học Cần Thơ
Thư viện Quốc gia Việt Nam
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Giới thiệu
Hệ sinh thái cửa sông từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu thuộc vùng
biển Đông Nam Bộ. Dọc theo vùng ven bờ có 4 cửa sông chính chảy ra

• Đánh giá sự biến động của một số chỉ tiêu môi trường và hiện
trạng nguồn lợi phiêu sinh vật, cá, tôm phân bố ở vùng ven
biển từ Sóc trăng đến Bạc Liêu, làm cơ sở khoa học để quản lý
1
môi trường, nguồn lợi và định hướng phát triển nuôi trồng
thủy sản.
• Xác định một số đặc điểm sinh học và mùa vụ sinh sản của
một số loài cá có sản lượng khai thác chiếm ưu thế tại vùng
ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu, làm cơ sở khoa học cho
việc quản lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản ở địa phương.
• Xây dựng các kịch bản quản lý nghề cá dựa trên cơ sở cân
bằng các mắc xích nguồn lợi thủy sinh vật bằng mô hình
Ecopath with Ecosim.
1.4 Nội dung nghiên cứu
• Xác định đặc tính môi trường nước và sinh vật phù du phân bố
ở vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu;
• Xác định thành phần loài cá, tôm phân bố ở vùng ven biển từ
Sóc Trăng đến Bạc Liêu;
• Phân tích đặc điểm sinh trưởng, phát triển tuyến sinh dục và
mùa vụ sinh sản của một số loài cá phân bố vùng ven biển từ
Sóc Trăng đến Bạc Liêu;
• Xây dựng mô hình cân bằng sinh khối thủy sinh vật vùng ven
biển từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu.
1.5 Những điểm mới và ý nghĩa thực tiễn của luận án
• Luận án đã đúc kết tương quan biến động các yếu tố môi
trường nước, qua đó ghi nhận các thời điểm cần quan tâm
quản lý trong năm ở vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc
Liêu, làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá chất lượng môi
trường phục vụ bảo vệ đời sống thủy sinh vùng ven biển.
• Luận án đã nghiên cứu và phân tích được chuỗi mắc xích thức

sinh thái.
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 2007 đến 2012. Phạm vi nghiên cứu
thuộc vùng biển ven bờ từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu (được giới hạn theo
kinh tuyến từ 105
o
46’E đến 106
o
18’E và giới hạn theo vĩ tuyến từ
8
o
55’N đến 9
o
21’N) với tổng diện tích là 4.286,41 km
2
. Đây là vùng
biển tương đối bằng phẳng, đặc biệt là vùng gần bờ. Độ sâu trung bình
13,76 m. Có 6 địa điểm thu mẫu (mỗi điểm cách nhau khoảng 30 km)
thuộc 2 vùng nghiên cứu gồm: Vùng 1 (3 điểm cách bờ 2-5 km); Vùng
2 (3 điểm cách bờ 35-40 km).
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Khảo sát đặc tính môi trường nước và biến động thành phần
phiêu sinh vật ở vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc liêu
3.2.1.1 Phương pháp thu, cố định và phân tích mẫu nước
Phương pháp thu và cố định mẫu
Các chỉ tiêu môi trường được thu vào kỳ nước cường (15-18 âm
lịch) hàng tháng. Chu kỳ thu mẫu 1 tháng/lần. Dùng bathomet có dung
3
tích 1 lít để lấy mẫu ở cột nước sâu 1-2 m cách mặt nước. Mẫu để phân

càng nhiều càng tốt. Sau khi lọc nước, mẫu thu được cho vào lọ
100 ml rồi cố định bằng Formol 2-4%.
- Thu mẫu định lượng: thu 1 lít nước (được lấy ở nhiều điểm),
không cố định mẫu, bảo quản lạnh và mang về phòng thí
nghiệm phân tích.
Phương pháp phân tích
Mẫu định tính: trước khi phân tích, lắc nhẹ lọ mẫu nhiều lần cho sinh
vật trộn đều trong nước, dùng ống nhỏ giọt lấy mẫu, cho vào lame 1-2
giọt, dùng lamelle đậy lại, rồi đem quan sát dưới kính hiển vi.
Định danh các giống loài tảo dựa vào tài liệu định loại của
Shirota (1966); Trương Ngọc An (1993); Taylor et al., (1995); Tomas
(1995); Carmelo R. Tom (1997); Steidinger (1997); Nguyễn Văn
Tuyên (2003); Larsen and Nguyen (2004); Nguyễn Ngọc Lâm và Đoàn
Như Hải (2009).
Đối chiếu các tên đồng nghĩa (synonym) và cập nhật các tên
được định danh dựa theo Guiry và Guiry (2012); Appeltans et al.,
(2012); Palomares và Pauly (2012).
Mẫu định lượng: phân tích hàm lượng chlorophyll-a bởi phương pháp
ly trích bằng acetone (Parsons et al., 1984). Dựa vào khả năng hấp thụ
ánh sáng của các loại sắc tố ở những bước sóng nhất định để xác định
hàm lượng của chúng có trong mẫu. Mẫu được ly tâm 15000 vòng/phút
4
ở 40
o
C trong 5 phút để thu sinh khối mẫu. Phần sinh khối này được bổ
sung 1 ml acetone vào ống eppendorf. Sau đó đem ly tâm 13000
vòng/phút ở 40
o
C trong 5 phút. Lấy dịch nổi và đo ở bước sóng 630
nm, 647 nm, 664 nm và 750 nm. Áp dụng công thức xác định hàm

công thức của Võ Văn Phú và Hoàng Đình Trung (2012):
No (cá thể /m
3
) = (C x V1 x 1000)/V2
Trong đó: No: số lượng ĐVPD (cá thể/m
3
)
C: số cá thể đếm được trên buồng đếm (theo nhóm ngành)
V1: thể tích nước mẫu còn lại sau khi lọc (mL)
5
V2: thể tích mẫu nước đã thu ban đầu (400L)
3.2.2 Khảo sát thành phần loài cá, tôm ở vùng nghiên cứu
3.2.2.1 Phương pháp thu và cố định mẫu
Mẫu được thu thập trong suốt năm 2008 với nhịp thu mẫu định
kỳ hàng tháng. Mẫu cá, tôm được thu từ 72 mẻ lưới kéo và được cân,
đo trực tiếp, ghi rõ thời gian, địa điểm thu mẫu, cố định trong formol
4%. Mẫu được phân tích định danh và lưu trữ tại phòng thí nghiệm
Khoa Thủy Sản-Đại Học Cần Thơ.
3.2.2.2 Hệ thống phân loại được sử dụng để định danh loài
Hệ thống phân loại được sử dụng từ cấp lớp, bộ và họ dựa theo
hệ thống phân loại của Lindberg (1974) “Cá Thế Giới”; Cấp giống loài
chủ yếu dựa vào Weber và Beaufort (1936); Holthuis (1980); Yu và
Tin (1986); Somnuk và Mala (1992); Nguyễn Khắc Hường (1991,
1992, 1993a, 1993b, 2001); Nguyễn Nhật Thi (1991, 2000). Nguyễn
Văn Chung và ctv., (2000); Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải
(2001); Nguyễn Văn Thường (2006).
Các tên gọi tiếng Việt được sử dụng dựa theo tài liệu “Tên các
loài cá có giá trị kinh tế ở Miền Tây Thái Bình Dương” (1964) và
“Danh mục cá biển Việt Nam” do Nguyễn Hữu Phụng (1994a, 1994b,
1995, 1997, 1999, 2001) chủ biên; Đối chiếu các tên đồng nghĩa

W
Trong đó: W là khối lượng thân cá (gram); L là chiều dài tổng của cá
(cm); b là hệ số tăng trưởng được xác định thông qua phương trình hồi
quy: W = aL
b
(với a là hệ số tăng trưởng).
Các giai đoạn thành thục sinh dục và sức sinh sản của cá
i) Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục của cá được quan
sát trực tiếp bằng mắt thường kết hợp với việc sử dụng kính lúp và dựa
theo thang 6 bậc của Nikolsky (1963). Những cá thể chưa thành thục
được xếp chung vào một giai đoạn I-II.
ii) Hệ số thành thục (GSI) được xác định theo công thức của
Holden và Raitt (1974).
GSI (%) = (W
g
/ W
n
) x 100
Trong đó: W
g
là khối lượng tuyến sinh dục (gram); W
n
là khối lượng
thân không nội quan (gram).
iii) Sức sinh sản tuyệt đối (F) được xác định theo công thức của
Bagenad (1967) (Được trích dẫn bởi Biswas, 1993):
F (trứng/cá thể) =
g
n.G
Trong đó: G là khối lượng buồng trứng (gram); n là số lượng trứng giai

Sóc Trăng đến Bạc Liêu
TT Nhóm loài chức
năng khai thác
TT Nhóm loài chức
năng khai thác
1 Cá ăn mồi sống (cá dữ) 6 Cá tạp
2 Cá thu (cá nổi lớn) 7 Tôm
3 Cá ăn đáy 8 Cua
4 Cá sống tầng đáy 9 Mực
5 Cá nổi nhỏ
Cấu trúc của chuỗi thức ăn vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc
Liêu được trình bày qua Bảng 3.2.
Bảng 3.2: Cấu trúc chuỗi thức ăn vùng nghiên cứu
TT Nhóm loài chức năng TT Nhóm loài chức năng
1 Cá ăn mồi sống (cá dữ) 8 Cua
2 Cá thu (cá nổi lớn) 9 Mực
3 Cá ăn đáy 10 Sinh vật đáy khác
4 Cá sống tầng đáy 11 Động vật phù du
5 Cá nổi nhỏ 12 Thực vật phù du
6 Cá tạp 13 Tảo đáy
7 Tôm 14 Mãnh vụn hữu cơ
8
Định danh các nhóm loài chức năng dựa vào tài liệu của các tác
giả như Holthuis (1980); Ping và Chan (1986); Nguyễn Khắc Hường
(1991, 1992, 1993a, 1993b, 2001); Cahitiam và Suponpan (1992);
Nguyễn Nhật Thi (1991, 2000); Nguyễn Văn Chung và ctv., (2000);
Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) và Nguyễn Văn Thường
(2006). Các tên gọi tiếng Việt được sử dụng trong báo cáo dựa theo tài
liệu của Nguyễn Hữu Phụng (1994a, 1994b, 1995, 1997, 1999, 2001).
Đối chiếu các đồng danh (Synonyms) và cập nhật các tên được định

Spotted maigre cá đù
9
Arius thalassinus cá úc thường
5 Cá nổi nhỏ Harpodon nehereus cá khoai
Pampus argenteus cá chim trắng
Formio niger cá chim đen
Decapterus maruadsi cá nục sò
Atule mate cá ngân
6 Cá tạp Leiognathus splendens cá liệt xanh
Coilia grayii cá mào gà trắng
Rastrelliger brachysoma cá ba thú
Selaroides leptolepis cá chỉ vàng
Cynoglossa lingua cá lưỡi trâu
7 Tôm Parapenaeopsis cultrirostris tôm sắt rằn
Parapenaeopsis hardwickii tôm sắt cứng
Parapenaeopsis hungerfordi tôm sắt hoa
Metapenaeus tenuipes tôm bạc
Metapenaeus affinis tôm chì
Metapenaeopsis barbata tôm vỏ long
Fenneropenaeus merguiensis tôm thẻ
Penaeus monodon tôm sú
8 Cua Portunus pelagicus ghẹ xanh
Callappa pelagicus ghẹ đỏ
Portunus sangui ghẹ 3 chấm
9 Mực Sepioteuthis lessoniana mực lá
Sepia inermis mực nang
Loligo sp. mực ống
Octopus ocelatus bạch tuột
Thành phần thức ăn của các nhóm chức năng trong mô hình
Ecopath vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu được ước tính dựa

2
0,0
1
8 Cua 0,02 0,0
1
0,0
1
0,0
1
9 Mực 0,06 0,0
8
0,0
1
0,0
1
10 Sinh vật đáy khác 0,12 0,1
2
0,3
5
0,3
2
0,1
0
0,2
0
0,2
0
0,1
0
0,0

8
0,7
5
0,0
5
0,9
0
13 Tảo đáy 0,2
5
0,1
7
0,1
0
0,3
0
0,6
3
14 Mãnh vụn hữu cơ 0,0
3
0,2
5
0,1
0
0,0
1
0,3
5
0,3
9
0,0

thác). Theo Sparre và Venema (1992) hệ số tử vong tổng số Z=F+M
(với M là hệ số tử vong tự nhiên). Giả sử hệ số tử vong do khái thác
F=0,5 (tức M=0,5), khi đó mức tử vong tổng số (Z) được tính như sau:
Z=F+M=2F hay F=Z/2. Trong nghiên cứu này hệ số Z của các nhóm
cá, tôm và mực được ước tính theo kết quả nghiên cứu của Dinh et al.,
(2010), Dinh et al., (in press) và Nguyễn Lâm Anh và ctv., (1997).
Tóm tắt các kết quả ước tính sinh khối của các nhóm chức năng khai
thác được trình bày qua Bảng 3.5.
Bảng 3.5: Sản lượng và sinh khối của các nhóm loài chức năng khai thác
Nhóm loài
chức năng
Sản lượng P
(tấn.km
-2
.năm
-1
)
Hệ số tử
vong tổng số
Z (năm
-1
)
Hệ số tử
vong do
khai thác
F= Z/2
(năm
-1
)
Sinh khối

và ctv., (2007), Nguyễn Tác An và Hoàng Trung Du (2009) (Bảng
3.6).
Giá trị Q/B của các nhóm chức năng được ước tính như kết quả
nghiên cứu mô hình tương tự của Silvestre et al., (1993) và Sissenwine
et al., (1984) (Bảng 3.6).
Ảnh hưởng tổng hợp của các mắt xích trong chuỗi thức ăn của
mô hình Ecopath trong vùng nghiên cứu được phân tích dựa theo
phương pháp của Ulanowicz và Puccia (1990).
Bảng 3.6: Các thông số cơ bản của mô hình Ecopath
TT Nhóm loài
chức năng
Sinh
khối B
tấn.km
-2
P/B
năm
-1
Q/B
năm
-1
EE
không
đơn vị
P/Q
không
đơn vị
1 Cá ăn mồi sống 0,170 0,75 2,25 0,772 0,333
2 Cá thu 0,017 2,00 20 0,812 0,100
3 Cá ăn đáy 0,313 1,25 10,5 0,648 0,119

cá tại tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu, nên tỷ lệ sản lượng các nhóm loài
khai thác tại vùng nghiên cứu đã được xem như không thay đổi và có
giá trị tương đương với giá trị của năm 2005.
Bảng 3.7: Tỷ lệ (%) các nhóm loài khai thác từ năm 2000 đến 2015
Nhóm loài\Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Cá ăn mồi sống 1,47 2,37 1,96 2,91 3,60 3,58 3,58 3,58
Cá thu 0,39 0,61 0,78 2,12 2,52 2,42 2,42 2,42
Cá ăn đáy 4,49 7,41 8,42 9,50 6,92 6,32 6,32 6,32
Cá sống tầng đáy 23,70 29,80 27,52 22,52 27,53 26,74 26,74 26,74
Cá nổi nhỏ 1,66 1,82 1,96 3,00 4,15 3,83 3,83 3,83
Cá tạp
13,3
7
11,4
3 5,21 5,73 7,62 7,85 7,85 7,85
Tôm
36,6
4 32,66 29,18 29,92 26,64 27,11 27,11 27,11
Cua 4,19 2,98 7,33 8,30 8,31 7,86 7,86 7,86
Mực
14,0
9
10,9
4 17,65 16,00 12,72 14,28 14,28 14,28
Nhóm loài\Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
13
Cá ăn mồi sống 3,58 3,58 3,58 3,58 3,58 3,58 3,58 3,58
Cá thu 2,42 2,42 2,42 2,42 2,42 2,42 2,42 2,42
Cá ăn đáy 6,32 6,32 6,32 6,32 6,32 6,32 6,32 6,32
Cá sống tầng đáy 26,74 26,74 26,74 26,74 26,74 26,74 26,74 26,74

thu

ăn
đáy

sống
tầng
đáy

nổi
nhỏ

tạp
Tôm Cua Mực
2000
1,00 0,06 0,02 0,20 1,04 0,07 0,59 0,62 1,60 0,18
2001
1,06 0,10 0,03 0,32 1,29 0,08 0,49 0,47 1,41 0,13
2002
0,97 0,11 0,04 0,47 1,53 0,11 0,29 0,98 1,62 0,41
2003
0,95 0,16 0,11 0,51 1,20 0,16 0,30 0,85 1,59 0,44
2004
1,22 0,19 0,13 0,37 1,46 0,22 0,40 0,67 1,41 0,44
2005
1,23 0,23 0,16 0,41 1,74 0,25 0,51 0,93 1,76 0,51
2006
1,24 0,23 0,16 0,41 1,75 0,25 0,51 0,93 1,77 0,51
2007
1,22 0,27 0,19 0,48 2,05 0,29 0,60 1,09 2,08 0,60

Phân tích, đánh giá hiện trạng và dự báo về mô hình cân bằng
sinh khối thủy sinh vật vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu bởi
phần mềm Ecopath with Ecosim (6.3).
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc tính môi trường nước và sinh vật phù du vùng ven biển từ
Sóc Trăng đến Bạc Liêu
4.1.1 Đặc tính môi trường nước
4.1.1.1 Biến động nhiệt độ nước mặt qua các tháng thu mẫu
Kết quả khảo sát cho thấy nhiệt độ trung bình của nước mặt toàn
vùng nghiên cứu là 30,78±1,18
o
C (28,10-32,90
o
C). Nhiệt độ cao vào
thời điểm tháng 3 và tháng 4, giảm vào đầu mùa mưa (tháng 5) và ổn
định cho tới tháng 8 (các tháng mùa mưa). Thời điểm nhiệt độ thấp
trong năm là tháng 01 và tháng 12, nhiệt độ ở mức thấp hơn mức trung
bình kéo dài từ tháng 10 đến tháng 01 năm sau. Biến động nhiệt độ
trung bình của Vùng 1 là 30,93
o
C và Vùng 2 là 30,64
o
C. Kết quả phân
tích thống kê cho thấy không có sự khác biệt về nhiệt độ trung bình
giữa Vùng 1 và Vùng 2 (p>0,05).
4.1.1.2 Biến động độ mặn nước mặt
Độ mặn nước mặt trung bình ở toàn vùng nghiên cứu là 24,24 ±
7,75 ppt (6,00-33,00 ppt). Kết quả khảo sát cho thấy độ mặn ở vùng
15

Vùng 1 và Vùng 2 là 4,58±1,61 mg/L và 4,01±1,45 mg/L. Không có sự
khác biệt về hàm lượng BOD5 trung bình giữa Vùng 1 và Vùng 2
(p>0,05). Tuy nhiên, có sự khác biệt (p<0,05) về hàm lượng BOD giữa
mùa mưa (3,98±1,96 mg/L) và mùa khô (4,61±0,88 mg/L).
4.1.1.6 Biến động tổng vật chất lơ lửng (TSS)
Hàm lượng TSS trung bình ở vùng nghiên cứu là 75,19±38,43
mg/L (9,08-169,80 mg/L). Tổng chất rắn lơ lửng ở mức thấp từ tháng
16
01 đến tháng 05, ở mức cao từ tháng 06 đến tháng 12 đặc biệt là những
tháng mùa mưa. Tổng vật chất lơ lửng thấp trong mùa khô từ tháng 1-
5. Biến động hàm lượng TSS trung bình ở Vùng 1 và Vùng 2 là
81,51±36,96 mg/L và 68,87±39,33 mg/L. Không có sự khác biệt về
hàm lượng TSS trung bình giữa Vùng 1 và Vùng 2 (p>0,05). Tuy
nhiên, có sự khác biệt thống kê (p<0,05) giữa hàm lượng TSS vào mùa
mưa (61,32±36,50 mg/L) và mùa khô (89,06±35,61 mg/L).
4.1.1.7 Biến động vật chất hữu cơ lơ lửng (OSS)
Hàm lượng OSS trung bình ở vùng nghiên cứu là 15,04±9,23
mg/L (2,30-47,13 mg/L). Vật chất hữu cơ lơ lửng ở vùng nghiên cứu
biến động ở mức cao nhất vào tháng 04, thấp nhất từ tháng 05 đến
tháng 08, từ tháng 09 hàm lượng OSS bắt đầu tăng dần đến tháng 01
năm sau. Biến động hàm lượng OSS trung bình ở Vùng 1 và Vùng 2 là
15,27±8,93 mg/L và 14,81±9,64 mg/L. Không có sự khác biệt về hàm
lượng OSS trung bình giữa Vùng 1 và Vùng 2 (p>0,05). Tuy nhiên, có
sự khác biệt thống kê (p<0.05) giữa hàm lượng OSS ở mùa mưa
(9,35±4,23 mg/L) và mùa khô (20,73±9,39 mg/L).
4.1.1.8. Biến động hàm lượng P-PO
4
3-

Hàm lượng P-PO

là 0,05±0,02 mg/L (0,01-0,15 mg/L). Biến động hàm lượng TAN ở
mức thấp diễn ra trong suốt mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04 năm
sau, ngược lại vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 thì hàm lượng
TAN trong thủy vực cao hơn. Biến động hàm lượng TAN trung bình ở
Vùng 1 và Vùng 2 là 0,05±0,03 mg/L và 0,05±0,03 mg/L. Hàm lượng
TAN trung bình vào mùa mưa là 0,05±0,02 mg/L và mùa khô là
0,06±0,03 mg/L. Không có sự khác biệt (p>0,05) về hàm lượng TAN
trung bình giữa Vùng 1 và Vùng 2 và giữa mùa mưa và mùa khô.
17
Hàm lượng NH
3
trung bình ở toàn vùng nghiên cứu là
0,005±0,003 mg/L (0,001-0,016 mg/L). Hàm lượng NH
3
trung bình
vào mùa mưa và mùa khô lần lượt là 0,007±0,003 mg/L và
0,003±0,001 mg/L. Biến động hàm lượng NH
3
trung bình cao nhất vào
tháng 8 và thấp nhất vào tháng 2 trong năm. Hàm lượng NH
3
trung
bình ở Vùng 1 và Vùng 2 có giá trị không khác nhau (0,005±0,003
mg/L). Hàm lượng NH
3
trung bình vào mùa mưa khác biệt có ý nghĩa
so với mùa khô (p<0,05).
4.1.1.10 Biến động hàm lượng SiO
2
qua các tháng thu mẫu

loài (0,43%). Biến động thành phần loài TVPD theo mùa không lớn.
Vào mùa mưa có 198 loài (chiếm 85,34% tổng số loài cả năm), cao
hơn mùa khô là 174 loài chiếm 75%. Ngành tảo khuê chiếm ưu thế ở
cả hai mùa với số lượng loài là 149 loài (mùa mưa) và 133 loài (mùa
khô). Trong 232 loài TVPD đã ghi nhận được tại vùng nghiên cứu năm
2008 có 06 loài tiết độc tố (Dinophysis miles, Dinophysis tripos,
Pseudo-nitzschia delicatissima, Pseudo-nitzschia pungens,
Chaetoceros curvisetus, Chaetoceros debilis) và 09 loài có khả năng
gây hại đối với động vật thủy sản (Chaetoceros convolutus,
Neoceratium furca, Neoceratium fusus, Neoceratium macroceros,
Ceratium hirundinella, Neoceratium tripos, Diatoma tenuis,
Pediastrum biradiatum, Prorocentrum micans). Biến động hàm lượng
18
Chlorophyll-a: Hàm lượng Chlorophyll-a trung bình ở vùng nghiên
cứu là 11,75±0,76 µg/L (dao động từ 0,18 đến 3,72 µg/L). Hàm lượng
chlorophyll-a biến động ở mức cao hơn giá trị trung bình từ tháng 1
đến tháng 4, thời gian còn lại trong năm (từ tháng 5 đến tháng 12) hàm
lượng chlorophyll-a dao động ở mức thấp hơn giá trị trung bình, thấp
nhất vào tháng 10 đạt 0,18 µg/L. Phân tích thống kê cho thấy không có
sự khác biệt (p>0,05) về hàm lượng chlorophyll-a trung bình giữa
Vùng 1 (1,84±0,08 µg/L) và Vùng 2 (1,66±0,72 µg/L). Điều đó cho
thấy sự chênh lệch về phân bố mật độ thực vật phù du không khác biệt
trong toàn vùng nghiên cứu. Tuy nhiên, hàm lượng chlorophyll-a lại
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa mùa mưa (1,24±0,49
mg/L) và mùa khô (2,26±0,63 mg/L).
4.1.2.2 Động vật phù du (ĐVPD)
Đã tìm thấy 246 loài ĐVPD phân bố ở vùng ven biển từ Sóc
Trăng đến Bạc Liêu. Trong đó, nhóm giáp xác chân mái chèo
(Copepoda) có số loài phong phú nhất (105 loài, chiếm 42,68%), kế
đến là nguyên sinh động vật (Protozoa) có 58 loài, chiếm 23,58%; luân

Mysidace và Nauplius tương quan với Nhiệt độ.
4.2 Đặc điểm thành phần loài và tính chất khu hệ cá, tôm phân bố
vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu
19
4.2.1 Cấu trúc thành phần loài cá, tôm
Đã xác định được 239 loài cá thuộc 68 họ, 146 giống trong 18 bộ
khác nhau, trong đó bộ cá vược (Perciformes) có số lượng loài nhiều
nhất, với 126 loài (chiếm 52,72%), trong đó họ cá khế (Carangidae) là
họ có số lượng thành phần loài phong phú nhất. Xếp thứ hai là bộ cá
trích (Clupeiformes) với 27 loài (chiếm 11,29%). Bộ cá bơn
(Pleuronectiformes) có 18 loài (7,53%). Bộ cá mù làn
(Scorpaeniformes) có 12 loài (5,02%). Bộ cá nóc (Tetraodontiformes)
có 12 loài (5,02%). Bộ cá đối (Mugiliformes) có 9 loài (3,76%). Bộ cá
chình (Anguilliformes) có 8 loài (3,35%). Bộ cá nheo (Siluriformes) có
8 loài (3,35%). Các bộ cá còn lại có từ 1 đến 6 loài (<2,51%). Khu hệ
tôm phân bố vùng ven biển từ Sóc Trăng đến Bạc Liêu gồm có 26 loài,
thuộc 13 giống, 6 họ, 2 bộ. Trong đó họ tôm he (Penaeidae) có 19 loài
(chiếm 76% so với tổng các loài trong bộ mười chân), hầu hết các loài
tôm này đều là loài có giá trị kinh tế. Mức độ đa dạng giống tôm phân
bố ở vùng biển Sóc Trăng-Bạc Liêu theo thứ tự như sau: Metapenaeus
> Parapenaeopsis > Metapenaeopsis, Fenneropenaeus, Penaeus, Acetes
> Melicertus, Marsupenaeus, Alpheus, Scyllarus, Thenus,
Exopalaemon, Anchisquilla.
4.2.2 So sánh thành phần loài của khu hệ cá, tôm phân bố vùng
ven biển Sóc Trăng-Bạc Liêu và các vùng nghiên cứu khác
Sự đa dạng thành phần loài cá, tôm theo các vùng địa lý khác
nhau của vùng ven biển Việt Nam được thể hiện rõ qua kết quả được
trình bày ở Bảng 4.10 và Bảng 4.11:
Bảng 4.10: Đa dạng thành phần loài cá ở vùng cửa sông ven biển
TT Vùng nghiên cứu Số loài đã

khu vực địa lý tự nhiên khác nhau của vùng biển Việt Nam cho thấy
hầu hết các loài là loài nhiệt đới Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương có diện
phân bố rộng, nên sự khác biệt về thành phần giống loài nhất là khu
vực gần bờ không lớn. Kết quả khảo sát nguồn lợi tôm phân bố ở vùng
biển Sóc Trăng-Bạc Liêu không bắt gặp các loài có nguồn gốc phương
bắc (nhóm loài Trung Hoa-Nhật Bản) xâm nhập xuống phía Nam như:
Penaeus orientalis, Metapenaeus joyneri, Metapenaeopsis dalei,
Solenocera koelbeli.
21
Bảng 4.11: Đa dạng thành phần loài tôm ở các vùng ven biển
TT Vùng nghiên cứu Số loài
phát hiện
Tác giả Số loài trùng
lặp với nghiên
cứu này
1 Ven biển Sóc Trăng-
Bạc Liêu
26 Nghiên cứu này -
2 Ven biển miền Trung
Việt Nam
29 Tôn Thất Chất
và ctv., (2008)
14
3 Ven biển tỉnh Quảng
Ngãi
33 Nguyễn Văn
Thuận (2008)
15
4 Ven biển Đồng bằng
sông Cửu Long

vào tháng 2 và tháng 8 trong năm. Sức sức sinh sản tuyệt đối của cá đù
bạc dao động từ 7.055 đến 82.855 trứng và sức sinh sản tương đối của
cá từ 108 đến 417 trứng/g cá cái. Cá Nục sò sinh sản vào tháng 05 và
22
tháng 09 trong năm. Sức sinh sản tuyệt đối dao động khoảng 16.680-
102.980 trứng, sức sinh sản tương đối dao động khoảng 147-844
trứng/g cá cái. Cá Ngân sinh sản chủ yếu từ tháng 06 đến tháng 10
trong năm. Sức sức sinh sản tuyệt đối của cá ngân dao động từ 16.397
trứng đến 236.747 trứng, sức sinh sản tương đối dao động khoảng 165-
842 trứng/g cá cái. Cá tráo mắt to sinh sản tập trung chủ yếu vào 02
đợt là tháng 05 và tháng 11 trong năm. Sức sinh sản tuyệt đối dao động
khoảng 14.571-128.278 trứng. Sức sinh sản tương đối từ 211 đến 432
trứng/g cá cái.
4.4. Xây dựng mô hình cân bằng sinh khối thủy sinh vật và đánh
giá tình hình khai thác nguồn lợi thủy sản tại vùng biển từ Sóc
Trăng đến Bạc Liêu
4.4.1 Xây dựng mô hình cân bằng sinh khối thủy sinh vật
Kết quả phân tích mô hình Ecopath ở vùng nghiên cứu cho thấy
tổng sinh khối của các nhóm chức năng khai thác (cá ăn mồi sống, cá
nổi nhỏ, cá thu, cá tạp, tôm, cua, mực, cá sống tầng đáy và cá ăn đáy)
là 3,99 tấn.km
-
², giá trị này thấp hơn sinh khối của các nhóm chức năng
được khai thác ở vùng duyên hải của Sri Lanka: 5,1 tấn.km
-2
(Haputhantri et al., 2007); của vịnh Thái Lan: 4,5 tấn.km
-2
(Christensen, 1999); của vùng cửa sông Châu Giang Trung Quốc: 7,16
tấn.km
-2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status