BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI NGUYỄN NGỌC LONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH VĨNH PHÚC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ: 60 - 58 - 03 - 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ VĂN HÙNG
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Long
1.4.2. Thùc tiÔn c«ng t¸c ®Êu thÇu t¹i ViÖt Nam trong nh÷ng n¨m qua 12
1.4.3 Những tồn tại ảnh hưởng tới công tác đấu thầu xây dựng 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 27
2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Vĩnh Phúc 27
2.2. Tình hình đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. 30
2.3. Tình hình quản lý công tác đấu thầu xây dựng các công trình trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc. 32
2.3.1 Thực trạng đấu thầu Công trình: Nâng cấp hồ Mé Sau, xã Đồng Tĩnh, huyện
Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. 33
2.3.2 Cải tạo trục tiêu Cầu Rong đoạn từ cống Măng Đa đến cống qua đê Phú Thụ,
xã Liên Hòa huyện Lập Thạch. 36
2.3.3. Thực trạng đấu thầu gói thầu 01 Công trình hồ chứa nước Bản Long 40
2.4 Những đánh giá chung về chất lượng công tác quản lý đấu thầu trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc. 43
2.4.1 Những kết quả đạt được 43
2.4.1.1 Về thực hiện chính sách: 43
2.4.1.2 Về phân cấp trong đấu thầu: 43
2.4.1.3 Về đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động đấu thầu: 44
2.4.1.4 Về công tác thanh tra, kiểm tra về đấu thầu: 44
2.4.2. Những tồn tại cần khắc phục 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY
LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 48
3.1 Mục đích và nguyên tắc đề xuất các giải pháp 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 3.1: Thống kê ý kiến điều tra các biện pháp nâng cao chất lượng đấu thầu . . 57
Hình 2.1: Thi công mái đập hồ Bản Long 40 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2007 – 2011. 30
Bảng 2.2: Số liệu kiên cố hóa kênh thực hiện Nghị quyết 08/2007/NQ-HĐND tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 2007 - 2010 (Đơn vị : km ) 32
Bảng 2.3: Tổng hợp thông tin về 03 HSDT công trình Nâng cấp hồ Mé Sau. 33
Bảng 2.4: Đánh giá hồ sơ dự thầu về mặt kỹ thuật 34
Bảng 2.5: Đánh giá hồ sơ dự thầu thông qua giá bỏ thầu 36
Bảng 2.6: Đánh giá về mặt kỹ thuật các hồ sơ dự thầu: 38
Bảng 2.7: Kết quả đánh giá các nhà thầu 39
Bảng 2.8: Tổng hợp giá dự thầu, thư giảm giá và giá dự thầu sau giảm giá của các
nhà thầu. 41
ICB Đấu thầu cạnh tranh quốc tế
IDA Hiệp hội phát triển Quốc tế
NĐ-CP Nghị định Chính phủ
NN và PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
ODA Viện trợ phát triển chính thức
PGS.TS Phó Giáo sư, Tiến sỹ
QĐ Quyết định
QĐ-CT Quyết định Chủ tịch
QH11 Quốc hội khóa 11
QLDA Quản lý dự án
TT-BKH Thông tư-Bộ Kế hoạch
TT-BXD Thông tư-Bộ Xây dựng
TTg Thủ tướng
UBND Ủy ban Nhân dân
USD Đô la Mỹ
VAT Thuế Giá trị gia tăng
VNĐ Việt Nam đồng
WB Ngân hàng Thế giới
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới chịu ảnh
hưởng nặng nề về biến đổi khí hậu. Chính vì vậy để giảm nhẹ những ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu, cần phải có những biện pháp phòng tránh, khắc phục. Sử dụng các
công trình thủy lợi để phòng tránh và khắc phục hậu quả của biến đổi khí hậu toàn
cầu cũng là một trong những biện pháp không chỉ Việt Nam mà các quốc gia trên
thế giới đang sử dụng. Công trình thủy lợi có vai trò to lớn trong ứng phó với biến
đổi khí hậu. Nhằm quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi cần phải có
những công tác kiểm soát chặt chẽ. Trong đó công tác lựa chọn nhà thầu đủ điều
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đấu thầu
xây dựng công trình thủy lợi đứng trên góc độ chủ đầu tư đăt trong mối liên hệ với
thể chế quản lý Nhà nước, các nhà thầu. Chất lượng đấu thầu công trình thủy lợi là
một khách thể nghiên cứu khách quan, được xem xét trên những góc độ khác nhau,
và sẽ được hiểu theo những cách khác nhau dưới ảnh hưởng của các nhân tỏ khách
quan và chủ quan. Luận văn sẽ xem xét chất lượng đấu thầu trên góc độ chủ đầu tư,
người được trao trọng trách quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình với mong muốn
thực hiện dự án đó một các hiệu quả nhất, chất lượng nhất, khác quan và công bằng
nhất đảm bảo tiến độ đề ra.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động
đấu thầu xây dựng các công trình thủy lợi và chất lượng đấu thầu các công trình thủy
lợi đứng trên góc độ chủ đầu tư. Xây dựng công trình thủy lợi là một đối tượng bao
gồm nhiều lĩnh vực như xây dựng hồ chứa, đê, kè chắn sóng, trạm bơm tưới-tiêu
thoát nước, cải tạo hệ thống tiêu. Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động đấu thầu
xây dựng các công trình hồ chứa nước, cải tạo hệ thống tiêu trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc. Hơn thế nữa, luận văn cũng tập trung nghiên cứu hoạt động đấu thầu như là
một quá trình từ khi chuẩn bị, lập kế hoạch đấu thầu cho đến khi công bố kết quả đấu
thầu, thương thuyết với nhà thầu để ký kết hợp đồng thực hiện gói thầu. Các vấn đề
trước và sau quá trình này sẽ không phải là trọng tâm nghiên cứu của luận văn. Tuy
nhiên, để đẩm bảo tính khoa học của luận văn, luận văn cũng xem xét đến các yếu tố
trước và sau quá trình đấu thầu ở một mức độ phù hợp với quy mô luận văn.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đề tài nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng công trình thông qua công tác
đấu thầu
6. Kết quả dự kiến đạt được:
Đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đấu thầu trong xây
dựng công trình thủy lợi tại Vĩnh Phúc nói riêng, các công trình xây dựng nói chung.
3
4
2005 và sửa đổi bổ sung năm 2009 được Quốc hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009
tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII:
“Dự án” là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc
nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên
nguồn vốn xác định. Dự án bao gồm dự án đầu tư và không có tính chất đầu tư.
“Bên mời thầu” là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp
của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu.
“Người có thẩm quyền” là người được quyền quyết định dự án theo quy định của
pháp luật. Đối với các dự án có sự tham gia vốn nhà nước của doanh nghiệp nhà nước từ
30% trở lên, trừ các dự án sử dụng 100% vốn nhà nước, thì người có thẩm quyền là Hội
đồng quản trị hoặc đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia góp vốn.
Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở
hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án
Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh
nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp
luật về đấu thầu.
“Nhà thầu” là tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài có năng lực pháp
luật dân sự, đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để ký kết và thực
hiện hợp đồng. Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp; là nhà cung cấp
hàng hoá trong đấu thầu mua sắm hàng hoá; là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn
tư vấn; là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư.
“Gói thầu” là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án được phân
chia theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô hợp lý để bảo
đảm tính đồng bộ của dự án. Trong trường hợp mua sắm, gói thầu có thể là một loại
đồ dùng trong thiết bị hoặc phương tiện. Gói thầu được thực hiện theo một hoặc
nhiều hợp đồng (gói thầu được chia thành nhiều phần)
“Xây lắp” là những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các
công trình, hạng mục công trình.
6
♦ Tổng kết, đánh giá, báo các tình hình đấu thầu và thực hiện Quy chế
Đấu thầu.
♦ Giải quyết các vướng mắc, khiếu nại về đấu thầu.
♦ Quản lý hệ thống thông tin về đấu thầu.
♦ Quản lý hệ thống dữ liệu thông tin về Nhà thầu.
♦ Thực hiện kiểm tra, thanh tra về đấu thầu và việc thực hiện hợp đồng
(đã ký giữa chủ đầu tư và Nhà thầu).
Trên đây chỉ là một số nội dung mà các cơ quan Nhà nước quản lý về đấu
thầu. ngoài các quy định trên thì các nội dung khác theo sự thoả thuận của các bên
trong đấu thầu. Điều này đảm bảo sự tự do trong đấu thầu cho các bên.
1.2.2. Chất lượng quản lý công tác đấu thầu
Muốn cho chất lượng công trình đạt được tiêu chí, mục đích sử dụng, ta cần
phải lựa chọn nhà thầu đủ năng lực thông qua công tác đấu thầu. Để làm được việc
đó thì chất lượng công tác đấu thầu cần phải được nâng cao, được quản lý chặt chẽ
từ những giai đoạn lập hồ sơ mời thầu, thành lập các tổ chuyên gia đấu thầu và giai
đoạn tổ chức đấu thầu.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư sẽ lựa chọn được các nhà thầu có khả năng
đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật, chất lượng, tiến độ đặt ra của công
trình. Trên cơ sở đó giúp cho chủ đầu tư vừa sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vốn đầu tư,
đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng cũng như tiến độ công trình.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư cũng sẽ nắm bắt được quyền chủ động,
quản lý có hiệu quả và giảm thiểu được các rủi ro phát sinh trong quá trình thực
hiện dự án đầu tư do toàn bộ quá trình tổ chức đấu thầu và thực hiện kết quả đấu
thầu được tuân thủ chặt chẽ theo quy định của pháp luật và sau khi chủ đầu tư đã có
sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ về mọi mặt.
- Để đánh giá đúng các hồ sơ dự thầu đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện
công tác đấu thầu của chủ đầu tư phải tự nâng cao trình độ của mình về các mặt nên
việc áp dụng phương thức đấu thầu còn giúp cho chủ đầu tư nâng cao trình độ và
to lớn, còn ở Việt Nam hình thức này còn rất mới. Để tạo ra môi trường pháp lý
nhằm tăng cường hiệu quả của hình thức đấu thầu, cùng với việc tổ chức thực hiện,
8
các văn bản có tính quy chế được xây dựng, bổ sung và sửa đổi ngày càng hoàn
thiện hơn.
- Đầu những năm 1990, trong các văn bản quản lý đầu tư xây dựng đã
xuất hiện “ Quy chế đấu thầu trong xây dựng” nhưng chưa rõ ràng.
- Tháng 3/1994- Bộ Xây dựng ban hành “ Quy chế đấu thầu xây lắp”
(Quyết định số 06/BXD-VKT thay cho Quyết định số 24/BXD-VKT trước đây).
Đây là văn bản được coi là Quy chế đấu thầu đầu tiên, theo đó quy định tất cả công
trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước đều phải thực hiện đấu thầu.
- Đến ngày 16/4/1994, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 183
TTg. Theo Quy chế này, các dự án dùng vốn Nhà nước (bao gồm Ngân sách cấp,
vốn vay, vốn viện trợ, vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp) đều phải qua đấu thầu,
kết quả đấu thầu có vốn đầu tư trên 10 triệu USD phải thông qua Hội đồng xét thầu
quốc gia thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và phê duyệt.
- Năm 1996, Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định
số 43/NĐ-CP ngày 16/7/1996. Văn bản này mang tính pháp lý cao hơn và phạm vi
điều chỉnh rộng hơn, theo đó, “gói thầu” lần đầu tiên đã trở thành đối tượng quản lý
của công tác đấu thầu. Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ đã được thay thế bằng
Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và Nghị định này đã được bổ sung, sửa đổi
bởi Nghị định số 14/NĐ-CP ngày 5/5/2000. Từ năm 1999 đến năm 2003, công tác
đấu thầu được điều chỉnh chủ yếu bằng Nghị định số 88/NĐ-CP và Nghị định số
14/NĐ-CP, so với cơ chế cũ thì nhiều vấn đề đã sáng tỏ hơn, phương pháp đánh giá
để đấu thầu đã khoa học hơn, chuẩn mực hơn
- Nền kinh tế ngày càng phát triển, yêu cầu đặt ra với đấu thầu ngày càng
cao. Để đáp ứng các yêu cầu đó, năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
66/NĐ-CP ngày 12/6/2003 sửa đổi bổ sung Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định
số 88/NĐ-CP và Nghị định số 14/NĐ-CP. Với 45% số điều bổ sung Nghị định
tổng hợp làm những bài học cho hoạt động đấu thầu xây dựng công trình ở Việt
Nam nhằm góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này trong tương lai.
Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của một số nước.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm đấu thầu của một số nước, trong đó
điển hình là Anh, Đức, Malaysia tác giả tập hợp một số bài học kinh nghiệm làm
10
cơ sở nghiên cứu ứng dụng của luận văn. Những bài học đó là:
Cơ chế quản lý, giám sát, đánh giá và phổ biến kinh nghiệm nhằm phát hiện
và xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong các hoạt động đáu thầu. Đây là
một trong những kinh nghiệm nhiều nước rất chú trọng áp dụng nhằm giảm thiểu
và ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu như thông thầu, lạm dụng
quyền lực của các quan chức chính phủ trong việc đấu thầu mua sắm hang hóa, xây
lắp, dịch vụ tư vấn cho các quốc gia.
Trong bài viết về kinh nghiệm của ngài Yingming Yang, trưởng Ban các tổ
chức Tài chính quốc tế II, Vụ Đối Ngoại, Bộ Tài Chính Trung Quốc báo cáo tại Hội
thảo Quốc tế về Quản lý và thực hiện dự án tại TP.Hồ Chí Minh ngày 18-19/05/2006,
Ông cho rằng: “Giám sát và đánh giá là một công cụ quản lý hữu ích nhằm nâng cao
hiệu quả. Nếu không có giám sát và đánh giá hiệu quả, chúng ta không thể biết được
sự khác biệt giữa thành công và thất bại. Nếu không hiểu được điều gì tạo nên thành
công, chúng ta không thể phổ biến các bài học kinh nghiệm tốt.Vì vậy, sẽ rất hữu ích
nếu như chúng ta thiết lập một cơ chế giám sát, đánh giá và cơ chế phổ biến tốt. Dĩ
nhiên hãy nên nhớ rằng những cơ chế này cũng khá tốn kém và đòi hỏi phải có năng
lực, chúng ta cần tập trung và cơ chế khả thi và thực tế chứ không phải những cơ chế
quá tham vọng và hoàn hảo”.
Theo bà Hidan Misran, cán bộ văn phòng Kinh tế Kế hoạch, Văn phòng
Chính phủ Malaysia khi trình bày những kinh nghiệm của Văn phòng Chính phủ
Malaysia tại Hội thảo Quốc tế về Quản lý và Thực hiện dự án ODA: “Giám sát và
đánh giá đòi hỏi một quá trình thu thập và phân tích thông tin một cách có hệ
thống, theo dõi những thay đổi so với mốc cơ sở để đạt được những kết quả mong
và thư giảm giá của nhà thầu
- Bài học kinh nghiệm thứ hai được tác giả rút ra là việc thống nhất thông
tin về đấu thầu. Thông báo mời thầu có thể bị lợi dụng nếu bên mời thầu có dụng ý
giành sự ưu tiên cho nhà thầu nào đó. Một ví dụ điển hình là trường hợp đấu thầu
một gói thầu có sử dụng vốn vay của một tổ chức quốc tế ở một nước Châu Á bị tổ
chức quốc tế đó phát hiện và hủy kết quả đấu thầu là việc thông báo mời thầu trên
một tờ báo của một tư nhân. Bên mời thầu đồng thời với việc đăng thông báo trên
đã đăng ký đặt mua toàn bộ số báo đó. Do vậy thông tin đấu thầu không thể đến
với các nhà thầu tiềm năng.
12
Theo quy định, Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấu thầu cạnh tranh quốc
tế (ICB) phải thông báo mời thầu công khai trên tờ báo “Development Business”
của Liên Hợp Quốc. Ngân hàng WB quy định: “Việc thông báo đúng lúc về các cơ
hội đấu thầu cực kỳ quan trọng trong đấu thầu cạnh tranh. Đối với các dự án mua
sắm theo thể thức ICB, bên vay phải chuẩn bị và nộp cho Ngân hàng một dự thảo
Thông báo chung về mua sắm. Ngân hàng sẽ thu xếp việc đăng thông báo đó trên
báo “Development Business” của Liên Hợp Quốc.
Theo quy định của Ngân hàng ADB, quảng cáo và thông báo mời thầu phải
đảm bảo cơ hội cạnh tranh cho các nhà thầu thuộc tất cả các nước thành viên của
ADB và do đó phải được thu xếp để đăng tải công khai trên tạp chí “Cơ hội kinh
doanh ADB” của Ngân hàng cũng như một tờ báo lưu hành rộng rãi trong nước của
bên vay.
Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới còn quy định rõ “Mọi người dự thầu đều phải
được cung cấp những thông tin như nhau và phải cùng được đảm bảo cơ hội bình
đẳng trong việc nhận thông tin bổ sung kịp thời. Bên vay phải tạo điều kiện thuận
lợi cho những người có thể dự thầu đến thăm địa điểm dự án”
1.4.2. Thùc tiÔn c«ng t¸c ®Êu thÇu t¹i ViÖt Nam trong nh÷ng n¨m qua
Đất nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều
thành phần có sự quản lý của nhà nước. Đây là một bước ngoặt trong quá trình phát
ra đời thì công tác đấu thầu triển khai khá tích cực và nghiêm túc, đặc biệt là những
dự án xây dựng, công tác đấu thầu được điển hình về mặt thực hiện. Tuy nhiên trong
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, ngoài các yếu tố tiến bộ còn ẩn dấu những tiêu cực,
phổ biến nhất là trường hợp bên A và bên B móc ngoặc với nhau. Công tác chuẩn bị
đấu thầu thường mất nhiều thời gian. Công việc này nhiều đơn vị chuẩn bị chưa tốt,
nhiều ban quản lý dự án chưa đủ trình độ đảm bảo cho đấu thầu diễn ra khách quan,
cách đánh giá hồ sơ dự thầu không dự tính được các trường hợp xảy ra, không đánh
giá hết được năng lực của nhà thầu khiến cho tiến độ thi công chậm, chất lượng công
trình không đảm bảo gây bức xúc trong nhân dân, thiệt hại về kinh tế của đất nước.
Hiện nay, trong ngành xây dựng tồn tại ba hình thức lựa chọn nhà thầu. Tuỳ
theo điều kiện cụ thể đối với mỗi dự án mà chủ đầu tư có thể chọn một trong ba
hình thứ đó. Các hình thức đó là:
14
- Đấu thầu rộng rãi : là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu
tham gia. Chủ đầu tư thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và
ghi rõ các điều kiện đối với các đơn vị dự thầu để các đơn vị xem xét đủ điều kiện
thì đến tham gia dự thầu. Đối với những gói thầu lớn, phức tạp về công nghệ, kỹ
thuật, bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển lựa chọn nhà thầu có năng lực.
Hình thức này có ưu điểm khuyến khích cạnh tranh cao của nhiều nhà thầu.
Tính đa dạng trong các cuộc mời thầu đã làm tăng sự hấp dẫn đối với các đối tượng
cạnh tranh đấu thầu. Các nhà thầu luôn đưa ra các giải pháp đạt tiêu chuẩn chất lượng
cao với chi phí thấp nhất. Tuy nhiên số lượng nhà thầu tham gia không hạn chế nên
có thể có nhà thầu chưa thực hiện đủ năng lực vẫn tham gia dự thầu. Mặt khác do số
lượng nhà thầu đông sẽ mất nhiều thời gian và chi phí cho việc tổ chức.
- Đấu thầu hạn chế : là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số
nhà thầu có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của dự án, nhưng ít nhất phải có 3 nhà
thầu tham gia.
Hình thức này có ưu điểm là các nhà thầu tham gia đấu thầu là những nhà
thầu thực sự có đủ năng lực về mọi mặt, đáp ứng đủ yêu cầu của chủ đầu tư. Công
quốc tế, tuy các bên liên doanh có tổ chức đấu thầu rộng rãi nhưng có thể một phần do
những yêu cầu đặc biệt đối với gói thầu nên kết quả trúng thầu thường là các nhà thầu
có liên quan của các bên liên doanh nước ngoài. Giá trị trúng thầu do các bên liên
doanh trong một số trường hợp cao hơn ghi trong giấy phép đầu tư. Một số do tình hình
thực tế biến động một số bên liên doanh đã tiến hành điều chỉnh vốn đầu tư trong giấy
phép đầu tư để phù hợp với kết quả đấu thầu. Vấn đề cần làm rõ báo cáo nghiên cứu
khả thi và các quy định trong giấy phép đầu tư là hết sức quan trọng để đẩy nhanh các
hoạt động đấu thầu.
Bên cạnh đó phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu chưa thật phù hợp với các
tài liệu hướng dẫn cũng như thông lệ về đấu thầu. Một số dự án liên doanh chuẩn bị
và thực hiện công tác đấu thầu hợp lý, thì vẫn còn một số trường hợp việc chuẩn bị
đánh giá và áp dụng phương pháp đánh giá chưa thật phù hợp với thông lệ đấu thầu.
Đó là các trường hợp sau khi bỏ thầu các bên liên doanh thường phải tiến hành đàm
phán hoặc là cắt giảm các hạng mục cho phù hợp với tổng mức đầu tư đã được phê
16
duyệt, hoặc đàm phán giá một số khoản mục. Việc đàm phán để giảm giá tuy có đạt
được mức giá đáng kể so với giá bỏ thầu ban đầu, nhưng nếu tiếp tục thực hiện theo
hướng này sẽ không có hiệu quả mà có thể dẫn đến những việc tiêu cực trong quá
trình đàm phán với các nhà thầu. Do vậy trong thời gian tới các Bộ ngành, đơn vị
chủ quản cần quan tâm hơn nữa đến công tác đấu thầu. Để kết quả đấu thầu của các
dự án liên doanh đạt kết quả tốt.
1.4.3 Những tồn tại ảnh hưởng tới công tác đấu thầu xây dựng
a, Vấn đề của đơn vị tổ chức đấu thầu
Hiện nay, ở một số bộ ngành, địa phương việc thực hiện công tác đấu thầu
còn tùy tiện mang tính hình thức.
Công tác chuẩn bị đấu thầu chưa tốt còn gặp nhiều vướng mắc
- Công tác chuẩn bị HSMT và tiêu chuẩn đánh giá là bước quan trọng trong quá
trình đấu thầu, song trong nhiều trường hợp do chuẩn bị không tốt hoặc việc phê duyệt
còn đơn giản nên đã có nhiều vướng mắc như: HSMT được chuẩn bị một cách chung
Việc sử dụng tư vấn trong đấu thầu còn nhiều bất cập
Trong các dự án có vốn tài trợ nước ngoài, phía Việt Nam hầu như phải sử
dụng dịch vụ tư vấn của nhà tài trợ như ADB, WB… việc trả lương cho các chuyên
gia này thường rất cao, chiếm một phần không nhỏ trong tổng số vốn tài trợ. Các
dịch vụ tư vấn này không phải tất cả là của ngân hàng, của nhà tài trợ mà phần lớn
họ được nhà tài trợ giới thiệu, lựa chọn giúp.
Nhiều dự án khi có vấn đề chủ đầu tư tìm lại các tổ chức cung ứng dịch vụ tư
vấn thì các tổ chức tư vấn nói trên đã không còn nữa. Nhưng sử dụng tư vấn của
chính mình thì phía Việt Nam lại gặp không ít khó khăn. Một mặt do trình độ, kinh
nghiệm của các nhà tư vấn Việt Nam còn hạn chế, mặt khác lại bị ràng buộc bởi các
Hiệp định cho vay và sử dụng vốn. Khi đàm phán ký kết hợp đồng với chuyên gia
nước ngoài phải hết sức thận trọng và quy định phải chặt chẽ, rõ ràng để có cơ sở
ràng buộc trách nhiệm sau này.
Vấn đề về vốn và đơn giá trong đấu thầu
Một thực trạng vẫn còn tồn tại là các gói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà
nước. Hầu hết mọi công trình sử dụng vốn ngân sách đều lâm vào tình trạng kế