Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian dài tập trung nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, tác
giả đã hoàn thành luận văn đúng thời hạn theo quy định nhà trường đã giao.
Có được kết quả trên, trước tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến
thầy giáo PGS.TS: Nguyễn Trọng Tư đã dành nhiều thời gian, tâm huyết,
tận tình hướng dẫn để tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các giảng viên khoa sau Đại học,
trường Đại học Thủy lợi đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức
tới tác giả trong suốt quá trình học tập ở Đại học cũng như trong quá trình học
Cao học.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, cơ quan, người thân, bạn bè
đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành tốt
luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
HỌC VIÊN Nguyễn Anh Sơn Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
2.3.4.2. Dòng chảy sóng tràn trên đỉnh đê 34
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
2.4: Thấm- Ổn định của đê biển khi có nước tràn qua 36
2.4.1. Tầm quan trọng tính thấm qua đê biển khi có nước tràn qua 36
2.4.2. Các phương pháp tính thấm 37
2.4.2.1. Nghiên cứu lý luận 37
2.4.2.2. Nghiên cứu thực nghiệm 38
2.4.2.3. Sự phát triển của các phương pháp tính ổn định mái dốc 38
2.4.2.4. Cơ sở các phương pháp tính ổn định trượt mái 39
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU SỰ ỔN ĐỊNH CỦA ĐÊ BIỂN NAM ĐỊNH KHI
CÓ SÓNG LEO TRÀN QUA
48
3.1: Tổng quan về vùng biển Nam Định 48
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 48
3.1.1.1. Vị trí địa lý 48
3.1.1.2. Điều kiện địa hình địa mạo 49
3.1.2. Đặc điểm khí tượng thủy văn 53
3.1.2.1. Chế độ khí tượng 53
3.1.2.2. Chế độ thủy hải văn 57
3.1.3. Đặc điểm địa chất 2
3.1.3.1. Đặc điểm địa chất khu vực cửa sông 62
3.1.3.2. Đặc điểm địa chất đường bờ tỉnh Nam Định 62
3.1.3.3. Địa chất công trình khu vực bờ biển Hải Hậu – Nam Định 63
3.1.4. Tình hình diễn biến đường bờ vùng biển Hải Hậu- Nam Định
64
3.1.5. Các cơ chế phá hoại đê kè biển 68
3.1.5.1. Phá hoại ở mái đê phía biển 68
3.1.5.2. Phá hoại từ mái đê phía trong đồng 70
Phụ lục 2:
Phụ lục 3:
Phụ lục 4:
Phụ lục 5:
Phụ lục 6:
Phụ lục 7:
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
1
MỞ ĐẦU
I: sự cần thiết của đề tài:
Hệ thống đê biển là giải pháp bảo vệ đất liền mang tính chiến lược quốc gia
của các nước bên bờ đại dương.
Nước ta có đường bờ biển dài khoảng 3200 km trải dài từ móng cái đến hà tiên.
Các tuyến đê biển đê biển xây dựng từ bao đời nay có nhiệm vụ ngăn mặn, giữ ngọt,
bảo vệ sinh mạng và tài sản của nhân dân vùng ven biển, bảo vệ cho sản xuất nông
nghiệp, ngoài ra còn bảo vệ một số vùng nuôi trồng thủy săn hoặc sản xuất muối.
Theo xu thế phát triển chung, vùng ven biển nước ta là một vùng kinh tế trọng
điểm năng động và ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong nền kinh tế quốc
dân và an ninh quốc phòng. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về công nghiệp,
du lịch, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất (tăng nuôi trồng thủy, hải sản) và khôi phục
các ngành nghề truyền thống, thì tuyến đê biển nói chung và đê biển nói riêng sẽ
không chỉ là mục tiêu ngăn lũ, ngăn mặn mà còn phải kết hợp đa mục tiêu, vừa ngăn
lũ, kiểm soát mặn bảo đảm an toàn dân sinh, kinh tế cho vùng được đê bảo vệ, đồng
thời kết hợp là tuyến đường giao thông ven biển quan trọng phục vụ phát triển kinh
tế, du lịch, an ninh quốc phòng.
Vì những nhiệm vụ quan trọng trên, hệ thống đê biển cần phải được bảo vệ an
toàn trước nguy cơ bị xuống cấp, phá vỡ, đồng thời tiếp tục cải tạo, củng cố thêm
một bước đê nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai nhằm tạo tiền đề thúc đẩy
2.2: Cơ chế phá hoại đê biển do bão:
2.3: Sóng và các đặc trưng:
2.4: Thấm- ổn định của đê biển khi có sóng tràn qua:
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
3
Chương 3: Ứng dụng tính toán cho đê biển Tỉnh Nam Định.
3.1: Giới thiệu vè công trình cụ thể phục vụ cho việc tính toán:
3.2: Chọn sơ đồ tính toán:
3.3: Xác định lưu lượng thấm do sóng tràn tạo ra:
3.4: Ứng dụng phần mềm tính toán sóng tràn và tính toán thấm, ổn định.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị.
Từ kết quả của việc ứng dụng phần mềm tính toán cho đê biển tỉnh Nam Định,
trình bày những kết quả đạt được, những tồn tại và những kiến nghị.
Đề suất biện pháp xây dựng và bảo vệ đê biển. Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
5
Hình1.1: Đê biển Afsluitdifk dài hơn 32km, rộng 90m, cao 7.25m
trên mực nước biển trung bình
Sau thảm họa lịch sử năm 1953, chính phủ Hà Lan đã quyết tâm xây dựng dự án đê
biển. Dự án kéo dài từ năm 1958 đến năm 1997 với kinh phí lên tới hàng ngàn tỷ
Guider (tiền Hà lan). Dự án gồm cáo đập khóa, các đập phụ gần cửa sông và các
tuyến đê hiện đại (xem hình1.1).
"Điều này làm cho Hà Lan không chỉ nổi tiếng bởi về hoa tulip, cối xay gió, những
đôi giày gỗ…mà còn nổi tiếng bởi những công trình biển vĩ đại hàng đầu thế giới".
Thành tựu về chinh phục biển, Hà Lan xứng đáng với lời đánh giá "Chúa tạo dựng
nên thế giới nhưng Hà Lan được tạo dựng bởi chính người Hà Lan".
Hầu như các nước ven biển đều có những vùng đất thấp hơn mực nước biển vì
vậy kinh nghiệm và kỹ thuật đê biển được sử dụng và phát triển rất rộng rãi. Tùy
thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế mà mức độ khoa học và mức độ hiện đại của
các công trình để biển ở những mức độ khác nhau. Ngoài Hà Lan các nước có kinh
nghiệm và trình độ khoa học công nghệ về đê biển thu hút sự chú ý của thế giới còn
có Mỹ, Đan Mạch, Nhật Bản, Trung Quốc…
Cho đến nay các nước ở trên bờ biển đều coi việc xây dựng hệ thống đê biển là giải
pháp hữu hiệu nhất để đề phòng, chống và thích ứng ngăn chặn nước biển dâng và
xâm nhập mặn và là phương thức quai đê lấn biển tăng diện tích đất ở và canh tác.
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
6
1.2: Tình hình đối với đê biển Việt Nam:
Việt Nam, ngay từ thế kỷ XV ông cha ta đã xây dựng hệ thống để biển và
không ngừng tôn cao, mở rộng qua các thời kỳ giữ nước, xây dựng và phát triển đất
nước. Đến nay dọc theo hơn 3200 km bờ biển, nước ta có khoảng 719 km đê biển
kiên cố, hình thành hệ thống đê biển bảo vệ cho 28 tỉnh thành phố bao gồm 110
huyện thị xã và đang phát huy hiệu quả phòng tránh thiên tai tạo điều kiện cho các
sông ở khu vực này đã được hình thành từ rất sớm và cơ bản được khép kín. Tổng
chiều dài các tuyến đê biển, đê cửa sông khoảng 484 km trong đó có trên 350 km đê
trực tiếp biển.
Đê biển bắc bộ có bề rộng mặt đê nhỏ từ 3- 4 m, nhiều đoạn đê <2 m, như một số
đoạn thuộc các tuyến đê Hà nam, đê bắc Cửa lục, đê Hoàng tân (Quảng ninh) đê biển
số 5, số 6, số 7 và số 8 (Tỉnh Thái bình) đê Cát hải (Hải phòng) mái đê phía biển 2/1-
3/1 (đối với đoạn đê đã được nâng cấp từ 3/1-4/1) mái phía đồng từ 1,5/1-2/1 (đối với
đoạn đã được nâng cấp từ 2/1-3/1) cao độ đỉnh đê dao động từ 3,5-5 m, một số nơi
sau khi được đầu tư bởi dự án PAM 5325 có cao độ đỉnh đê (hoặc tường chắn sóng)
là 5.5m như đê biển Hải hậu, Giao thủy (Nam định) đê biển số I, II (Hải phòng).
Chất lượng đất thân đê là đất thịt nhẹ, đất phù sa cửa sông. Hàm lượng cát tăng
đối với các tuyến xa dần cửa sông. Một số tuyến đoạn đê hoàn toàn bằng đất cát như
Hải thịnh (Nam định).
Mái đê cửa sông ven biển bắc bộ được bảo vệ phần lớn ở các tuyến bằng trồng
cỏ. Những đoạn chịu tác dụng trực tiếp của sóng, gió bảo vệ kè đá lát mái, kết cấu
kè đá đang sử dụng ở các địa phương là lớp đá hộc dày 30 cm xếp khan trên một
lớp đá dăm dày 10 cm, lát từ chân đê phía biển lên đến cao trình đỉnh đê. Trọng
lượng mỗi viên đá khoảng 10- 40 kg, một số nơi bãi biển bị bào mòn, ngoài lát mái
làm kè cần làm một số mỏ hàn dọc và ngang để bảo vệ bãi. Kè mỏ bằng đá hộc mái
hai phía 1/1 mặt rộng 1 m dài 70 m, xây dựng thành hệ thống như ở khu vực Văn
lý- Hải hậu (Nam định).
Sau khi được đầu tư khôi phục, nâng cấp thông qua dự án PAM 5325 và quá
trình tu bổ hàng năm, các tuyến đê biển nhìn chung đảm bảo chống được mức nước
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
8
triều cao tần suất 5% có gió bão cấp 9. Tuy nhiên, tổng chiều dài các tuyến đê biển rất
lớn, dự án PAM mới chỉ tập trung khôi phục, nâng cấp các đoạn đê xung yếu. Mặt
khác, do tác động thường xuyên của mưa, bão, sóng lớn nên đến nay hệ thống đê biển
Bắc bộ vẫn còn nhiều tồn tại, trong đó các tồn tại chính được tóm tắt như sau:
đặc biệt tuyến đê Hải hậu.
- Dải cây chắn sóng trước đê biển nhiều nơi chưa có, có nơi đã có nhưng do
công tác quản lý, bảo vệ còn bất cập nên bị phá hoại (như vụ phá rừng ngập mặn để
nuôi trồng thủy sản ở Kim sơn, Ninh bình), nhiều nơi ở vùng xa cửa sông không thể
trồng được cây chắn sóng. Vì vậy, đê biển đa phần chịu tác động trực tiếp của sóng
gây sạt lở.
Như vậy, có thể thấy rằng đê biển Bắc bộ mặc dù đã được đầu tư tu bổ, nâng
cấp thông qua dự án PAM 5325 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra hiện nay:
Nhiều đoạn chưa được nâng cấp nên còn thấp, nhỏ thiếu cao trình; mặt đê nhỏ, hầu
hết chưa được cứng hóa nên dễ bị xói, sạt, lầy lội khi mưa, bão nên không đáp ứng
được yêu cầu giao thông, gây khó khăn cho việc ứng cứu khi mưa bão. Đặc biệt một
số đoạn bãi biển bị hạ thấp gây sạt lở kè bảo vệ mái đê biển, một số đoạn đê đang
đứng trước nguy cơ có thể bị phá vỡ bất cứ khi nào.
Hình 1.2: Mặt cắt điển hình đê biển Bắc bộ:
(1) Thân đê; (2) Kè lát mái; (3) Tường chắn sóng; (4) Chân kè (chân khay)
1.2.2: Đê biển Trung bộ:
1.2.2.1: Đê biển Bắc trung bộ: Các Tỉnh từ Thanh hóa đến Hà tĩnh.
Vùng ven biển Bắc trung bộ là vùng đồng bằng nhỏ hẹp của hệ thống sông Mã,
sông Cả, cũng là một trong những vùng trọng tâm về phát triển kinh tế, địa hình ven
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
10
biển thấp trũng và cao dần về phía tây, đây là vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng
của thiên tai (đặc biệt là bão, áp thấp nhiệt đới), biên độ thủy triều nhỏ hơn vùng
biển Bắc bộ, vùng ven biển đã bắt đầu xuất hiện các cồn cát có thể tận dụng được
như các đoạn đê ngăn mặn tự nhiên.
Chất lượng đất đắp đê: Phần lớn các tuyến là đất thịt, nhẹ pha cát. Một số tuyến
nằm sâu so với cửa sông và ven đầm phá, đất thân đê được đắp là đất sét pha cát,
đất thịt nặng, cũng có nhiều tuyến đê ven biển thân đê là đất cát như các tuyến đê ở
bảo an toàn cho đê, phù hợp với quy hoạch chung về phát triển sản xuất.
1.2.2.2: Đê biển Trung trung bộ: Các tỉnh từ Quảng bình đến Quảng nam.
Vùng ven biển Trung trung bộ là vùng có diện tích nhỏ hẹp, phần lớn các tuyến
đê biển đều ngắn, bị chia cắt bởi các sông, rạch, địa hình đồi cát ven biển. Một số
tuyến bao diện tích canh tác nhỏ hẹp dọc theo đầm phá. Đây là vùng có biên độ thủy
triều thấp nhất, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai. Khác với vùng cửa sông
Đồng bằng bắc bộ chỉ yếu là bồi, các cửa sông Miền trung có thể thay đổi tùy theo
tính chất của từng con lũ, do vậy tuyến đê được đắp theo một tuyến, không có tuyến
quai đê lấn biển hoặc tuyến dự phòng.
Đê biển, đê cửa sông khu vực trung trung bộ với nhiệm vụ ngăn mặn, giữ ngọt,
chống lũ tiểu mãn hoặc lũ sớm bảo vệ sản xuất ăn chắc 2 vụ lúa đông xuân và hè
thu, đồng thời phải đảm bảo tiêu thoát nhanh lũ chính vụ. một số ít tuyến đê, bảo vệ
các khu nuôi trồng thủy sản. đa số các tuyến đê biển bảo vệ diện tích canh tác nhỏ
dưới 3000 ha. Với mục tiêu, nhiệm vụ như trên, đê không cần đắp cao, nhưng cần
phải gia cố 3 mặt để chống hư hỏng khi lũ sóng tràn qua.
Phần lớn các tuyến đê biển được đắp bằng đất thịt nhẹ pha cát, một số tuyến
nằm sâu so với cửa sông và đầm phá đất thân đê là đất sét pha cát như đê Tả Gianh
(Quảng bình) đê Vĩnh thái (Quảng trị)… Một số đoạn đê biển đã được bảo vệ 3 mặt
hoặc 2 mặt bằng tấm bê tông để cho lũ tràn qua như tuyến đê phá Tam giang (Thừa
thiên huế) đê Hữu Nhật lệ (Quảng bình)…ngoài ra đoạn đê biển trực tiếp chịu tác
động của sóng, gió được xây dựng kè bảo vệ, hầu hết mái đê được bảo vệ bằng cỏ,
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
12
đê vùng cửa sông được bảo vệ bằng cây chắn sóng với các loại cây sú, vẹt, đước.
Một số tồn tại chính của các tuyến đê biển trung trung bộ như sau:
Còn 238 km đê biển, đê cửa sông chưa được đầu tư tu bổ, nâng cấp nên còn
thấp và nhỏ, chưa đảm bảo cao độ thiết kế.
Trừ 1.5 km đê liên hiệp thuộc thành phố Đà nẵng có chiều rộng mặt đê >4 m,
còn lại 562 km có chiều rộng mặt đê <3,5 m, trong đó có đến 272 km mặt đê chỉ
thuộc các tỉnh Tiền giang, Bến tre, Cà mau, Bạc liêu, Kiên giang, Vĩnh long, Trà
vinh … quy mô nhỏ nhất là vùng bán đảo Cà mau, đã đắp 2 tuyến đê biển, tuyến
phía tây dài 93,5km qua các huyện U minh, Phú tân, Trần băn thời, ngăn mặn cho
163200 ha. Tuyến phía đông dài 58 km, đi qua huyện Giá rai, Vĩnh lợi và Thị xã
Bạc liêu, từ năm 1986-2005, hầu hết các tuyến đê biển đã hình thành, chủ yếu là tu
bổ và củng cố.
Đến nay, đồng bằng ven biển Nam bộ đã có 356.2 km đê biển bảo vệ nhiệm vụ
của các tuyến đê biển Nam bộ là ngăn mặn, bảo vệ sản xuất 2 vụ lúa, nhiều tuyến
bảo vệ diện tích rất lớn trên 10000 ha như đê biển ở Huyện Hòn đất, Hà tiên (Kiên
giang)… riêng Tỉnh Cà mau có 239 km đê biển trên chiều dài bờ 307 km ngăn mặn
cho 7 Huyện ven biển. trên 11 Huyện thị của Tỉnh. Đê biển Nam nộ ngoài bảo vệ
sản xuất và dân cư, còn có các loại đê hải sản do đó hoặc tập thể đầu tư bảo vệ đồng
muối như Tỉnh Bến tre có 15 ngư trường và 1544 ha đồng muối. Thành phố Hồ Chí
Minh có 200 ha thủy sản, đê bình an bảo vệ Thị xã Hà tiên (Kiên giang).
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
14
Về tuyến đê: Khác với đê biển Miền trung, đê biển Nam bộ dài, có tuyến dài
trên 50-60 km (đê biển 2 Tỉnh Cà mau và Kiên giang) giống như đê biển Bắc bộ có
nhiều tuyến trực tiếp biển, một số tuyến dài chạy dọc theo bờ biển phía đông và
biển Tây (Cà mau), biển Tây (Kiên giang). Nhiều tuyến đê ven cửa sông như các
tuyến đê biển phía đông (Sóc trăng, Trà vinh, Bến tre) cũng có 2 loại tuyến đê
không khép bao vùng đất thấp như tuyến Thanh phú, Ba tri, Bình đại (Bến tre);
Tuyến 1 (tuyến trong) ngăn mặn và bảo vệ cho vùng lúa 1 vụ và 2 vụ, tuyến này
cách bờ biển 10 km còn tuyến 2 nằm sát biển nhiệm vụ chống sóng gió, chống cát
bay, hạn chế mặm và phục vụ nuôi trồng thủy sản trong khu vực giữa tuyến 1 và
tuyến 2.
Vùng biển đang bồi, đê được quai lấn ra biển như vùng mũi của Cà mau. Vùng
này hàng năm bồi lấn ra biển, bình quân 50- 60 m. ở Tỉnh Sóc trăng có tuyến đê
biển mới Mỹ thanh- Vĩnh châu- Lai hòa thay cho tuyến cũ ở sâu phía trong.
km/469 km.
Đối với vùng bờ biển ổn định hoặc bồi các hư hỏng đê thường là sạt lở nhỏ mái
đê phía biển ở những đoạn đê không có cây chắn sóng. Những đoạn đê có nền yếu
(hữu cơ, bùn cát) khi nước triều lên xuống nhanh dòng chảy do triều sẽ moi rỗng đất
chân đê có thể dẫn tới sạt lở hoặc sập đê như một số đoạn ở đê biển Tỉnh Bến tre.
Đối với vùng bờ biển xói như đê gò công mấy năm trước đây tuy đê được đắp
to, rộng, có cơ đê phía đồng có kè đá lát mái và chân được đóng cọc thả khối bê
tông bảo vệ nhưng vẫn còn khả năng bị hư hỏng.
Tuy nhiên nhìn chung đê biển Nam bộ là ổn định do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Hiếm có các điều kiện khí tượng hải văn bất lợi như bão mạnh va có nước dâng
do bão.
Chất đất đắp đê tuy có nhiều chủng loại khác nhau nhưng nhiều tuyến có thành
phần đất thịt, đất sét cao, chịu đựng được với tác dụng thường xuyên của bão gió
cấp 5, 6.
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
16
Nhiều tuyến có cây chắn sóng bảo vệ như cây mắn, chà là, cây dừa nước… Dọc
theo cả tuyến và rộng 200- 400 m như đê biển Vũng tàu, Côn đảo, Gò công, Sóc
trăng, Bến tre, Cà mau, Kiên giang. Tình trạng rất lo ngại hiện nay là các rừng cây
này đang bị phá hủy dần do việc phát triển đắp đê bao nuôi trồng thủy sản (tôm,
cua). Một mặt cây bị chặt phá để dễ thu hoạch thủy sản mặt khác cây bị chết dần do
mất nguồn phù sa và thay đổi môi trường sống vì đắp đê bao.
Hình 1.4: Mặt cắt điển hình đê biển Nam bộ:
(1) Thân đê; (2) Kè lát mái; (3) Chân khay; (4) Mặt đê cứng hóa
của thiên tai (bão) đe doạ đến an toàn của đê biển (theo thống kê sơ bộ, trong những
năm gần đây số cơn bão xuất hiện ở Biển Đông có ảnh hưởng đến nước ta nhiều
hơn, đặc biệt số cơn bãocó sức gió mạnh cấp 10, cấp 12, giật trên cấp 12 chiếm tỷ lệ
lớn hơn so với các thập kỷ trước).
- Công nghệ mới phát triển: Hệ thống kè mỏ hàn ngang bảo vệ bãi biển Hải
Hậu trước đây đã thi công bằng đá đổ bị hư hỏng, mất dần tác dụng theo thời gian.
Hiện nay, với sự phát triển của khoa học, công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế có
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
18
thể áp dụng nhiều loại kết cấu mới bền vững hơn và đã thử nghiệm thành công ở
chính vị trí này.
- Nếu không tiếp tục nâng cấp, củng cố thì hàng loạt đoạn đê biển có nguy cơ
sạt lở, mất đi những thành quả đã đạt được của các dự án đã đầu tư.
Khối lượng cần tu bổ, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống đê biển, đê cửa sông các
tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam là rất lớn, do đó việc xác định điều tra
độ ổn định của đê biển đoạn từ Quảng Ninh đến Quảng Nam là cần thiết để từ đó có
cơ sở khoa học cho việc xác định nâng cấp đê biển hiện có.
2.2: Cơ chế phá hoại đê do bão:
Qua thực tế những lần sạt lở và vỡ đê trong lịch sử đã thống kế và đưa ra 3
dạng phá hoại đê chính sau:
Dạng thứ nhất: (chiếm đa số) do tác động của sóng và các yếu tố động lực khác
từ biển gây xói lở chân đê làm cho mái đê mất ổn định, dẫn đến sạt lở khi gặp các
yếu tố bất lợi;
Dạng thứ hai: Dạng này ít gặp hơn nước bị ứ đọng ở phía đồng không thoát kịp
qua các cống, tràn lên măt đê và mái đê gây ra xói lở cục bộ, sạt sập mái đê (chủ
yếu các đê cửa sông Miền Trung);
Dạng thứ ba: Xảy ra trong cơn bão số 7 năm 2005 triều cường, nước dâng cao
kết hợp với sóng mạnh trong bão đã tràn đê gây xói mái đê phía đồng gây mất ổn
định dẫn tới vỡ đê:
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
20
Trong các cơ chế trên các cơ chế thường xuất hiện phổ biến và liên tục xảy ra đối
với đê biển Nam định và bắc khu 4 là:
B: Sóng tràn qua đỉnh đê H: Xói mái đê phía biển
C: Sạt mái trong phía đồng I: Xói chân khay mái biển
E: Trượt mái phía biển J: Đê bị lún
Một số dạng đê kè bị hư hỏng thường gặp trên tuyến đê biển Việt Nam
Hình 2.2. Dòng ven và sóng gây xói mái đê và kè phía biển dưới chân kè
Hình 2.3. Sóng leo và nước dâng gây trượt mái đê phía biển
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy
21
Hình 2.4. Sóng leo lớn gây tràn qua mặt đê dẫn đến xói mặt đê và mái đê phía sau: Hình 2.5. Sóng tràn qua đỉnh đê không có tường chắn sóng
Hình 2.6. Sóng tràn qua đỉnh đê có tường chắn sóng