BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
THÁI QUỲNH NHƯ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN CÁC
ĐẶC TRƯNG KHÍ TƯỢNG VÀ NHU CẦU NƯỚC CHO CÂY
TRỒNG TRÊN LƯU VỰC SÔNG MÃ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Phát triển nguồn nước
Mã số: 604492
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Minh Tuyển
PGS.TS. Vũ Minh Cát
HÀ NỘI - 2012
BẢN CAM KẾT
Kính gửi: Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Thuỷ Lợi Hà Nội,
Kính gửi: Khoa Thuỷ văn và Tài nguyên nước.
Tên tôi là: Thái Quỳnh Như
Học viên cao học: 18PN Mã học viên: 108.604492.0003
Chuyên ngành : Phát triển nguồn nước
Tên đề tài luận văn: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên các đặc trưng
khí tượng và nhu cầu dùng nước cho cây trồng trên lưu vực sông Mã”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, nội dung và kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực, chưa được công bố trong bất kì công trình
khoa học nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có sai xót.
Hà Nội, ngày 11 tháng 6 năm 2012
Tác giả
Thái Quỳnh Như Luận văn thạc sĩ i Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2
Luận văn thạc sĩ ii Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
1.5. QUY HOẠCH VÀ KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC TRÊN LƯU VỰC 24
1.5.1. Tình hình khai thác sử dụng nước trên lưu vực 24
1.5.1.1. Tình hình khai thác sử dụng nước cho nông nghiệp 24
1.5.1.2. Tình hình khai thác sử dụng nước cho sinh hoạt 25
1.5.1.3. Tình hình khai thác sử dụng nước cho nuôi trồng thủy sản 26
1.5.1.4. Tình hình khai thác sử dụng nước cho du lịch-dịch vụ và môi
trường 26
1.5.2. Quy hoạch sử dụng nước trên lưu vực 27
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN
CÁC ĐẶC TRƯNG KHÍ TƯỢNG TRÊN LƯU VỰC SÔNG MÃ
29
2.1. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NHIỆT ĐỘ 30
2.2. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN BỐC THOÁT HƠI
TIỀM NĂNG (PET) 39
2.3. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN MƯA 46
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC
CHO NÔNG NGHIỆP DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 55
3.1. NGUYÊN TẮC 55
3.2. PHÂN VÙNG TƯỚI 56
3. 3. CÔNG CỤ TÍNH 58
3.4. KẾT QUẢ TÍNH NHU CẦU NƯỚC CHO NÔNG NGHIỆP THEO
CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 64
CHƯƠNG 4: TÍNH TOÁN CÂN BẰNG NƯỚC TRÊN LƯU VỰC 67
4.1. GIỚI THIỆU MÔ HÌNH NAM 67
4.1.1. Yêu cầu dữ liệu đầu vào 70
4.1.2. Dữ liệu đầu ra của mô hình 71
4.1.3. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 71
4.1.4. Kết quả tính toán dòng chảy cho các nút cân bằng trên sông Mã 73
tượng trên lưu vực sông Mã 36
Hình 2.2: Xu thế biến đổi của nhiệt độ mùa mưa qua các thời kỳ tại các trạm
khí tượng trên lưu vực sông Mã 37
Hình 2.3: Xu thế biến đổi của nhiệt độ mùa khô qua các thời kỳ tại các trạm
khí tượng trên lưu vực sông Mã 38
Hình 2.4: Mức biến đổi bốc hơi tiềm năng (PET) năm qua các thời kỳ tại các
trạm khí tượng trên lưu vực sông Mã 44
Hình 2.5: Mức biến đổi bốc hơi tiềm năng (PET) mùa mưa qua các thời kỳ
tại các trạm khí tượng trên lưu vực sông Mã 45
Hình 2.6: Mức biến đổi bốc hơi tiềm năng (PET) mùa khô qua các thời kỳ tại
các trạm khí tượng trên lưu vực sông Mã 46
Hình 2.7: Xu thế biến đổi của lượng mưa năm qua các thời kỳ tại một số trạm
khí tượng trên lưu vực sông Mã 51
Hình 2.8: Xu thế biến đổi của lượng mưa mùa mưa qua các thời kỳ tại một số
trạm khí tượng trên lưu vực sông Mã 52
Hình 2.9: Xu thế biến đổi lượng mưa mùa khô qua các thời kỳ tại một số
trạm khí tượng trên lưu vực sông Mã 53
Hình 3.1: Sơ đồ khối đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên dòng chảy,
nhu cầu nước trên lưu vực sông Mã (phần lãnh thổ Việt Nam) [17] 56
Hình 3.2: Bản đồ phân vùng tưới lưu vực sông Mã 58
Bảng 1.6. Lưu lượng trung bình tháng, năm trong thời kỳ quan trắc tại một số trạm
trong hệ thống sông Mã [10] 15
Bảng 1.7: Đặc trưng thống kê dòng chảy năm ở một số trạm trên sông Mã [10] 17
Bảng 1.8: Đặc trưng dòng chảy năm trung bình nhiều năm ở một số trạm [10] 17
Bảng 1.9. Đặc trung dòng chảy cạn tại các trạm thủy văn trong hệ thống sông Mã
(phần lãnh thổ Việt Nam) [10] 21
Bảng 1.10. Lượng mưa trung bình tháng, năm trong thời kỳ quan trắc tại một số
trạm trong hệ thống sông Mã [10] 23
Bảng 1.11. Tỉ lệ chênh lệch lượng nước giữa mùa lũ và mùa cạn, giữa tháng lớn
nhất và nhỏ nhất trong năm tại một số trạm thuỷ văn 23
Bảng 2.1: Mức thay đổi nhiệt độ trung bình năm (
0
C), lượng mưa năm (%) ở các
kịch bản (A2, B2, B1) so với thời kỳ nền 1980-1999 30
Bảng 2.2: Nhiệt độ không khí trung bình giai đoạn nền (1980-1999), tại các trạm
khí tượng trên lưu vực sông Mã 31
Bảng 2.3: Mức thay đổi nhiệt độ so với thời kỳ nền (1980 – 1999) tại các trạm khí
tượng trên lưu vực sông Mã 32
Bảng 2.4: Mức biến đổi của bốc hơi tiềm năng theo các thời kỳ so với thời kỳ nền
(1980 – 1999) tại một số trạm khí tượng trên lưu vực sông Mã 41
Bảng 2.5. Tỉ lệ thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ nền (1980 – 1999) tương
ứng với các kịch bản (A2, B2, B1) trên lưu vực sông Mã 48
Bảng 3.1: Các tiểu lưu vực trên lưu vực sông Mã (phần lãnh thổ Việt Nam) 57
Bảng 3.2: Nhu cầu nước cho nông nghiệp theo các kịch bản (A2, B2, B1) 64
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN Luận văn thạc sĩ vi Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
Bảng 3.3: Thay đổi nhu cầu nước cho nông nghiệp theo các kịch bản (A2, B2, B1)
so với kịch bản nền (%) 64
2
.
Lưu vực sông Mã – Chu nằm trong phạm vi tọa độ địa lý: từ 22
0
37’30” đến
20
0
37’30” độ vĩ Bắc, và 103
0
05’10” đến 106
0
05’10” độ kinh Đông; phía Bắc giáp
lưu vực sông Đà, sông Bôi, chạy suốt từ Sơn La về đến Cầu Điền Hộ; phía Nam
giáp lưu vực sông Hiếu, sông Yên, sông Đơ; phía Tây giáp lưu vực sông Mê Kông;
phía Đông là Vịnh Bắc Bộ chạy dài từ cửa sông Càn đến cửa sông Mã với chiều dài
bờ biển 40 km.
Hiện nay, kinh tế trên lưu vực đang phát triển theo xu thế
chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Vùng có tốc độ phát
triển kinh tế
cao và chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế là ở hạ du nằm trên địa phận tỉnh Thanh
Hoá. Ở đây đang hình thành các khu công nghiệp lớn, đang mở rộng các thành phố,
thị xã. Đây cũng là nơi đòi hỏi nhiều nguồn nước và yêu cầu giảm nhẹ thiên tai do
nguồn nước gây ra.
Mấy năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã làm cho chế độ khí
hậu có sự biến đổi sâu sắc, như mùa đông ngắn lại, nhiệt độ có xu thế tăng lên, mùa
mưa cũng ngắn lại, nhưng cường độ mưa dường như tăng lên đáng kể, làm cho tình
hình lũ lụt, hạn hán trầm trọng hơn. Các biến đổi này dẫn tới nhu cầu nước tăng lên
đáng kể, trong khi mức độ chênh lệch nguồn nước đến giữa các mùa ngày càng lớn,
dẫn tới sự thay đổi các vùng sinh thái, ảnh hưởng nhiều nhất đến sản xuất nông
- Phương pháp điều tra phân tích tổng hợp số liệu.
- Phương pháp phân tích thống kê.
- Phương pháp mô hình toán thuỷ văn.
- Phương pháp chuyên gia.
+ Công cụ sử dụng
Khai thác, sử dụng phần mềm IQQM (Integrated Quantity and Quality Model),
MIKE BASIN, MIKE NAM (Nedbør - Afstrømnings – Models) tính toán nhu cầu
nước, dòng chảy và cân bằng nước lưu vực sông Mã.
4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Đánh giá tổng hợp các đặc điểm tự nhiên, hệ thống tài nguyên nước trên lưu vực
sông Mã.
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN Luận văn thạc sĩ 3 Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
- Đánh giá sự biến đổi của các đặc trưng khí hậu do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
- Tính cân bằng nước theo mô hình MikeBasin ứng với kịch bản nền và các kịch
bản biến đổi khí hậu
- Đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu để từ đó có hướng phát triển
kinh tế xã hội lưu vực.
- Báo cáo luận văn và những kết luận, kiến nghị cuối cùng.
5. NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về lưu vực nghiên cứu.
Chương 2: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các đặc trưng khí tượng
trên lưu vực.
Chương 3
: Đánh giá sự thay đổi nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp do tác
động của biến đổi khí hậu.
Chương 4
2
,
chiếm 38%) nằm trong lãnh thổ nước Lào. Phần lưu vực nằm trong lãnh thổ nước ta
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN Luận văn thạc sĩ 5 Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá và một phần địa phận các tỉnh: Điện Biên, Sơn La,
Hoà Bình và Nghệ An; phía bắc, đông bắc tiếp giáp lưu vực sông Hồng, phía tây
giáp lưu vực một số sông nhánh của sông Mê Công, phía tây nam và nam giáp lưu
vực sông Cả và phía đông là vịnh Bắc Bộ (hình 1.1).
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Trên lãnh thổ Việt Nam, trên phần thượng lưu ở phía tây của lưu vực có
những núi cao trên 1.000 m. như: Tây Trang (1.329 m), Sam Sao (1897 m), Nam Pa
(1827 m), Pu Pan (2079 m); Pu Bô (1455 m); những dãy núi này tạo thành đường
phân nước giữa sông Mã với sông Mê Công (nhánh sông Nậm U); phía tây bắc là
vùng núi Pu Huổi Long (2179 m), phân chia lưu vực sông Mã với các lưu vực sông
Nậm Mức và Nậm Rốm; phía đông nam cũng có những dãy núi cao trên 1.000 m,
như: Phu Ta Ma (1.801 m), Phu Tung (1.488 m), Phu Sang (1.518 m), Pha Luông
(1.880 m), Đối Thôi (1.198 m, tạo thành đường phân nước giữa lưu vực sông Mã
với lưu vực sông Đà; những dãy núi đá vôi ở phía đông nam phân chia sông Bưởi-
một nhánh của sông Mã, với sông Bôi-một nhánh của sông Đáy; phía đông là Vịnh
Bắc Bộ.
Như vậy, lưu vực hệ thống sông Mã nằm lọt vào giữa 2 dãy núi cao chạy
song song theo hướng tây bắc-đông nam: Dãy núi phía trái kéo dài từ Tuần Giáo
(tỉnh Điện Biên) đến Hồi Xuân (tỉnh Thanh Hoá), dãy núi phía phải nằm ở phía tây,
cao hơn dãy núi phía trái, có độ cao từ 1800 m trở lên.
Đặc điểm nổi bật của địa hình trong lưu vực là địa hình cao nguyên, thể hiện
rõ ở thượng lưu và trung lưu với địa hình mặt bằng chiếm ưu thế, độ cao tương đối
không lớn, giảm dần theo hướng tây bắc-đông nam từ trên 1.000 m xuống 700 m và
5 Thanh Hoá 823.090 194.464 588.893 Đồng bằng - đồi - núi
III Khu hưởng lợi 185.466 81.125 55.639 Đồng bằng - đồi thấp
Tổng 3.034.466 401.915 2.179.689
1.1.3. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng và thảm phủ thực vật lưu vực sông Mã
1.1.3.1. Đặc điểm địa chất
Lưu vực hệ thống sông Mã thuộc địa máng Việt-Lào. Các hoạt động địa chất
tương đối mạnh, nước biển đã tràn ngập và kéo dài cho đến cuối Đại Trung Sinh.
Trong lòng địa máng có những nền cổ nằm rải rác, so le nhau theo hướng tây bắc-
đông nam. Vào kỷ Đệ Tam, vận động tạo núi diễn ra mãnh liệt, tạo thành các dãy
núi và thung lũng, rất sâu và dốc. Vùng đồi núi được cấu tạo bởi các loại đá như:
phiến thạch, sa thạch, Poóc-phia-vít và đá vôi.
Đới kiến tạo sông Mã là miền nâng cổ trước Đề Vôn bị đứt gãy rìa tách khỏi
đới Mường Tè và Điện Biên. Đặc điểm chủ yếu là sự phát triển rộng rãi của trầm
tích cổ Proterozoi bị tầng Pateozoi hạ phủ không chỉnh hợp lên trên. Đường phương
các khối kiến trúc móng và đường phương của lớp phủ gần nhau nhưng không trùng
nhau. Đới kiến tạo Thanh Hoá là một nếp lồi rộng, hơi không đối xứng.
Ở phần trung tâm của đới sông Mã, các trầm tích Proteozoi tạo thành một nếp
lõm rộng, thoải, bị phức tạp hoá bởi các đứt gãy và các phá huỷ bổ sung nằm ở trục
của đới. Phía nam hệ thống Proteozoi trúc sâu theo đứt gãy rìa xuống dưới các thành
tạo Pateozoi - Mezozoi ở đồng bằng hạ du sau đó lại trồi lên ở ven biển Sầm Sơn.
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN Luận văn thạc sĩ 7 Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
Đới Thanh Hoá có dạng tam giác châu, ở giữa đới lắng đọng chủ yếu là trầm
tích Merozoi Sơn La, Sầm Nưa. Nếp lồi Thanh Hoá được tạo thành bở hệ tầng
Paleozoi sớm Đông Sơn và hệ tầng Proteozoi Nậm Cò. Tàn tích Paleozoi hạ tạo
thành các nếp uốn nhỏ dốc có góc cắm 50- 70
0
Luận văn thạc sĩ 8 Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
-Rừng gỗ là loại rừng có diện tích lớn nhất: 211.628 ha, chiếm 57% diện tích
rừng tự nhiên với rất nhiều loại gỗ quý: lim, sến, táu, vàng tâm, dổi, dẻ
- Rừng tre nứa có diện tích khoảng 98.467ha, chiếm 26,8%, chủ yếu là tre,
luồng, nứa
- Rừng hỗn giao có diện tích khoảng 57.316 ha, chiếm 15,6% diện tích rừng
tự nhiên.
Trong 116.835,89 ha rừng trồng, có các loại:
- Rừng gỗ có 48.590ha, chiếm 41,58% diện tích rừng trồng;
- Rừng tre nứa có: 65.653 ha, chiếm 56,2%;
Tổng trữ lượng gỗ rừng tự nhiên có 15.840 triệu m
3
gỗ. Trong đó:
- Trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên có: 11,863 triệu m
3
với: 2,016 m
3
gỗ cấp
III; 3,698 triệu m
3
cấp IV; 5,213m
3
cấp V và 0,936 triệu m
3
gỗ non.
-Tổng trữ lượng gỗ hỗn giao tre nứa của rừng tự nhiên là: 3.370 triệu m
3
.
Tổng trữ lượng gỗ trồng là: 0,608 triệu m
3
0BT
T
Lưu vực
F lưu
vực
(km
2
)
F
Lưu
vực
(%)
L
sông
(km)
Độ
cao
bq
(m)
Chiều
rộng bq
km/km
2
Độ
dốc
bqlv
(%o)
984
18,1
19,3
-
-0,57
0,46
1,28
3
Nậm Công
893
3,14
52,0
1.233
19,9
16,4
-
-0,16
0,22
1,58
4
Sông Luông
1.580
5,56
102
532
17,6
19,6
-
0,19
0,20
114
8,0
5,4
0,47
0,01
0,12
1,62
8
Sông Chu
7.580
26,7
325
790
29,8
18,3
0,98
-,014
0,12
1,58
9
Sông Mã
28.400
100
512
762
68,8
17,6
0,66
0,32
0,17
rừng núi. Từ Bái Thượng trở lên thượng nguồn lòng sông dốc, có nhiều ghềnh thác,
lòng sông hẹp có thềm sông nhưng không có bãi sông. Từ Bái Thượng đến cửa
sông, sông Chu chảy giữa hai tuyến đê, bãi sông rộng, lòng sông thông thoáng, dốc
nên khả năng thoát lũ nhanh. Sông Chu có nhiều phụ lưu lớn như sông Khao, sông
Đạt, sông Đằng, sông Âm. Tiềm năng thuỷ điện của sông Chu rất lớn, dọc theo
dòng chính có nhiều vị trí cho phép xây dựng những kho nước lớn để sử dụng đa
mục tiêu. Trên sông Chu, từ năm 1918 ÷ 1928, đã xây dựng đập Bái Thượng nên
dòng chảy kiệt đã được sử dụng, để tưới cho đồng bằng Nam sông Chu. Hiện tại,
trong mùa kiệt lượng nước ở hạ du Bái Thượng đều nhờ vào nguồn nước của sông
Âm và dòng nước triều đy ngược từ sông Mã lên. Sông Chu có vị trí rất quan trọng
đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa
3. Sông Bưởi
Là phụ lưu lớn thứ 2 của sông Mã, sông Bưởi bắt nguồn từ núi Chu thuộc
tỉnh Hoà Bình. Dòng chính sông Bưởi chảy theo hướng Bắc-Nam, đổ vào sông Mã
tại Vĩnh Khang. Chiều dài dòng chính sông Bưởi 130 km, diện tích lưu vực 1.790
km
2
, trong đó có 362 km
2
là núi đá vôi, độ dốc bình quân lưu vực 12,2%. Thượng
nguồn sông Bưởi là 3 suối lớn: suối Cái, suối Bên và suối Cộng Hoà đến Vụ Bản.
Ba nhánh sông này hợp lại tạo thành sông Bưởi. Từ Vụ Bản đến cửa sông dòng
chảy sông Bưởi chảy giữa hai triền đồi thoải, lòng sông hẹp, nông. Lòng sông Bưởi
từ thượng nguồn đến cửa sông đều mang tính chất của sông vùng đồi. Nguồn nước
sông Bưởi đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế 3 huyện thuộc
tỉnh Hoà Bình và 2 huyện vùng đồi của Thanh Hoá.
4. Sông Cầu Chày
Bắt nguồn từ núi Đèn chảy theo hướng gần như Tây - Đông chảy qua đồng
bằng Nam sông Mã - Bắc sông Chu, tổng chiều dài sông 87,5 km, diện tích lưu vực
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN
hướng Tây - Đông đổ ra biển tại cửa Lạch Trường. Chiều dài sông chính 22 km,
sông có bãi rộng. Sông Mã chỉ chuyển nước vào sông Lạch Trường trong mùa lũ,
còn trong mùa kiệt, sông Lạch Trường chịu tác động của thuỷ triều cả 2 phía là sông
Mã và biển. Sông Lạch Trường là trục nhận nước tiêu quan trọng của vùng Hoằng
Hoá và Hậu Lộc.
Bảng 1.3: Danh sách trạm khí tượng, thuỷ văn trên lưu vực nghiên cứu
TT Tên Trạm Vĩ độ Kinh độ Thời kỳ quan trắc
1
Sông Mã
21°04' 103°44' 1962-2006
2
Tuần Giáo
21
0
35’ 103
0
25’1961-2009
3
Pha Đin
21
0
34’ 103
0
30’1964-2005
1961-2009
7
Yên Định 19
0
58’ 105
0
39’1962-2005
8
Hồi Xuân 20
0
22’ 105
0
07’1959-2009
9
Như Xuân 19
0
38’ 105
0
34’1964-2005
20,3 24,4 42,4 60 138 187 194 277 381 266 79 27,6 1696
Yên
Định
15,5 18,4 33,1 62,6 154 189 178 259 306 190 70,8 18,8 1496
1.3.1.2. Gió, bão.
Mùa đông do hoàn lưu phương Bắc mạnh nên có gió mùa Đông Bắc, tốc độ
gió trung bình 3- 4 m/s. Gió này xuất hiện từ tháng XI đến tháng II năm sau, có năm
xuất hiện sớm và cũng có năm kết thúc muộn.
Mùa hè do hoàn lưu phương Nam và áp thấp của vùng Vịnh Bắc Bộ nên
hướng gió thịnh hành là Đông Nam, mang nhiều hơi m dễ gây mưa rào. Tốc độ gió
bình quân 2,0- 2,5 m/s. Loại gió này xuất hiện từ tháng III và kết thúc vào tháng X
hàng năm.
Bão thường kèm theo mưa lớn ở khu vực đồng bằng và trung du của lưu vực.
Lượng mưa trận do bão gây ra có thể lên tới (700 - 1.100 mm) tại trạm Thanh Hoá.
1.3.2. Đặc điểm khí tượng
1.3.2.1. Nhiệt độ.
Trên lưu vực sông Mã có hai vùng có chế độ nhiệt khác nhau:
- Vùng miền núi: Mùa lạnh bắt đầu từ tháng XI đến tháng II, mùa nóng từ tháng III
đến tháng X; nhiệt độ vùng này trùng với nhiệt độ vùng Tây Bắc (bảng 1.5).
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN Luận văn thạc sĩ 14 Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
- Vùng đồng bằng hạ du sông Mã: nhiệt độ bình quân năm cao hơn miền núi. Mùa
đông kết thúc sớm hơn Bắc Bộ từ 15 - 20 ngày, nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình
năm lại cao hơn ở vùng miền núi.
Trên toàn lưu vực, nhiệt độ bình quân năm dao đông từ 23
0
C đến 23,3
0
144,5
174,5
184 199,6
147,8
149,9
143,0
170,9
163,4
139,4
143,8
2896
Đồng bằng 86,5 48,1 54,6 1009 201,6
189,2
212,4
166,3
163,7
9
m
3
với mô đun M
o
là 25,3 l/s.km
2
và trên lãnh
thổ Lào 3,9.10
9
m
3
với M
o
là 11,4 l/s.km
2
.
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN Luận văn thạc sĩ 15 Chuyên ngành Phát triển nguồn nước
Hình 1.3. Sơ đồ đường đẳng trị mô đun dòng chảy năm trung bình thời kỳ
1977-2008 trong hệ thống sông Mã (phần lãnh thổ Việt Nam) [10]
Bảng 1.6. Lưu lượng trung bình tháng, năm trong thời kỳ quan trắc tại một số trạm
trong hệ thống sông Mã [10]
Thứ
tự
Trạm
Lưu lượng trung bình tháng, năm (m
Hạ
7.5 6.38 5.6 7.03 12.6 19.5 31.4 55 70.3 42.3 19.9 10.8 24
7 Vụ Bản 4.76 5.58 6.31 8.75 16 33.3 47.2 47.7 87.3 44 19.4 10.9 27.6
8
Mường
Hinh
41.8 33.6 28.8 29.5 40.1 80.6 114 190 237 162 89.5 57.1 92
9 Cửa Đạt 54.2 44.1 39.6 41.7 68.8 109 155 236 322 242 115 68 125
10
Bái
Thượng
58.2 51.2 47 50.7 84.2 134 165 259 372 304 133 80.5 145
11
Xuân
Khánh
32.1 18.7 13.3 18.6 52.5 126 160 289 456 296 155 60.3 140
12
Xuân
Thượng
0,38 0,30 0,25 0,28 0,66 1,01 1,08 2,49 5,96 4,28 1,29 0,52 1,54
13
Xuân
Cao
0,15 0,12 0,09 0,10 0,23 0,31 0,26 0,56 1,02 0,89 0,39 0,21 0,36
14
Lang
Chánh
5.6 4.72 4.17 4.59 7.7 13 17.7 26.2 34.5 25.5 15.9 7.82 14
Do mưa phân bố không đều trên lưu vực dòng chính sông Mã, nên dòng chảy
năm cũng phân phối không đều theo không gian và thời gian (bảng 1.6, hình 1.3).
Tại Cửa Đạt trên sông Chu, F = 6170 km
2
chiếm 21,7% diện tích lưu vực,
tổng lượng dòng chảy năm 4,03 tỷ m
3
chiếm 22,3% tổng lượng dòng chảy trên toàn
lưu vực (bảng 1.6).
Học viên: Thái Quỳnh Như - Cao học 18PN