tính mạch lạc trong văn bản phóng sự của vũ trọng phụng - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TRIỆU THỊ LEN Tên đề tài:
TÍNH MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN PHÓNG SỰ
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Người hướng dẫn: PGS. TS Đỗ Việt Hùng Thái Nguyên - 2012


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1. Mục đích nghiên cứu 5
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 5
5.1. Phương pháp phân tích tổng hợp 5
5.2. Phương pháp cấu trúc - hệ thống 5
5.3. Phương pháp miêu tả, so sánh, thống kê 6
5.4. Phương pháp cải biến 6
6. Cấu trúc của luận văn 6
Chƣơng 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CẦN THIẾT ĐỐI VỚI ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU 7
1.1. Mạch lạc 7
1.1.1 Khái niệm mạch lạc văn bản 7
1.1.2. Biểu hiện của mạch lạc 13
1.1.3. Khái niệm sự kiện 19
1.2. Vũ Trọng Phụng và phóng sự Vũ Trọng Phụng 19
1.2.1. Vài nét về Vũ Trọng Phụng 19
1.2.2. Khái niệm Phóng sự 21
1.2.3. Phóng sự của Vũ Trọng Phụng 22
1.3. Một số biểu hiện của mạch lạc trong phóng sự 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.3.1. Mạch lạc biểu hiện qua quan hệ thời gian 25
1.3.2. Mạch lạc biểu hiện qua quan hệ nguyên nhân 26
Chƣơng 2: MẠCH LẠC THEO QUAN HỆ THỜI GIAN 28
2.1. Cấu trúc thời gian trong phóng sự 28

được chú ý và bước đầu đem lại hiệu quả nhất định cho văn học. Nhiều vấn
đề của văn học đang được soi rọi dưới ánh sáng lý thuyết mới của ngôn ngữ
học hiện đại, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết hệ thống, lý thuyết về ngữ pháp văn
bản, diễn ngôn.
Ngôn ngữ học văn bản là lĩnh vực mới mẻ của ngôn ngữ học hiện đại.
Nhưng vấn đề cơ bản của nó đã và đang được tập trung nghiên cứu, trong đó
có tính mạch lạc văn bản. Mạch lạc là một trong những điều kiện để một tập
hợp câu nào đó trở thành một văn bản. Lý thuyết về mạch lạc đã được ứng
dụng vào nghiên cứu, phân tích văn chương và giúp ích rất nhiều cho sự lĩnh
hội văn bản với tư cách là một chỉnh thể nghệ thuật. Tuy nhiên, cho đến nay
những giải quyết về mạch lạc còn chưa đi đến thống nhất bởi tính phức tạp
của khái niệm này.
Đối với Văn bản phóng sự, người đọc rất khó nắm bắt được mạch lạc của
văn bản. Đi vào đề tài luận văn “Tính mạch lạc trong văn bản phóng sự của
Vũ Trọng Phụng” người viết muốn góp phần làm rõ thêm khái niệm mạch lạc,
đồng thời chỉ ra hướng triển khai mạch lạc mới trong văn bản nghệ thuật, trên
cơ sở đó đi vào lý giải sự phát triển tư duy của văn học trong những năm gần
đây dựa trên các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ nhằm cụ thể hóa khái
niệm mạch lạc trong văn bản văn học, vai trò tạo lập tính chỉnh thể văn bản
của mạch lạc, cách xác định mạch lạc trong một văn bản nghệ thuật.
2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Vì những lý do trên nên chúng tôi lựa chọn đề tài: Tính mạch lạc trong
văn bản phóng sự của Vũ Trọng Phụng để nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ
của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Mạch lạc văn bản đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên
thế giới và trong nước.

Nguyễn Thị Việt Thanh [36;74] về “Hệ thống kiên kết lời nói tiếng Việt”. Đối
tượng nghiên cứu là ngôn bản, đề cập khá sâu về những vấn đề khái quát
chung liên quan đến liên kết lời nói, tác giả đóng góp chủ yếu của công trình
là nghiên cứu các phương tiện liên kết trên ngữ liệu lời nói, tạo tính mạch lạc
cho lời nói tiếng Việt.
Năm 2006, quyển Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang
Ban [3] được tái bản (lần thứ ba). Tác giả đã đưa ra khoảng 15 cách hiểu về
khái niệm về văn bản, phân biệt khái niệm văn bản và diễn ngôn, ngôn ngữ
nói và viết đồng thời qua đó nêu lên những đặc trưng của một văn bản nói
chung. Trần Ngọc Thêm cũng đã đề cập đến cấu trúc đề thuyết – cấu trúc
mang ý nghĩa thông báo trong văn bản.
Năm 2007, nhà xuất bản Đại học Sư phạm đã cho ra mắt bạn đọc quyển
“Văn bản” của tác giả Diệp Quang Ban theo dự án đào tạo giáo viên THPT
của Bộ Giáo dục và Đào Tạo. Đây là công trình viết khá bao quát về các khía
cạnh của văn bản; trong đó có mạch lạc văn bản. Các tác giả Đỗ Hữu Châu
với Ngữ pháp văn bản [12]; Nguyễn Kim Thản với Nghiên cứu ngữ pháp
tiếng Việt [33]…
Gần đây, một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ
cũng nghiên cứu về tính mạch lạc của văn bản. Khóa luận tốt nghiệp có:
Vương Bá Cẩn (K42 Ngôn ngữ- ĐHKHXH và NV), Nguyễn Thị Xuân Nữ
(K43), Hoàng Thu Trang (K46)…Các luận văn: Mạch lạc theo quan hệ
nguyên nhân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (2002), Trường ĐHSP Hà
Nội, về sau phát triển thành luận án tiến sĩ: Mạch lạc trong truyện Kiều của
Nguyễn Du (2008) của tác giả Trần Thị Vân Anh. Luận văn thạc sĩ: Mạch lạc
trong một số truyện ngắn hiện đại của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga (2005),
trường ĐHKHXH và NV. Luận văn: Mạch lạc của phóng sự nghệ thuật Cạm
bẫy người của tác giả Nguyễn Mẫu Tú (2002), trường ĐHSP Hà Nội… Các
4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ hơn một số yếu tố của mạch lạc trong một số
phóng sự của Vũ Trọng Phụng, cụ thể là xem xét quan hệ thời gian và quan
hệ nhân quả như là một yếu tố của mạch lạc. Thông qua đó, chúng tôi nhằm
cụ thể hóa tính mạch lạc, góp phần làm sáng rõ nghệ thuật triển khai phóng sự
Vũ Trọng Phụng, xây dựng cách tiếp cận với mạch lạc nói chung và mạch lạc
văn bản phóng sự nói riêng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp, xây dựng cơ sở lý thuyết về mạch lạc trên cơ sở tổng hợp lý
thuyết về mạch lạc trong ngôn ngữ học.
- Vận dụng cơ sở lý thuyết đã xây dựng để xác định, phân loại và miêu tả
mạch lạc trong phóng sự Vũ Trọng Phụng trên hai phương diện: thời gian và
nhân quả. Trên cơ sở đó đưa ra cách xác định mạch lạc cho những trường hợp
khảo sát cụ thể.
- Nhận xét bước đầu về mạch lạc trong phóng sự Vũ Trọng Phụng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp
Luận văn trước hết đưa ra một hệ thống những luận điểm về mạch lạc
trong văn bản văn học; nhất là trong phóng sự, coi đó là cơ sở lý thuyết của
vấn đề mạch lạc, và tách hai loại quan hệ thời gian và nhân quả như là một
yếu tố của mạch lạc để ứng dụng trong việc khảo sát và phân tích, tổng hợp
các văn bản phóng sự.
5.2. Phƣơng pháp cấu trúc - hệ thống
Cấu trúc được hiểu là sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng được đặt


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Chƣơng 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CẦN THIẾT
ĐỐI VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Mạch lạc
1.1.1 Khái niệm mạch lạc văn bản
Mạch lạc - nhân tố quyết định tính chất “là văn bản” của một sản phẩm
ngôn ngữ - thời gian gần đây đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn
ngữ học trong và ngoài nước. Cho đến nay, lĩnh vực này không còn là mới mẻ
nhưng vẫn còn rất nhiều khía cạnh cần lưu ý, xem xét. Tính hấp dẫn của vấn
đề “mạch lạc” không chỉ ở giá trị của bản thân khái niệm mà còn ở sự khó
xác định mạch lạc trong một số nội dung văn bản theo phương pháp cấu trúc
của ngôn ngữ học. Thế nhưng hiểu thế nào là mạch lạc lại là điều không đơn
giản. Đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về mạch lạc và vấn đề có thể
chưa đóng lại.
Đi vào nghiên cứu mạch lạc trong một số văn bản phóng sự chúng tôi
muốn làm rõ thêm khái niệm mạch lạc, đồng thời góp phần tìm hiểu nội dung
văn bản theo phương pháp cấu trúc của ngôn ngữ học. Sau đây chúng tôi xin
trích dẫn một số định nghĩa tiêu biểu về mạch lạc trong phạm vi tư liệu thu
thập được.
D. Nunan, 1993, quan niệm mạch lạc (coherence) là cái tầm rộng mà ở
đó các lời nói được tiếp nhận là có “mắc vào nhau, chứ không phải là một
tập hợp câu nói không có liên quan với nhau (theo[9;133])
Theo I. P. Galperin, Mạch lạc - đó là những hình thức liên kết riêng biệt,
đảm bảo thể liên tục, nghĩa là sự liên tục lôgic (về thời gian và / hoặc không
gian); sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ
thể. [34; 148].

coi là đơn giản nhất, cách hiểu của D. Togeby và của K.Wales lại có phần
khái quát, cách hiểu truyền thống ký hiệu học Pháp mà đại diện tiêu biểu là A
. J Greimas là khá trìu tượng….thì cách hiểu của Bách khoa thư ngôn ngữ và
ngôn ngữ học được xem là có tính chất chuyên môn và thuyết phục hơn cả
bởi vì ở đây, các tác giả đã phần nào cho thấy thực chất của hiện tượng mạch
lạc, tức là đã tách mạch lạc ra khỏi liên kết.
Tác giả Galperin đã đưa ra một số nhận xét quan trọng về mạch lạc trong
văn bản văn học nói chung và trong văn bản phóng sự nói riêng như sau:
Phương diện tao dựng mạch lạc trong văn bản văn chương phong phú và
nhiều hình vẻ, trong loại văn bản này các dạng mạch lạc lôgic, tâm lý, và kết
cấu hình thức đan quyện nhau chặt chẽ đến nỗi có khi khó mà phân định loại
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

hình cho chúng. “Những phương tiện liệt kê của mạch lạc được xem là những
phương tiện lôgic bởi vì chúng được sắp xếp vào những khái niệm lôgic –
triết học; những khái niệm về chuỗi liên tục, về quan hệ thời gian, không gian,
nhân quả. Những phương tiện này được giải mã dễ dàng bởi vậy không kìm
giữ sự chú ý của người đọc, chỉ trừ những trường hợp muốn hay không vẫn
phát hiện ra sự tương ứng giữa các đại diện được kết chuỗi với chính những
phương tiện mạch lạc”. [11; 158].
Tác giả đã hệ thống hóa một số dạng thức của mạch lạc trong văn bản
nghệ thuật như sau:
+ Mạch lạc liên tưởng: “Cơ sở mạch lạc liên tưởng là những đặc điểm
khác của kết cấu văn bản, đó chính là hồi cố, hàm nghĩa tình thái đánh giá chủ
quan. Mạch lạc liên tưởng không phải bao giờ cũng nắm bắt được. Tuy nhiên,
đôi khi nó cũng xác định liên hệ những hiện tượng miêu tả, những hiện tượng
này vốn cực kỳ quan trọng cho việc giải mã thông tin nội dung quan niệm”.
+ Mạch lạc hình tượng: “ Được hiểu là những hình thức liên kết cùng

trong tình huống bên ngoài văn bản.
- Mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.
Theo TS. Nguyễn Thị Thìn, mạch lạc của văn bản viết là sự thống hợp
của những phương diện sau: [42]
- Sự thống nhất chủ đề và đích giao tiếp của văn bản
Trong đó chủ đề được hiểu là phạm vi hiện thực được bàn tới trong toàn
văn bản. Còn đích giao tiếp gồm có đích nhận thức, đích bộc lộ, đích hành
động, đích tiếp xúc. Tùy vào từng thể loại văn bản cụ thể mà loại đích giao
tiếp nào sẽ được đặt lên hành đầu.
Sự thống nhất chủ đề và đích giao tiếp trên phạm vi toàn văn bản tạo nên
“tầm rộng và chiều sâu” của văn bản, trong đó các phần, các câu “được tiếp
nhận như là có mắc vào nhau”.
- Trình tự triển khai chủ đề văn bản đảm bảo tính hợp lý.
Tính hợp lý ở đây được hiểu là; có thể lý giải được từ phía người tạo lập
văn bản, và có thể được tiếp nhận được từ phía người tiếp nhận. Trình tự triển
khai chủ đề qua các phần của văn bản có thể được lý giải theo quan hệ thời
gian, quan hệ không gian, quan hệ nhận quả, quan hệ liên tưởng….giữa các
thành tố của văn bản.
- Những mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố nội dung của văn bản.
11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Ngoài quan hệ nội dung mệnh đề của văn bản, mạch lạc còn được tạo
bởi quan hệ nội dung dụng học (nội dung bộc lộ, nội dung hành động….) của
các thành tố tạo văn bản ở tầng nghĩa cụ thể trực tiếp và cả ở tầng nghĩa sâu
hàm ẩn.
Với đối tượng là văn bản nghệ thuật, bên cạnh những thành tố nội dung
thường được trình bày theo trình tự trật tự trước sau (như sự kiện, thời gian,
nguyên nhân – kết quả….) bằng những khúc đoạn lời nói kế tiếp còn có

lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên
kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn.”
Còn theo Diệp Quang Ban thì: “Cách nhìn chung nhất hiện nay là những
từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu – phát ngôn làm
thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết,
còn những mỗi quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các
câu thì thuộc về mạch lạc”. [5,70]
Theo Bùi Minh Toán thì lại: “Trước đây, thuật ngữ liên kết được dùng
để chỉ chung cả phương diện liên kết nội dung lẫn liên kết hình thức của văn
bản. Gần đây, hai phương diện này được gọi bằng thuật ngữ khác để phản ánh
đúng đắn hơn bản chất của các vấn đề nghiên cứu. Vì thế, phương diện liên
kết hình thức vẫn được gọi chung là liên kết. Mạch lạc trong văn bản được thể
hiện cụ thể ra thành sự thống nhất về đề tài, sự nhất quán về chủ đề và sự chặt
chẽ về lôgic”. [34, 64]
Khái niệm mạch lạc văn bản tuy chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên
cứu đều xem mạch lạc là điều kiện và đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản
đích thực. Tuy nhiên, mạch lạc vẫn là một cái gì đó khó nắm bắt, bởi vì nó
thuộc về tầm rộng và chiều sâu cấu trúc nội dung toàn văn bản. Nhưng chắc
chắn rằng, chính mạch lạc chứ không phải liên kết khiến cho một sản phẩm
ngôn ngữ trở thành một văn bản, hay một diễn ngôn. Điều này cũng đã được
các nhà ngôn ngữ học như: Lê Quang Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện
Giáp, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Việt Thanh, Nguyễn Thị Thìn… nhắc đến
song cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu những khái niệm ban đầu. Gần
đây đã có một số khóa luận tốt nghiệp và luận văn chuyên ngành Ngôn ngữ
bắt đầu đi vào nghiên cứu mạch lạc nhưng việc phân tích vấn còn có phần sơ
sài, mới chỉ dừng lại ở việc tìm cách minh chứng cho những lý luận đã có,
chưa đề cập được những phương diện cụ thể khi đối tượng nghiên cứu lại quá
rộng, vừa phức tạp, trừu tượng lại vừa khó nắm bắt.
13


b) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài (chủ đề) các câu
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Chủ đề giữa các câu được duy trì theo hai cách: duy trì chủ đề hoặc triển
khai chủ đề.
+ Duy trì chủ đề: Là trường hợp một việc, một vật, một hiện tượng nào
đó được nhắc lại trong các câu khác nhau với tư cách là chủ thể của các câu
đó. Các phương tiện ngôn ngữ diễn đạt đề tài này trong các câu khác nhau có
thể chỉ là một và được lặp lại hoặc cũng có thể là những yếu tố có bề ngoài
khác nhau.
Xét về mặt liên kết, sự duy trì chủ thể được thực hiện nhờ: phép lặp lại
từ vựng, phép thế bằng đại từ, phép tỉnh lược.
Ví dụ 1:
“Ngồi trầm ngâm với bộ mặt một người đi đưa đám ma, anh chỉ gượng
nói, gượng cười. Có lẽ anh đang nghĩ đến mẻng của anh chẳng ngờ lại là
một “chim mồi” của một người bạn của ông Ấm B là Sinh.
Thấy vậy, tôi tìm lời khuyên giải:
- Đó cũng là do cái luật thừa trừ của Tạo vật. Anh còn nỡ thịt cả ông cụ
để lấy tiền nuôi gái thì gái nó rất có thể thịt lại anh là nhân tình để lấy tiền
nuôi thân…” (27;148)
Trong ví dụ trên, phép lặp từ vựng, phép thế đại từ đã được sử dụng để
duy trì chủ đề: đó – gái thịt anh; anh – nhân tình; mẻng –chim mồi – gái.
Ví dụ 2:
“Cái Đũi còn nói mãi về con mẹ chủ khốn nạn ấy để khen giời là có
mắt chứ không mù… Nó kể xấu chủ cũ nó nhiều đến nỗi khiến tôi mất cả
thương hại nó và rồi thấy chối tai…” ( ;320)
Phép thế: Cái Đũi – nó; con mẹ chủ khốn nạn – chủ cũ.
+ Triển khai chủ đề: là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu,

cũng như cái búa của bác thợ rèn, cũng như cái cổ của một ông Nghị viên
Việt Nam. Trong cái kĩ nghệ lấy Tây, thợ chỉ làm việc trên giường.”
(27;216)
Cách 3: Triển khai nhiều đề xuất phát từ một đề chung lớn hơn, những
đề nhỏ hơn được gọi là những đề phái sinh:
Ví dụ: Trong phóng sự Cạm bẫy người, Ấm B là người có quyền uy, là
người tài giỏi trong bạc bịp. Cái uy, cái tài ấy được biểu hiện trong 14 chương
của phóng sự.
- Ấm B là người tài chơi bạc bịp:
16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

+ Có nhiều thủ đoạn, nhiều ngón bịp tinh xảo: lối chơi hụt nọc, hụt cửa,
giác mùi, giác bóng, đòn ống, đòn Vân Nam; những tuyệt chiêu: đòn trinh
thám, đòn trá hàng…
+ Khí giới: quân xúc xắc thủy ngân, quân xúc xắc lưỡng diện, áo có ống
tay ba lần vải…
+ Khả năng “biến hóa” về hình dạng: ông Cửu, ông nghị, con mòng béo
- Ấm B là người quyền uy trong giới cờ bạc:
+ Ấm B phân công công việc cho các đồ đệ tùy thuộc vào năng lực, sở
trường như “thợ săn” chuyên đi giết “mòng”, các chim mồi chuyên đi kiếm
“chim mòng két” để thợ săn “làm thịt”, dưới nữa có cả trăm tên tạ, những
anh đầu trâu mặt ngựa, chuyên môn đi đón khách cho sòng…
+ Nắm quyền điều hành guồng máy hoạt động của làng bịp gồm: “Hai
đám xì, một đám bất, một đám xóc đĩa và một đam tổ tôm. Đám xì ở Hàng
Kèn đã co Ba Mỹ Ký Với Bập đánh giác… Đám xì ở đường Cột Cờ đã có tay
Bỉnh, tay Sinh đánh đòn Vân Nam. Còn đám bất ở phố Hàng Bông có lão
Cường hoặc đánh lớp hoặc đánh mẫu tử…” (27;85). Dưới tài điều khiển của
Ấm B, các cuộc bạc đều thắng lợi. Dù đối thủ có ghê ghớm đến mấy, các cuộc

chơi với người nhân tình An-nam. Con thứ tám bỏ tôi vì không bắt được tôi trả nhiều
tiền….Còn con thứ chín. Nó nhà quê mà tính khôn làm sao…” (27;233)
d) Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu
Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu được thể hiện qua:
trình tự theo quan hệ nguyên nhân, trình tự theo quan hệ thời gian, trình tự
theo quan hệ không gian.
+ Mạch lạc biểu hiện theo quan hệ thời gian.
Ví dụ: “Giữa lúc này, có hai vợ chồng chú khách bán lê, táo ở phố Hàng
Buồm, sau vụ tết Nguyên Đán rất phát tài – có lẽ thấy trong hòm nhiều bạc
quá mà phát ngốt – cũng ngứa ngáy tìm cách chơi xuân ” (27;124)
+ Mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân.
Ví dụ: “Đã tức vì thua tôi lại còn tức thêm vì chúng nó đãi tôi một cách
quá đáng nữa.” (27;167).
1.1.2.2. Mạch lạc diễn ngôn
Trong diễn ngôn, mạch lạc biểu hiện ở khả năng dung hợp nhau giữa các
hành động nói. Hành động nói là hành động được thực hiện trong khi nói như:
18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

hành động hỏi, ra lệnh, hứa hẹn, chào, cảm ơn, xin lỗi… Có những hành động
nói thường phải đi đôi với nhau và cũng có những hành động nói không thể
ăn nhập với nhau. Khi các hành động nói đi đôi với nhau thì bản thân chúng
cũng tạo ra được mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc những chuỗi câu nối tiếp
nhau. Chẳng hạn hành động hỏi thường kéo theo hành động trả lời, hành động
mời thường kéo theo hoặc là hành động chấp nhận lời mời hoặc là hành động từ
chối lời mời, Hành động chào được tiếp theo bằng hành động chào đáp lễ…
Trong câu nói, diễn đạt các hành động nói nối tiếp nhau một cách chấp
nhận được có thể chứa những từ ngữ cho thấy chúng liên kết với nhau mà
cũng có thể không chứa những từ liên kết chúng, nhưng chúng vẫn có thể đi

theo quan hệ nguyên nhân cũng chính là quan hệ nguyên nhân giữa các sự
kiện. Theo mỗi liên hệ sự kiện, tác giả có thể dẫn dắt người đọc về quá khứ,
hiện tại hoặc tương lai……Chính vì thế việc khảo sát các sự kiện trong văn
bản là không thể thiếu.
Sự kiện theo lý luận văn học là những mối liên hệ của thế giới cho thấy
các phương tiện khác nhau của nó. Theo mỗi liên hệ của sự kiện, tác giả có
thể dẫn dắt người đọc về quá khứ, hiện tại hoặc tương lai. [20,375]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thìn thì lại cho rằng: Sự kiện với tư cách là
một loại thành tố nội dung của văn bản tự sự, được hiểu là: Một hoặc một tổ
hợp hành động vật lý/tâm lý, nói năng của một hoặc một số nhân vật đánh dấu
sự biến đổi ít nhiều trạng thái hiện thực trong thế giới diễn ngôn, góp phần tạo
nên khung sườn của toàn bộ câu chuyện, có giá trị trong việc xác định ý nghĩa
của văn bản. [42]
Như vậy, chúng ta thấy ở đây xuất hiện hai sự kiện đó là: Sự kiện hành
động và sự kiện tâm lý. Sự kiện hành động bao gồm sự kiện hoạt động ngôn
ngữ và sự kiện vật lý: ăn uống, chạy, nhảy, nói năng… sự kiện tâm lý là các
hoạt động nội tâm như suy nghĩ, cảm nhận, lo lắng, day dứt… trong đại đa số
văn bản văn học, hai loại sự kiện này cũng được trình bày kết hợp với nhau
rất chặt chẽ. Không thể có một văn bản phóng sự nào hoàn toàn là các sự kiện
hành động hoặc hoàn toàn là các sự kiện tâm lý, nhưng tùy vào phong cách
tác giả tùy vào mục đích là phương thức triển khai chủ đề mà tác giả sử dụng
loại sự kiện này hay sự kiện kia nhiều hơn.
1.2. Vũ Trọng Phụng và phóng sự Vũ Trọng Phụng
1.2.1. Vài nét về Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi
Việt Nam hiện đại nói chung và dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng.
20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


thấy trong bất cứ xã hội nào mà tham nhũng và tiền bạc làm chủ, xưa cũng
như nay, Đông cũng như Tây.
21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.2.2. Khái niệm Phóng sự
Các nhà nghiên cứu có rất nhiều cách định nghĩa về phóng sự. Chúng tôi
dẫn một số định nghĩa như sau:
Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Phóng sự là một thể văn tư liệu. Nó thường
sử dụng biện pháp nghiệp vụ báo chí như điều tra, phỏng vấn, đối thoại, ghi
chép tại chỗ… nhằm cung cấp những thông tin chính xác và nóng hổi tính
thời sự xung quanh những vụ việc có ý nghĩa nào đó đang được công chúng
tìm hiểu và mong muốn giải quyết. [24;63]
Tác giả Đức Dũng: “Phóng sự là một thể loại đứng giữa văn học và báo
chí có khả năng trình bày, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển
hình trong một quá trình phát sinh, phát triển dưới dạng một bức tranh toàn
cảnh, vừa khái quát, vừa chi tiết, vừa sống động với vai trò quan trọng của
nhân vật trần thuật và bút pháp linh hoạt, ngôn ngữ giàu chất văn học.”
[(theo Nguyễn Mậu Tú) 35;83]
Phóng sự nghệ thuật khác phóng sự thông tấn báo chí. Theo Hà Minh
Đức: “Phóng sự văn học ngoài việc cung cấp con số thống kê, những tư
liệu, còn miêu tả những bức tranh cụ thể về đời sống, trình bày vấn đề xã
hội một cách toàn diện trong sự vận động cụ thể của nó.” [(theo Nguyễn
Mậu Tú) 35;83]
Là một thể loại đặc biệt, kết hợp với bút pháp báo chí và văn học, phóng
sự nghệ thuật có những đặc trưng nổi bật:
- Tính thời sự bức xúc.
- Tính chân thực.
- Tính hấp dẫn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status