Luận văn Thạc sĩ Tính mạch lạc trọng các văn bản chính luận trong chương trình ngữ văn THPT - Pdf 64

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________

PHẠM THỊ PHỤNG

TÍNH MẠCH LẠC TRONG CÁC VĂN BẢN
CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

HẢI PHÒNG - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
_________________

PHẠM THỊ PHỤNG

TÍNH MẠCH LẠC TRONG CÁC VĂN BẢN
CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN


và nghiên cứu của học viên Phạm Thị Phụng tại trường Đại học Hải Phòng.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.
TS. Nguyễn Thị Hiên – người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học
Hải Phòng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Ngôn ngữ học, phòng
Quản lí khoa học và đào tạo sau đại học của trường Đại học Hải Phòng.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ,
động viên, tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn.

Hải Phòng, ngày

tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Phạm Thị Phụng


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ii
MỤC LỤC ...................................................................................................iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ..........................................................................vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN..... 9
1.1. Mạch lạc.................................................................................................. 9

Ngữ văn THPT............................................................................................. 56
3.2. Vai trò của lập luận ............................................................................... 58
3.2.1. Vai trò của các phương thức lập luận ................................................. 58
3.2.2. Sắp xếp và lựa chọn luận cứ ............................................................. 73
3.2.3. Thủ pháp lập luận.............................................................................. 75
3.3. Tiểu kết chương 3.................................................................................. 78
KẾT LUẬN.................................................................................................. 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 82
PHỤ LỤC .................................................................................................... 86


v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Giải thích

THPT

Trung học phổ thông

Đtđ

Đại tiền đề

Ttđ

Tiểu tiền đề

Kl

Thống kê các phép liên tưởng trong các văn bản chính luận

45

2.3

Mối quan hệ nhân quả trong “Hiền tài là nguyên khí của

50

quốc gia”
2.4

Mối quan hệ nhân quả trong văn bản “Về luân lí xã hội

51

ở nước ta”
3.1

Bố cục trình bày văn bản trong các văn bản chính luận

55

trong chương trình Ngữ văn THPT
3.2

Phương thức lập luận ở cấp độ văn bản trong các tác
phẩm chính luận trong chương trình Ngữ văn THPT


34

“Tuyên ngôn độc lập”
3.1

Lập luận về luận đề chính nghĩa cho cuộc khởi nghĩa

60

Lam Sơn
3.2

Lập luận về tội ác của giặc Minh

61

3.3

Lập luận về buổi đầu cuộc kháng chiến chống quân Minh

63

3.4

Lập luận về quá trình phản công và chiến thắng của quân

64

ta.
3.5

nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003”
3.10

Lập luận toàn văn bản “Thông điệp nhân ngày thế giới
phòng chống AIDS, 1-12-2003”

72


1
MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
1.1. M. Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Tuy
nhiên tùy vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi thể loại văn học có đặc
điểm riêng. Văn nghị luận cũng vậy. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa
“Thể văn nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời
sống khác nhau: chính trị, xã hội, triết học, văn hóa. Mục đích của văn nghị
luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình, truyền bá tức thời một tư tưởng, quan
điểm nào đó.” [ 22, 56]. Văn bản chính luận là một thể loại của nghị luận.
Theo sách giáo khoa Ngữ văn 11 thì “Phong cách ngôn ngữ chính luận là loại
phong cách ngôn ngữ dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ tư tưởng,
lập trường, thái độ đối với những vấn đề thiết thực nóng bỏng của đời sống,
đặc biệt trong lĩnh vực chính trị xã hội, những văn bản này gọi chung là văn
bản chính luận” [Tài liệu khảo sát, 3, tr.11]. Đặc điểm của ngôn ngữ chính
luận là thường sử dụng lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, đa dạng về các phương
thức biểu hiện và các phương tiện nghệ thuật. Vì vậy nắm được đặc trưng của
văn bản chính luận và từ đó rút ra các phương pháp dạy học văn bản chính
luận là điều vô cùng cần thiết.
Thế giới hiện nay đang chứng kiến xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh

Mạch lạc là một vấn đề được giới nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài
nước quan tâm. Khái niệm mạch lạc văn bản là một vấn đề hoàn toàn không
mới nhưng lại rất phức tạp, được đề cập trong những công trình nghiên cứu.
Năm 1989, G.M. Green là người xem xét mạch lạc trên cơ sở của
nguyên tắc cộng tác do H.P. Grice đề xướng. Năm 1993, Nunan đã định
nghĩa mạch lạc như sau: “Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp
nhận như là “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát
ngôn không có liên quan đến nhau” [ 3, tr.135].
Tại Việt Nam, những công trình nghiên cứu về mạch lạc có nhưng chưa
nhiều. Chúng ta phải kể đến công trình nghiên cứu đầu tiên là Hệ thống liên
kết văn bản tiếng Việt (1985) của Trần Ngọc Thêm. Trong công trình này, tác


3
giả đề cập đến liên kết và hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt. Tác giả
cho rằng “văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử.
Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc
của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó
với những câu xung quanh nói riêng và toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là
mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [35, tr.19]. Khái niệm liên kết
của tác giả trong thời điểm lúc bấy giờ là một phương diện của tính mạch lạc
của nhiều nhà ngôn ngữ học hiện nay. Do vậy, công trình này có thể được
xem là công trình đầu tiên ở Việt Nam có đề cập đến mạch lạc.
Trong công trình Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998), Diệp
Quang Ban đã trình bày về vấn đề mạch lạc văn bản một cách khá chi tiết.
Năm 2005, với quyển Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, tác giả đã
dành hẳn chương tám để viết về Mạch lạc đối với văn bản với hai nội dung cụ
thể: mạch lạc đối với văn bản và những biểu hiện của mạch lạc. Trong cuốn
sách này, tác giả cho rằng “Mạch lạc là một khái niệm có ngoại diên bao quát
rất rộng, nó bao gồm tất cả các kiểu cấu trúc có bản chất khác nhau, liên

văn bản sau:
1) Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
2) Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của
Phạm Văn Đồng
3) Nhìn về vốn văn hóa dân tộc của Trần Đình Hượu
4) Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1 -12- 2003 của
Cô phi-an-nan
5) Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm
6) Xin lập khoa luật - Trích Tế cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ
7) Về luân lí xã hội ở nước ta của Phan Châu Trinh
8) Ba cống hiến vĩ đại của Các – Mác của Ăng-ghen
9) Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của Nguyễn
An Ninh
10) Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung
11) Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.


5
a) Trên phương diện tiếp nhận phê bình văn học, có khá nhiều tác giả
viết về các tác phẩm văn chính luận này.
Mấy năm gần đây có khá nhiều cây bút viết về các tác phẩm văn chính
luận này như Phan Danh Hiếu trong cuốn “Cẩm nang luyện thi Quốc gia”
hay Vũ Dương Quý – Lê Bảo trong cuốn “Tác phẩm văn chương trong
trường phổ thông - những con đường khám phá”, Phan Cự Đệ với “Tác phẩm
văn học – Bình giảng và phân tích” ... Các tác giả này đều tiếp cận tác phẩm
từ phương diện nội dung, chứ chưa đi sâu nghiên cứu những áng văn chính
luận này trên phương diện tính mạch lạc của văn bản.
Một số bài báo của các nhà nghiên cứu như Ngày Quốc khánh nghĩ về
bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh của Khánh Văn hay
Những giá trị của bản “Tuyên ngôn độc lập” (1945) của Trần Dân Tiên là

chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu văn bản chính luận một cách chung chung mà
chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về tính mạch lạc trong các
văn bản này. Như vậy, cần thiết phải có những công trình mang tính chất
chuyên luận đi sâu nghiên cứu và giải quyết những vấn đề có liên quan đến
tính mạch lạc trong các tác phẩm chính luận.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Chúng tôi lựa chọn, nghiên cứu đề tài “Tính mạch lạc trong các văn
bản chính luận trong chương trình Ngữ văn THPT” nhằm mục tiêu: vận dụng
lí thuyết về mạch lạc để phân tích, tìm hiểu tính mạch lạc của văn bản thuộc
thể loại văn chính luận trên cứ liệu các tác phẩm chính luận được giảng dạy
trong chương trình Ngữ văn THPT, từ đó có thể đề xuất và vận dụng những
biện pháp tiếp cận tác phẩm văn chính luận nói riêng, các tác phẩm văn học
trong nhà trường nói chung từ phương diện mạch lạc văn bản.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu
của luận văn gồm:
1. Hệ thống hóa các nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản, mạch lạc văn
bản, thể loại văn chính luận … làm căn cứ lý thuyết để có thể vận dụng vào


7
khảo sát, đánh giá tính mạch lạc của các văn bản văn chính luận trong chương
trình Ngữ văn THPT.
2. Khảo sát, phân tích một cách cụ thể, khoa học nguồn ngữ liệu - các
tác phẩm chính luận trong chương trình Ngữ văn THPT nhằm xác định, chỉ ra
được các biểu hiện mạch lạc trong từng văn bản chính luận được khảo sát.
3. Đánh giá được những đặc điểm riêng, sáng tạo và hiệu quả nghệ
thuật của mỗi văn bản chính luận nhờ sự sử dụng các yếu tố, phương tiện đảm
bảo tính mạch lạc của chúng. Đưa ra những kiến nghị, đề xuất về cách tiếp

Qua quá trình nghiên cứu, khảo sát tính mạch lạc trong các văn bản
chính luận, chúng tôi sẽ miêu tả những đặc điểm cơ bản về tính mạch lạc
trong văn chính luận trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT.
5.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trong quá trình phân tích, chúng tôi sẽ tổng hợp những đặc điểm về
tính mạch lạc trong các văn bản từ đó nhận xét, đánh giá về những đặc điểm
nổi bật về văn chính luận trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
5.4. Thủ pháp so sánh – đối chiếu
Thủ pháp so sánh được sử dụng để thấy rõ nét sự tương đồng và khác
biệt của các văn bản chính luận trong sách Ngữ văn THPT so với các tác
phẩm chính luận trong lịch sử xưa và nay, để từ đó thấy được sự sáng tạo, sự
cách tân, và bản sắc riêng của các tác giả trong văn chính luận THPT.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và một số vấn đề liên quan
Chương 2: Mạch lạc xét theo mối quan hệ giữa đề tài và chủ đề trong
các văn bản chính luận thuộc chương trình Ngữ văn THPT
Chương 3: Mạch lạc xét theo mối quan hệ lập luận trong các văn bản
chính luận thuộc chương trình Ngữ văn THPT


9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1. Mạch lạc
1.1.1. Khái niệm về mạch lạc
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, các nhà ngôn ngữ học khi nghiên
cứu về văn bản đã sử dụng thuật ngữ liên kết để chỉ chung cả hai phương diện
liên kết nội dung và liên kết hình thức của văn bản. Theo đó, liên kết nội dung

suy ra một trình tự thực hiện cái dàn ý được suy ra để đạt đến cái mục tiêu
được suy ra” (dẫn theo [5, tr 57]). Đồng thời, G.M. Green thừa nhận có nhiều
cách tiếp cận khác nhau đối với mạch lạc. Do vậy, cách tiếp cận của ông đối
với mạch lạc có thể gọi là mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác.
Năm 1993, Nunan đã định nghĩa mạch lạc như sau: “Mạch lạc là tầm
rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là “mắc vào nhau” chứ không
phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan đến nhau” (dẫn
theo [3, 135]).
Khi bàn về mạch lạc trong văn học, K. Wales viết: “Để cho một văn
bản hoặc một diễn ngôn nào đó có tính mạch lạc thì nó phải có nghĩa và nó
cũng phải có tính chất của một chỉnh thể và phải được định hình tốt. Mạch
lạc được coi là một trong những điều kiện hoặc những đặc trưng hàng đầu
của một văn bản: ngoài mạch lạc, một văn bản không đích thực là một văn
bản”. (dẫn theo [4, tr. 61]) Tác giả đã đưa ra ví dụ về một văn bản có sự liên
kết nhưng không có mạch lạc như sau:
“Một người đàn ông bước vào một quán “bar”. Các quán “bar” bán
bia ngon. Thứ bia này được chế biến ở Đức. Đức đã đi vào cuộc chiến với
Anh. ...”
Như vậy, với K. Wale, mạch lạc là yếu tố có tác dụng quyết định đối
với việc một chuỗi câu trở thành văn bản.
Tại Việt Nam, có một số định nghĩa về mạch lạc như sau:
Theo Từ điển tiếng Việt thì “Mạch lạc là dây mạch chạy trong người,
nghĩa rộng là cái gì liên tiếp nhau không dứt.” (dẫn theo [4, tr.165]).
Theo Hoàng Phê, mạch lạc được xem là “Sự nối tiếp theo một trật tự


11
hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung diễn đạt.” [34, tr 585]
Theo sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7: “Văn bản cần phải mạch lạc. Một
văn bản mạch lạc là một văn bản mà chủ đề của nó được biểu hiện qua các

câu với quan niệm “Khi ngôn bản gồm từ hai câu trở lên, giữa các câu có một
quan hệ nhất định khiến chúng không phải là bất kỳ đối với nhau: giữa chúng
có một mạch lạc” [25, tr.3] và sự mạch lạc giữa các câu này được thực hiện
bằng các phương tiện từ ngữ, ngữ pháp trong các câu và bằng bố cục. Công
trình nghiên cứu này đã bước đầu nghiên cứu một số phương diện tạo nên tính
mạch lạc
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu chưa đưa ra một quan điểm thống
nhất. Tuy nhiên, các tác giả đều coi mạch lạc là điều kiện và là đặc trưng cơ
bản nhất của một văn bản đích thực. Nói cách khác, mạch lạc là yếu tố quyết
định làm cho chuỗi câu trở thành văn bản.
Theo các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể phân biệt ba cách nhìn nhận
về mạch lạc trong lí thuyết ngôn ngữ. Thứ nhất, mạch lạc là liên kết nội dung
của các phát ngôn bao gồm cả liên kết nội dung mệnh đề và nội dung dụng
học. Thứ hai, mạch lạc là phần bổ sung cho liên kết để lí giải tính văn bản,
phân biệt văn bản thống nhất trong một chỉnh thể với tập hợp của những phát
ngôn hỗn độn. Mạch lạc là những yếu tố thuộc ngữ cảnh (contex) và ngữ vực
(registes) góp phần gắn kết các thành tố cấu thành văn bản. Và thứ ba, mạch
lạc là sự gắn kết, bao trùm liên kết nội dung các phát ngôn. Liên kết nội dung
của các phát ngôn chỉ là biểu hiện của mạch lạc. Cách nhìn này xuất phát từ
chỉnh thể văn bản trong mối quan hệ với các thành tố cấu tạo của nó.
Có thể thấy, khi đề cập đến mạch lạc, các nhà nghiên cứu đều khẳng
định, mạch lạc là đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản. Mạch lạc có thể
được hiểu là sự gắn kết của các yếu tố tạo nên nội dung văn bản; cũng có thể
được hiểu là sự hoạt động của một tập hợp các thao tác đảm bảo tính tích hợp
về nhận thức đối với văn bản được thể hiện trong cách xác lập những quan hệ
logic, chẳng hạn như những quan hệ về nguyên nhân - kết quả, không gian thời gian, tương phản, nhượng bộ... Mạch lạc là kết quả hoạt động tương tác
của nhận thức được thể hiện trong văn bản.


13


14
người đọc. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một số yếu tố cơ bản khác giúp
người đọc/ người nghe xác định được chuỗi câu mạch lạc và chuỗi câu không
mạch lạc.
- Theo cách nhìn thống nhất hiện nay, mạch lạc là mạng lưới gắn kết
những nội dung được trình bày giữa các từ trong câu, các câu trong đoạn và
các đoạn trong văn bản một cách hợp lí, chặt chẽ trong một tổng thể có nghĩa.
Những hiểu biết khái quát trên đây về mạch lạc là cơ sở để chúng tôi
tìm hiểu mạch lạc trong việc tiếp cận và nghiên cứu sự mạch lạc trong tác
phẩm văn chính luận trong trường THPT.
1.1.2. Những biểu hiện của mạch lạc
Những cách hiểu về mạch lạc cho thấy mạch lạc là một khái niệm rất
phức tạp bởi trong nội hàm khái niệm có các yếu tố trừu tượng. Tuy vậy, tìm
hiểu những biểu hiện của mạch lạc sẽ làm rõ hơn, cụ thể hơn những sự trừu
tượng, phức tạp ấy… Trong cuốn sách “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của
văn bản” (2009) tác giả Diệp Quang Ban đã đề cập đến các biểu hiện sau đây
của mạch lạc:
1.1.2.1. Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu
Trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, mạch lạc được biểu hiện
ở hai khía cạnh: một là trong quan hệ nghĩa giữa vật nêu ở chủ ngữ với đặc
trưng nêu ở vị ngữ, hai là trong quan hệ cú pháp giữa động từ và bổ ngữ.
Ví dụ : Cái bàn tròn này vuông
Về mặt ngữ pháp thì câu trên là đúng nhưng về mặt ý nghĩa thì chúng
không chấp nhận được do có sự mâu thuẫn giữa đặc trưng tròn vốn đã được
gán cho cái bàn trong cụm danh từ cái bàn tròn này với đặc trưng vuông được
dùng để miêu tả chính cái bàn tròn ấy. Hai đặc trưng tròn và vuông không thể
dung hợp được với nhau. Vì vậy câu này không mạch lạc.
1.1.2.2. Mạch lạc được thể hiện trong quan hệ giữa đề tài với chủ đề
Mạch lạc trong quan hệ giữa đề tài của các câu được thực hiện theo hai

sử dụng nói chung. Cơ sở lô-gic là các kiểu quan hệ lô-gic thích hợp và số
lượng đề tài được triển khai thỏa mãn tính cần và đủ.
Triển khai đề tài có thể được thực hiện bằng các phương tiện thuộc các


16
phép liên kết là phép liên tưởng và phép so sánh.
Ví dụ:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Đề tài của bài ca dao chính là nỗi nhớ quê nhà của chàng trai xa quê
được biểu hiện qua phép liên tưởng. Đi xa, anh nhớ những món ăn giản dị,
dân dã của quê hương, đó là món “canh rau muống”, là “cà dầm tương”. Đề
tài ấy được phát triển lên ở hai câu cuối, từ nhớ nhà, nhớ quê, nhớ hương vị
quê nhà anh nhớ tới người con gái thôn quê. Nỗi nhớ ấy tuy giản dị nhưng
sâu sắc, đằm thắm, thiết tha khiến người ra đi nhớ mãi không quên.
1.1.2.3. Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các thành phần nêu đặc trưng
ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
Quan hệ nghĩa giữa các câu (mệnh đề) phải phù hợp với nhau, tạo nên
một mạch chung trong văn bản. Nếu vi phạm điều này thì người tiếp nhận văn
bản thấy không mạch lạc.
Ví dụ: (1) Bố tôi là bộ đội. (2) Mẹ tôi là giáo viên.(3) Em tôi đang chơi bi.
Về ngữ pháp, các câu (1), (2), (3) là các câu đúng ngữ pháp. Tuy nhiên
các câu trên sẽ không đúng với logic nhận thức của con người khi câu (1) và
(2) nói về phạm trù nghề nghiệp còn câu (3) lại nói về phạm trù hoạt động.
Chính vì thế các câu trên không có sự mạch lạc.
1.1.2.4. Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lí giữa các câu (mệnh đề)
Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lí giữa các câu (mệnh đề) hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status