thiết kế trang web hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố và kiểm tra đánh giá kiến thức chương hạt nhân nguyên tử - vật lý 12 (nâng cao) - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

Thai Nguyen university
The college of education


NGUYỄN DUY TRƯỢNG designing a website to support student's
revision and consolidation and testing and
assessment in chapter "atomic nuclear" -
physics 12 ( advanced programme
Major: Theories and methods of teaching physics
Code: 60.14.10
Summary of master’s education thesis Supervisor: Associate Professor. Dr. Pham Xuan Que
Thai nguyen- 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên


11
1.1.4.2. Ôn tập ngoài giờ lên lớp 12
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
1.1.5. Các phương pháp ôn tập ngoài giờ lên lớp 13
1.1.5.1. Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà có tác
dụng giúp học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức 13
1.1.5.2. Hoạt động ngoại khóa góp phần tự ôn tập, củng cố kiến thức 14
1.1.6. Phương tiện hỗ trợ việc ôn tập, củng cố 15
1.1.6.1. Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác) 16
1.6.1.2. Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên
mạngInternet 16
1.1.7. Mối quan hệ giữa ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của hoạt đông ôn tập củng cố 18
1.2.1. Đánh giá vai trò của ôn tập, củng cố từ phía GV và từ phía HS 19
1.2.1.1. Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh
ôn tập 19
1.2.1.2. Nhận thức của HS về vai trò của hoạt động ôn tập củng cố 20
1.2.2. Thực trạng việc áp dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng và ôn tập
kiến thức cho học sinh 20
1.2.3. Các nội dung mà hiện nay giáo viên và học sinh thường ôn tập, củng
cố 23
1.2.4.
Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động ôn tập, củng cố đang
được sử
dụng 24
1.3. Kết luận chƣơng I 24
CHƢƠNG II. Xây dựng trang Web hỗ trợ học sinh tự OTCC phần “
HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ”- Vật lí 12, nâng cao 26

2.3.2.5. Ôn tập thông qua diễn đàn thảo luận 36
2.3.3. Đề xuất về phương tiện ôn tập, củng cố 41
2.3.3.1. Các khái niệm liên quan đến Web 41
2.3.3.2. Một số ưu điểm của Web trong dạy học hiện đại 43
2.3.3.3. Các khả năng hỗ trợ của Web đối với ôn tập củng cố 45
2.4.

Xây dựng website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố phần kiến
thức
“Hạt nhân nguyên tử” 49
2.4.1. Lựa chọn và nghiên cứu công cụ để xây dựng trang Web 49
2.4.2. Thiết kế Website 51
2.4.3. Xây dựng các module chính 52
2.4.3.1. Xây dựng module 1: Tóm tắt lí thuyết 52
2.4.3.2. Xây dựng Module 2: Ôn tập lý thuyết có phản hồi 53
2.4.3.4. Xây dựng module 4: Ôn tập kiến thức thông qua sơ đồ bài học 56
2.4.3.5. Xây dựng Module 5: Ôn tập thông qua các thí nghiệm 59
2.4.3.6. Xây dựng module 6: Sử dụng các diễn đàn thảo luận nhóm để ôn tập
trên Web. 60
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

v
2.4.3.7. Xây dựng module 7: Sử dụng bài kiểm tra trên Web để đánh giá mức
độ thu nhận kiến thức của học sinh 62
2.4.3.8. Xây dựng Module 8: Trò chơi ô chữ 63
2.5. Kết luận chƣơng II 63
CHƢƠNG III: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 66
3.1. Khái quát chung 66
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 66
3.1.2. Đối tượng thực nghiệm 66

CNTT - TT
Công nghệ thông tin và truyền thông
ĐTB
Điểm trung bình
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
SBT
Sách bài tập
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
THPT
Trung học phổ thông
TT
Thứ tự

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Kq điều tra nhận thức GV về tầm quan trọng của việc hướng dẫn HS
Ôn tập
19
Bảng 2: Kết quả ks thực trạng các biện pháp rèn kĩ năng và Ôn tập 21

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) đang phát triển với
tốc độ rất nhanh. Nhiều chuyên gia đã dự đoán: Trong thập kỷ tới Internet
đa phương tiện, truyền thông băng rộng CD-Rom, DVD sẽ mang đến
những biến đổi to lớn có tính cách mạng trên quy mô toàn cầu trong nhiều
lĩnh vực, trong đó có Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT). Thực tế đã chứng
minh rằng “ Mọi sự vật hiện tượng đều thay đổi”, trong thời đại ngày nay
chúng ta không thể cứ mãi áp dụng phương pháp mà đã sử dụng trong
những thập kỉ trước.Vì vậy, việc ứng dụng CNTT-TT vào giáo dục đã trở
thành mối ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Đẩy
mạnh ứng dụng CNTT-TT trong GD&ĐT ở tất cả các cấp học, bậc học,
ngành học theo hướng sử dụng CNTT-TT như một công cụ hỗ trợ đắc lực
nhất cho đổi mới phương pháp học tập ở tất cả các môn học. Sự bùng nổ tri
thức cùng với các vấn đề giao lưu hội nhập quốc tế khiến mỗi chúng ta phải
biết tận dụng những thành tựu của khoa học- công nghệ đặc biệt là sự ra
đời của mạng máy tính toàn cầu (Internet) giúp chúng ta biết lựa chọn các
phương pháp học tập cho phù hợp.
Xã hội học tập – đó là mục tiêu của nền giáo dục thế giới. Thành tựu
nổi bật nhất của CNTT-TT trong GD&ĐT hiện nay chính là dạy học
thông qua các chương trình chạy trên Website. Nó cung cấp một kho
tàng kiến thức khổng lồ của nhân loại và tạo cơ hội học tập cho nhiều
người có trình độ khác nhau, ở mọi nơi vào mọi thời điểm, tạo ra sự bình
đẳng, dân chủ trong học tập. Các chuyên gia giáo dục đều cho rằng, khi đưa
CNTT-TT vào nhà trường sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục
dẫn đến những thay đổi trong cả nội dung và phương pháp dạy và học.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Giáo dục Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển đó.

nơi. Hai năm gần đây, các Website dành cho HS học tập trong đó có hoạt
động tự ôn tập, củng cố kết hợp với tự kiểm tra, đánh giá được xây dựng
trên cơ sở lí luận dạy học Vật lí hiện đại bắt đầu được nghiên cứu nhưng
mới được triển khai ở một số nội dung vật lí như: Động lực học (của Hoàng
Anh Đức), “Dòng điện xoay chiều” (của Trịnh Thành Dương ) "Dao độ ng
cơ" (của Nguyễn Đức Mạnh) và “Sóng cơ và sóng âm” (của Nguyễn Ngọc
Dư) v v
Về lĩnh vực “Hạt nhân nguyên tử”, các Website theo kiểu này vẫn còn
chưa được nghiên cứu. Chính vì vậy việc thiết kế các trang Web Vật lí
giúp việc tự ôn tập, củng cố và kiểm tra đánh giá theo quan điểm của lí luận
dạy học hiện đại nội dung về “Hạt nhân nguyên tử” là hết sức cần thiết.
Trong phạm vi rất hạn hẹp của luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Thiết kế trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm
tra, đánh giá kiến thức chương "Hạt nhân nguyên tử" – Vật lí lớp 12
(chương trình nâng cao)”.
Mặt khác trong quá trình dạy học vật lí THPT tôi nhận thấy rằng
chương “ Hạt nhân nguyên tử” là một phần kiến thức khó và mới đối với
học sinh. Chính vì lí do đó mà tôi nghiên cứu đề tài : Thiết kế trang web
củng cố, ôn tập, đánh giá chương “ Hạt nhân nguyên tử” với hi vọng giúp
đỡ các em học sinh nắm vững kiến thức và vận dụng giải toán bên cạnh đó
còn giáo dục cho học sinh tính ưu việt của năng lượng hạt nhân trong mục
đích hoà bình cũng như mối nguy hiểm của hạt nhân trong việc phát triển
vũ khí nguyên tử
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và thử nghiệm sử dụng trang web hỗ trợ việc tổ chức hoạt
động tự ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá một cách tích cực, tự lực của
học sinh theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại và ứng dụng CNTT
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

4

học, kích thích hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả tự OTCC của HS.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc tự ôn tập, củng
cố và kiểm tra, đánh giá.
- Nghiên cứu nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và chuẩn kĩ năng
phần kiến thức trong chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí lớp 12
(chương trình nâng cao).
- Nghiên cứu việc thiết kế trang Web hỗ trợ việc tự ôn tập, củng cố
và kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả trang Web
xây dựng được.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học.
8. Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập, củng cố và kiểm
tra, đánh giá khi học sinh học xong phần kiến thức “Hạt nhân nguyên tử ”
– Vật lí lớp 12 (chương trình nâng cao).
- Trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đề xuất những nội dung ôn tập,
củng cố, kiểm tra và đánh giá, hình thức và phương pháp cần hướng dẫn
cho học sinh tự ôn tập và kiểm tra kiến thức phần : “Hạt nhân nguyên
tử” – Vật lí lớp 12 (chương trình nâng cao).
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

6
- Trang Web được xây dựng đã góp phần giúp học sinh tự ôn tập,
củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng trên cơ sở lí luận dạy học
hiện đại.

TRONG CÁC TRƢỜNG THPT
1.1. Cơ sở lý luận của hoạt động ôn tập, củng cố
1.1.1. Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập
Theo từ điển tiếng Việt, ôn tập là học và luyện lại những điều đã học
để nhớ, để nắm chắc.[ 7, tr 747 ]
Theo các nhà tâm lý học ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu
trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc
mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới. Khi
cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có
hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau. Sự lưu giữ thông tin được bắt đầu
từ quá trình ghi nhớ. Quá trình ghi nhớ có liên quan đến những thông tin
được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài. Thông tin được lưu giữ trong
trí nhớ ngắn chỉ chừng vài giây trong thời gian người học làm việc, tiến
hành thao tác trên các thông tin đó, còn trí nhớ dài lưu giữ thông tin trong
suốt cả cuộc đời. Trí nhớ ngắn lưu giữ những gì ta đang suy nghĩ vào lúc
đó, cùng với những thông tin chuyển từ các giác quan như tai, mắt của con
người. Sau khi lưu giữ và sử lý những thông tin ấy trong vài giây, trí nhớ
ngắn lập tức quên hầu hết số thông tin ấy. Để lưu giữ thông tin thì những
nội dung của trí nhớ ngắn phải được chuyển sang trí nhớ dài. Nhưng muốn
chuyển được sang được trí nhớ dài thì các thông tin đó trước hết cần được
xử lý, sắp xếp cấu trúc trong trí nhớ ngắn sao cho nó có nghĩa đối với
người học. Thực chất của hoạt động này là thực hiện việc phân tích, tổng
hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận và tổ chức lại thông tin đã thu
nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với người học. Để tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

8
chức được thông tin, điều đầu tiên người học phải xác nhận lại thông tin, bổ
sung, chỉnh lý, chính xác hóa những thông tin đã lĩnh hội qua các thao tác
trí tuệ để tìm ra những vấn đề cơ bản, những kết luận mấu chốt, những vấn

mở rộng đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm
vững chắc những kĩ năng kĩ xảo đã được hình thành. Một số tác giả khác
lại cho rằng: Ôn tập là một quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin đã lĩnh
hội, tổ chức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa
tối ưu, góp phần củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin
có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau. Tiếp thu những
quan niệm về ôn tập như trên, chúng tôi cho rằng: Ôn tập là quá trình người
học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông
tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gọi lại hơn, vận dụng
thông tin đã lĩnh hội qua đó mà củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, làm
vững chắc các kĩ năng, kĩ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy
của người học.
1.1.2. Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức
Ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá
trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường. Nó là biện pháp cần
thiết mà GV phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người
học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Nhờ ôn
tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi
lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn,
cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắn lại với nhau
và có một chất lượng mới. Kiến thức sẽ không được giữ lại trong trí nhớ
nếu thiếu ôn tập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào.
Ôn tập cần thiết cho việc củng cố, nắm vững, hoàn thiện tri thức và
sau đó là để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúc khác. Ôn tập
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

10
còn có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng
vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống khi ôn tập Vật lí. Nếu người thầy
cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức rời rạc và không ổn định sẽ gây

thức mới cũng như trong quá trình ôn tập củng cố trong chương trình Vật lí
ở trường phổ thông gồm các loại sau:
- Những khái niệm Vật lí, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng
Vật lí.
- Những định luật Vật lí.
- Những thuyết Vật lí.
- Những ứng dụng của Vật lí trong kĩ thuật.
- Những phương pháp nhận thức Vật lí.
Bên cạnh những kiến thức Vật lí cơ bản cần hình thành ở trên thì học
sinh cần phải có một số kĩ năng sau để nâng cao hiệu quả của việc tự ôn
tập, củng cố:
- Kĩ năng thu thập thông tin: kĩ năng đọc sách; kĩ năng quan sát; đọc
đồ thị, biểu đồ; kĩ năng khai thác mạng Internet
- Kĩ năng xử lí thông tin: kĩ năng xây dựng bảng biểu, đồ thị; kĩ năng
so sánh, đánh giá; phân tích, tổng hợp
- Kĩ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả
1.1.4. Các hình thức ôn tập
Ôn tập có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là hai
hình thức: ôn tập trên lớp và ôn tập ngoài giờ lên lớp.
1.1.4.1. Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên,
bao gồm:
- Ôn tập trong khi trình bài tài liệu mới, nếu việc tiếp thu kiến thức
mới dựa trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó. Hình thức này
được thực hiện thông qua hệ thống các câu hỏi được GV chuẩn bị sẵn, đó là
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

12
các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc những câu hỏi đặt ra trong tiết
học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở để hình thành kiến thức mới
trong bài học.

củng cố trong nhóm như thế nào trong thời gian hiện nay và tương lai là hết
sức quan trọng và cần chiếm tỉ lệ cao. Hơn nữa, ngày nay CNTT-TT phát
triển, việc tổ chức cho HS tự ôn tập củng cố, và ôn tập củng cố trong nhóm
thông qua việc xây dựng các Website, các Forum trên mạng Internet dưới
sự điều khiển của GV thông qua việc xây dựng các chương trình ôn tập
phân nhánh, thông qua các bài trắc nghiệm có phản hồi, hướng dẫn hoàn
toàn có thể làm được để nâng cao chất lượng ôn tập, củng cố.
1.1.5. Các phương pháp ôn tập ngoài giờ lên lớp
1.1.5.1. Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở
nhà có tác dụng giúp học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức
Đọc sách là một trong những dạng hoạt động nhận thức cơ bản của
con người, một loại hình tự học quan trọng và phổ biến. HS học tập ở nhà
là sự tiếp tục một cách có lôgic hình thức trên lớp. Ở đây, HS phải tự lực
đọc lại và hoàn thành các bài tập do GV đề ra sau các giờ lên lớp. Ngoài
những bài tập về nhà chung cho cả lớp, GV có thể ra những bài tập riêng
cho các HS kém và giỏi. Như vậy, học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng của quá trình dạy học. Trước hết, nó có tác
dụng ôn tập, củng cố, đào sâu, mở rộng, khái quát hóa và hệ thống hóa tri
thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Nó góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh
chóng ở HS năng lực tự học, năng lực làm việc độc lập. Nó còn cho phép
thực hiện được sự cá biệt hóa việc dạy học, giúp lấp những lỗ hổng trong
trí thức của những HS kém và phát triển năng lực sáng tạo ở HS giỏi. Vì
HS tự thực hiện những nhiệm vụ học tập do GV giao cho, trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ HS không có sự hướng dẫn của GV; GV đánh giá kết
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

14
quả của hoạt động tự học thông qua mức độ hoàn thành công việc của HS;
nội dung tự học cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc nội dung chương trình và đối
tượng HS.

mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong
một chương trình, một chương hay một bài).
- Dùng graph hướng dẫn HS tự học, hoàn thiện tri thức, nghĩa là GV
có thể để cho HS tự thiết kế các graph hoặc hoàn thiện các graph do GV
gợi ý. Hệ thống hóa kiến thức giúp HS có một bức tranh tổng thể, hệ thống
về những kiến thức được học trong một lĩnh vực nhất định. Sử dụng graph
trong khâu này có các mức độ sau:
* Mức độ thứ nhất: GV đưa ra:
- Các yếu tố có trong graph đã có chiều mũi tên nối các đỉnh nhưng
nội dung ở các đỉnh còn trống, hoặc các yếu tố có trong graph chưa có
chiều mũi tên nối các đỉnh và các đỉnh đã điền đủ (hoặc thiếu) các yếu tố
nội dung.
- Chưa có các cạnh rồi yêu cầu HS điền thông tin vào những chỗ trống
đó, tạo các liên kết giữa các đỉnh theo các chiều từ yếu tố cơ bản đến yếu tố
dẫn xuất .
* Mức độ thứ hai: HS tự xây dựng graph thể hiện các kiến thức đã học
theo một lôgic mà mỗi HS tự xác định, giáo viên chỉ nêu định hướng
chung, những yêu cầu cơ bản của bài ôn tập.
Sử dụng graph trong khâu hoàn thiện tri thức là sự kết hợp giữa khâu
học ở lớp với khâu tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của GV.
1.1.6. Phương tiện hỗ trợ việc ôn tập, củng cố
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng- vật chất
do GV hoặc HS sử dụng dưới sự chỉ đạo của GV trong quá trình dạy học,
tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học. Phương
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

16
tiện dạy học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố
(ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của HS. Hiện
nay, các phương tiện được dùng trong ôn tập củng cố thường là các phương

viên” là một tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế Web bao
gồm: kết nạp và theo dõi thông tin học viên trong một khóa học, chia học
viên thành các nhóm (lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của site hoặc
khóa học…, áp dụng tỉ lệ cho các hoạt động khác nhau cho học viên, quản
lí điểm, theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để sử
dụng cho khóa học… GV có thể phân quyền truy cập vào nội dung ôn tập
đối với từng nhóm đối tượng như: ôn tập cho mọi người, ôn tập dành cho
học viên, Với khả năng tính toán của máy tính, máy tính có thể dễ dàng
và nhanh chóng thực hiện kiểm tra trên Web đồng thời thực hiện chấm
điểm trên Web theo thang điểm đã đặt ra.
1.1.7. Mối quan hệ giữa ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá
Ôn tập nói chung được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với công
việc kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Những công việc mà đòi hỏi tính tích
cực của HS nhiều hơn là khi giảng kiến thức mới. Chúng ta có thể hợp nhất
hoàn toàn tự giác cả ôn tập và kiểm tra vào làm một. Tuy nhiên tính mục
đích của ôn tập và kiểm tra hoàn toàn khác nhau. Ở trường hợp thứ nhất là
công tác củng cố tri thức, ở trường hợp thứ hai là việc kiểm tra chúng với
sự cho điểm (đánh giá) thích đáng. Tất nhiên mặc dù ở tính mục đích khác
nhau nhưng ôn tập và kiểm tra tiến hành một cách đồng thời. Bất kỳ việc
ôn tập nào của GV (do GV tổ chức) cũng đồng thời tiến hành cả kiểm tra tri
thức, mặc dù người GV không có dụng ý đạt mục đích này đi nữa. Liên hệ
giữa ôn tập và kiểm tra là vô cùng khăng khít. Tổ chức ôn tập để tuyệt đối
hóa nó, không có yếu tố kiểm tra hoặc tổ chức kiểm tra để tuyệt đối hóa nó,
không có yếu tố ôn tập như thế không thể có được. Ở đây công việc có thể
tiến hành chỉ là trong trường hợp thứ nhất, những yếu tố ôn tập trội hơn yếu
tố kiểm tra, hoặc trong trường hợp thứ hai thì ngược lại. Thực tế việc giảng

Trích đoạn Các khái niệm liên quan đến Web Lựa chọn và nghiên cứu công cụ để xây dựng trang Web Xây dựng module 1: Tóm tắt lí thuyết Xây dựng module 4: Ôn tập kiến thức thông qua sơ đồ bài học Xây dựng module 6: Sử dụng các diễn đàn thảo luận nhóm để ôn tập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status