Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VŨ THỊ THU HẰNG
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
DẠY HỌC CHƢƠNG: SINH TRƢỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN(SH11) BẰNG PHẦN MỀM
LECTURE MAKER 2.0
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
DẠY HỌC CHƢƠNG: SINH TRƢỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN (SH11) BẰNG PHẦN MỀM
LECTURE MAKER 2.0
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học sinh học
Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN LUẬN VĂN: PGS.TS NGUYỄN VĂN HỒNG Thái Nguyên – 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng, hình iv
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1. Cơ sở lí luận 5
1.1.1. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông là
góp phần thực hiện đổi mới PPDH ở nhà trường nước ta hiện nay 5
1.1.2. Dạy học bằng bài giảng điện tử là hướng đi đúng trong việc đổi
mới phương pháp và hình thức dạy học 7
1.1.3. Ưu điểm của phần mềm Lecture Maker 2.0 trong thiết kế BGĐT 9
1.2. Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1. Sơ bộ đánh giá hiệu quả giảng dạy của một số phần mềm thiết
kế BGĐT ở trường THPT 11
1.2.2. Sơ bộ điều tra những xu hướng sử dụng CNTT và những vướng
mắc khi sử dụng CNTT trong dạy học 14
1.2.3. Sơ bộ đánh giá thực trạng sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0
trong dạy học sinh học ở trường THPT 18
Chƣơng 2. THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ ĐA
PHƢƠNG TIỆN CHƢƠNG “SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN”
(SINH HỌC 11 CB) BẰNG PHẦN MỀM LECTURE MAKER 2.0 21
2.1. Cấu trúc nội dung chương “Sinh trưởng và phát triển” (Sinh học 11 CB) . 21
2.2. Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 26
2.2.1. Nguyên tắc thiết kế 26
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
2.2.2. Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 30
2.2.3. Ví dụ minh họa quy trình thiết kế bài 34 “Sinh trưởng ở thực vật” 37
CNTT
Công nghệ thông tin
ĐC
Đối chứng
ĐV
Động vật
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
LT
Lý thuyết
PTDH
Phương tiện day học
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
STPT
Sinh trưởng phát triển
TH
Thực hành
THPT
Trung học phổ thông
PPDH
Phương pháp dạy học
TN
Thực nghiệm
TV
ICT
CMKH-KT
Thực vật
Bảng 3.9. Bảng phân phối tần suất tích lũy hội tụ tiến (f%) 61
Bảng 3.10. Kiểm định
X
điểm trắc nghiệm 63
Bảng 3.11. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 64
Bảng 3.12. Phân tích kết quả thăm dò ý kiến GV 65
Bảng 3.13. Phân tích kết quả thăm dò ý kiến HS 67
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 56
Hình 3.2: Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra 57
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN và trước TN 61
Hình 3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra STN và TTN 62
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
trong những phương tiện đáp ứng tốt yêu cầu trên là phải kể đến đóng góp của
CNTT và Lecture Maker là một trong số đó.
1.3. Xuất phát từ tính ƣu việt của phần mềm lecture maker [31]
Lecture Maker là một sản phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc, đây là
một phần mềm hoàn thiện phù hợp cho việc soạn thảo bài giảng điện tử trong
dạy học hiện nay ở trường phổ thông và nó cũng đáp ứng cho việc dạy học
điện tử trong tương lai gần ở nước ta.
Lecture Maker có khả năng đưa vào những tâp tin multimedia, power
point, pdf đã sẵn có… Bộ công cụ soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm được tích
hợp vào chương trình rất hiệu quả. Các nhà CNTT khẳng định rằng Lecture
Maker trong dạy - học là một loại phương tiện dạy học có khả năng tăng cường
tính trực quan rất hiệu quả, nó có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập sáng
tạo của người học , giúp thực hiện tốt việc phân hóa, cá thể hóa trong dạy học.
Bởi vì: Phần mềm Lecture Maker là một trong những phần mềm thể hiện được
rất nhiều ưu điểm: Giúp tạo được bài giảng với đầy đủ hình ảnh sinh động kèm
theo âm thanh, các đoạn video clip, tích hợp trắc nghiệm khách quan, có thể
sử dụng những học liệu tin học từ những nguồn cung cấp khác nhau kể cả
những bài soạn cũ trên các phần mềm khác của giáo viên. Lecture Maker giúp
bài giảng trở nên sinh động hơn, logic hơn, ấn tượng tốt hơn, HS dễ hiểu và
khắc sâu kiến thức tốt hơn. Cũng vì những lẽ đó Cục CNTT của Bộ GD – ĐT
cho rằng Lecture Maker tuy là con đẻ của power point nhưng trong tương lai
gần chính nó sẽ thay thế cho phần mềm power point trong soạn thảo bài giảng
điện tử.
Với những lý do trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Sử dụng phần mềm
Lecture Maker 2.0 thiết kế bài giảng điện tử dạy học chương “sinh trưởng
và phát triển” (Sinh học 11 CB) bằng phần mềm Lecture Maker 2.0” .
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
3
4
chương sinh trưởng và phát triển (Sinh học 11 CB).
- Thực nghiệm sư phạm: một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
7. Những đóng góp mới của luận văn
7.1. Xây dựng các bài giảng tích hợp TTĐPT trong chương “sinh trưởng và
phát triển” (SGK Sinh học 11 CB) bằng phần mềm Lecture Maker.
7.2. Xây dựng Blog cá nhân để cung cấ p tà i liệ u và hướ ng dẫ n họ c tậ p cho HS
trong website của Công ty Tin học Bạch Kim ()
7.3. Tổ chức dạy học theo hình thức thảo luận có sử dụng các bài giảng và
Blog cá nhân.
7.4. Đánh giá được nhu cầu và triển vọng sử dụng bài giảng tích hợp TTĐPT
trong dạy học Sinh học 11 CB, kiến thức chương “sinh trưởng và phát triển”
ở trường THPT. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học ở trƣờng phổ thông là
góp phần thực hiện đổi mới PPDH ở nhà trƣờng nƣớc ta hiện nay
Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng: cách mạng
khoa học – kỹ thuật và cách mạng xã hội. Những cuộc cách mạng này đang
phát triển manh như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài
người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực, có bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều
triển vọng lớn lao khi loài người bước vào thế kỷ XXI. Công nghệ thông tin
tập”, nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc
đẩy sự phát triển của CNTT ” [3].
Trong “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của Bộ
Giáo dục – Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển giáo
dục dựa trên CNTT, vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn
trong quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến
người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học” [ 3 ].
Đặc biệt, công văn số 9584/BGDĐT-CNTT ngày 7/9/2007 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo gửi cho các sở giáo dục và đào tạo, các trường đại học, cao
đẳng sư phạm và các khoa sư phạm, yêu cầu phải nhanh chóng “đẩy mạnh
việc dạy môn Tin học và ứng dụng CNTT trong giáo dục, góp phần đổi mới
phương pháp dạy-học và quản lí giáo dục”. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát
động “lấy năm học 2008 – 2009 sẽ là năm Công nghệ thông tin” [4].
Nâng cao nhận thức về tin học và ứng dụng CNTT trong nhà trường
nhằm giúp các cấp lãnh đạo, các lực lượng xã hội nhận thức một cách đầy đủ
ý nghĩa và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào trong nhà trường;
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Đánh giá, xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt, tổ chức các diễn đàn, hội
thảo để chia sẻ và phổ biến kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong việc quản lí
nhà trường, hỗ trợ dạy và học; Tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng về
CNTT cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp; Tuyển chọn, thẩm định
tài liệu dạy học tin học theo chương trình đã được Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban
hành; Khuyến khích các địa phương dạy tin học như môn học tự chọn, những
nơi có điều kiện có thể tăng thêm thời lượng và nội dung dạy tin học; Khuyến
khích sử dụng giáo án điện tử trong các trường học, sử dụng tin học là công
cụ tích cực đổi mới phương pháp dạy học ở trường học trong giai đoạn mới.
Như vậy, CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau
cùng với người sử dụng qua mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai
thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi cho HS học tập trong hoạt
động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo, HS sẽ độc lập tiếp thu
được hệ thống kiến thức cơ bản một cách thuận lợi nhất.
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh
hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, hứng thú, dễ tiếp
thu và bằng suy luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất,
những quy luật mới. Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin,
truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Có thể khẳng
định rằng, môi trường công nghệ thông tin, truyền thông chắc chắn có tác
động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS, điều này làm nảy sinh những
phương pháp học tập mới.
- Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho HS
nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay mỗi giáo viên phải đặt trọng tâm là dạy sao để cho
HS hứng thú, chủ động, sáng tạo có phương pháp học tâp. Nếu trước kia
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
9
người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành
kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo
của HS. Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy HS
làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn.
- Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà HS trung bình, thậm
chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập.
Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của giáo viên
tới từng gia đình HS thông qua hệ thống mạng.
- Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên
máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với
Master Slide cũng như vậy. Xây dựng Master Slide trước khi đưa nội dung
vào sẽ giúp bạn sắp xếp, tổ chức bài giảng nhất quán, hợp lý hơn. Master
Slide có thể chứa tất cả các đối tượng bạn mong muốn có trên từng trang bài
giảng, bao gồm các nút điều khiển, các chi tiết thiết kế trang.
- Nhiều bộ soạn thảo khác nhau
Lecture Maker có sẵn các bộ công cụ soạn thảo trực quan cần thiết để
tạo bài giảng điện tử như: soạn thảo công thức toán học, vẽ biểu đồ, vẽ đồ thị,
tạo bảng, text box, và các ký tự đặc biệt.
- Đa dạng nội dung đa phương tiện
Bạn có thể chèn nhiều loại nội dung đa phương tiện vào bài giảng của
mình như: hình ảnh, video, âm thanh, flash…
- Điều khiển Video
Video có thể được sử dụng như một phần của bài giảng như là những
minh họa. Với khả năng đồng bộ video với nội dung bài giảng, video không
chỉ còn là minh họa trên từng trang riêng lẻ mà thực chất còn là một phần của
bài giảng điện tử trong đó vừa có nội dung bài giảng, vừa có hình ảnh, tiếng
nói của giáo viên đi kèm với nội dung.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
11
b. Các tính năng đặc biệt
- Thiết kế và phác thảo mẫu trình bày
Phần mềm cung cấp sẵn nhiều mẫu trình bày. Nhiều dạng bài giảng e-
learning sống động với sự kết hợp các mẫu trình bày được cung cấp như của
PowerPoint, hay kết hợp giữa video với text, hay âm thanh với text,… có thể
được tạo ra một cách dễ dàng.
- Nút tương tác
Các nút liên kết nội dung và các nút định vị trang được sử dụng trong
soạn thảo bài giảng nhằm định hướng nội dung bài học cũng như làm tăng
Phương pháp dạy học bằng BGĐT
khêu gợi sự quan tâm của HS vào
chủ đề của bài học hơn phương
pháp truyền thống.
2. Nhóm câu hỏi khảo sát về mức
độ khác biệt của lượng thông tin
được tiếp nhận của hai phương
pháp dạy học.
Với phương pháp dạy học truyền
thống, HS khó có thể trả lời đúng
hết 60% các câu trả lời ôn tập.
3. Phương pháp dạy học nào giúp
HS theo dõi xuyên suốt nội dung
bài học hơn?
Phương pháp dạy học truyền thống
giúp HS theo dõi xuyên suốt nội
dung bài học hơn phương pháp dạy
học bằng BGĐT.
4. Phương pháp dạy học nào đòi
hỏi HS phải trao đổi thêm với bạn
bè ?
Cả hai phương pháp dạy học trên
đều đòi hỏi HS phải trao đổi thêm
với bạn bè.
5. HS tự tin rằng mình sẽ vượt
qua được kỳ thi các môn với
phương pháp dạy học nào?
Sau khi học xong bằng BGĐT thì
phần lớn HS tự tin rằng mình sẽ
vượt qua kỳ thi lý thuyết hơn là học
khích HS trình bày ý kiến thắc
mắc của mình hơn ?
Phương pháp học truyền thống
khuyến khích HS trình bày ý kiến
thắc mắc của mình hơn là phương
pháp học bằng BGĐT
10. Phương pháp dạy học nào
giúp HS nhớ được các phần quan
trọng của bài học hơn ?
Phương pháp dạy học truyền thống
giúp HS nhớ được các phần quan
trọng của bài học hơn là học bằng
BGĐT .
11. Phương pháp nào giúp HS
học thêm được nhiều nội dung
không có trong sách giáo khoa ?
Cả hai phương pháp trên đều giúp
HS học thêm được nhiều nội dung
không có trong sách giáo khoa.
12. Phương pháp dạy học nào làm
phí thời gian của HS hơn ?
HS cho rằng học bằng BGĐT không
phí thời gian như là phương pháp
học truyền thống .
13. Phương pháp dạy học nào
giúp HS nhớ bài hơn sau thời gian
2 tuần ?
Dù là phương pháp nào thì HS cũng
không nhớ hơn được 50% nội dung
bài học sau 2 tuần.
sử dụng CNTT như sau:
a. Những xu hƣớng sử dụng CNTT hiện nay [8]
Theo những điều tra nghiên cứu mới đây cuả thạc sỹ Lê Viết Chung
[10], trong “Trao đổi về Ứng dụng CNTT trong dạy học” thì ta có thể nhận
thấy xu hướng sử dụng CNTT trong giáo dục của nước ta nói riêng và trên thế
giới nói chung gồm 3 xu hướng chính như sau
- Thứ nhất: CNTT được sử dụng như là một công cụ của người dạy.
Hình thức này vốn đã đươc người dạy sử dụng để thiết kế bài giảng ngay
từ khi bắt đầu ứng dụng CNTT vào giảng dạy. Người dạy sử dụng các phần
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
15
mềm thiết kế bài giảng thông dụng như PowerPoint, Frontpage, Acrobat để
chuyển tải các nội dung giảng dạy từ ngôn ngữ của sách vở sang ngôn ngữ của
máy tính. Chính vì vậy sau một thời gian dài thì chúng ta đã nhận thấy rằng đây
chỉ là một xu hướng chuyển HS từ thế thụ động đọc- chép sang thế thụ động
khác là chiếu – chép. Xu hướng này không chỉ làm giảm độ tích cực của HS
mà còn tạo điều kiện cho các giáo viên ngại viết bảng, không thuộc giáo án.
- Thứ hai: CNTT được sử dụng như là một phương tiện cho giáo viên
và HS tương tác trong quá trình dạy và học.
Ở xu hướng này, giữa GV và HS có sự tương tác hai chiều nhờ sử dụng
CNTT như là một kênh để thu nhận và phản hồi thông tin của bài giảng đến
thầy giáo. Xu hướng này không chỉ kích thích sự tích cực trong HS mà còn
thúc đẩy sự tích cực trong việc cải tiến phương pháp dạy học của GV. Chính
vì vậy dang đang là xu hướng được khuyến khích ở các trường học hiện nay
nhằm cải tiến dạy học theo hướng tích cực . Trong tình hình hiện nay, xu
hướng này là một giải pháp tương đối hoàn thiện mà người thầy cần chọn lựa,
tuy nhiên xu hướng này ở một góc độ nào đó chưa thật sự để cho người học
chủ động, tự chủ trong quá trình học tập.
khiêm tốn. Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước
bởi những vấn đề nảy vẫn còn nhiều hạn chế từ thực tiễn. Chẳng hạn:
- Máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng
trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể thay thế
giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ. Nó chỉ hỗ trợ thực sự hiệu quả
đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều
nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều
kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn
cho HS, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng
và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật
lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử. Những mạch kiến thức
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
17
“vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các
phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được nhiều kĩ năng cho HS.
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin của giáo viên
vẫn còn hạn chế, trong khi thiết kế nên BGĐT cần có sự kiên trì, sáng tạo mới
có thể tạo nên những bài giảng hay. Điều đó khiến nhiều giáo viên còn né
tránh làm cho phương pháp dạy học cũ trở thành lối mòn khó thay đổi. Muốn
khắc phục được những hạn chế trên, tạo dựng được môi trường và cơ sở vật
chất cho việc thực hiện phương pháp dạy học ứng dụng CNTT là công việc
đòi hỏi cần có thời gian và sự nỗ lực chung của mỗi giáo viên và những nhà
quản lí giáo dục.
Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương
pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách
chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn là điều mới mẻ đối với giáo viên,
đòi hỏi giáo viên phải biết cập nhật mọi kiến thức, phải cố gắng vươn lên
nhiều mặt, vững kiến thức, biết kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học,