Sử dụng phần mềm M.S PowerPoint thiết kế bài giảng điện tử dạy học chương 6 môn Khí tượng nông nghiệp ở trường Trung cấp Nông Nghiệp Hà Nội - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới Cô giáo hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Thúy – GVC-
Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, gữ, cô
đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ về mọi mặt của các
thầy, các cô trong bộ môn Tâm lý và Phương pháp Giáo dục cũng như các
thầy, các cô trong Ban chủ nhiệm khoa Sư phạm và Ngoại ngữ, trường Đại
học Nông Nghiệp Hà Nội.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo: Vũ Thị Quỳnh Nga
và các em học sinh trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ và cộng tác cùng tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình, người
thân và bạn bè – những người đã luôn động viên, cổ vũ và giúp đỡ để tôi có
thể hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Đinh Thị Hồng
i
MỤC LỤC
Trong công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT
cũng chỉ rõ: “Chỉ đạo ứng dụng CNTT trong học tập và giảng dạy theo hướng lấy người
học làm trung tâm; tập trung hướng dẫn, định hướng cho người học biết tự khai thác và
ứng dụng CNTT vào quá trình học tập của bản thân, thay vì chỉ tập trung vào việc chỉ đạo
GV ứng dụng CNTT trong giảng dạy, ” 7
4.3.2.2. Phân tích khả năng tư duy logic, lập luận của học sinh 69
DANH MỤC BẢNG
Trang
Trong công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT

Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI – thế kỷ của nền văn minh trí tuệ,
của sự cạnh tranh và hội nhập mang tính chất toàn cầu. Đây là thế kỷ của sự
bùng nổ CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT nhằm nâng cao sức cạnh tranh
và hiệu quả hoạt động mọi mặt của tất cả các quốc gia. Trong thế kỷ ấy, sự
bứt phá, vượt lên của mỗi quốc gia, dân tộc diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc
cơ bản vào việc quốc gia đó, dân tộc đó có tạo ra được lớp người có đầy đủ
đức, trí, thể, mỹ hay không? Nhiệm vụ đào tạo này đặt trọng trách trước hết
và chủ yếu vào ngành GD, nơi mà sẽ đào tạo và phát triển những con người
toàn diện đó. Tuy nhiên, làm thế nào để đào tạo ra được những con người
toàn diện đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của đất nước và của thời đại? Đó là một câu hỏi lớn đặt ra cho ngành GD
nước nhà, do vậy chúng ta không thể không tiến hành cải cách, đổi mới toàn
diện mà trong đó việc ứng dụng đúng đắn, sáng tạo và phù hợp CNTT vào
quá trình đổi mới PPDH là một trong những nội dung cơ bản nhất.
CNTT ra đời là một bước tiến lớn trong lịch sử văn minh của nhân loại.
Nó tạo ra những PT đắc lực cho con người không chỉ trong các lĩnh vực kinh
tế, quản lí, mà nó còn có vai trò quan trọng cả trong lĩnh vực DH. Việc thực
hiện mô hình DH với sự hỗ trợ của CNTT, trong đó có ứng dụng phần mềm
M.S. PowerPoint để thiết kế BGĐT vào DH đang ngày được phổ biến ở nước
ta. Với BGĐT, người GV được giảm nhẹ việc thuyết giảng, cũng như trình
bày bảng, đồng thời được tăng cường đối thoại, thảo luận với người học, qua
đó kiểm soát được người học. Người học qua đó được thu hút, kích thích tư
duy, chủ động nêu câu hỏi và nhờ vậy quá trình học tập trở nên hứng thú, sâu
sắc hơn. Đồng thời khi sử dụng phần mềm M.S PowerPoint để thiết kế BGĐT
vào DH sẽ giúp GV trình bày nội dung một cách lôgic hơn, dẫn dắt HS đi sâu
1
vào từng vấn đề cụ thể. GV có thể sử dụng các tư liệu liên quan đến nội dung
bài học như videoclip, hình ảnh, sơ đồ, kết hợp với nội dung bài học, các câu
hỏi, và bài tập cho lần lượt xuất hiện trên màn hình theo tiến trình DH. Theo
Ngô Tứ Thành (2008) : “Sử dụng phần mềm M.S PowerPoint cho phép kết

mềm M.S PowerPoint tại trường TCNN Hà Nội nhằm phát huy tính độc lập,
tích cực học tập của HS
1.3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Sử dụng phần mềm M.S Powerpoint thiết kế BGĐT và DH chương 6
môn KTNN ở trường TCNN Hà Nội sẽ làm tăng tính độc lập, tích cực học tập
của HS.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục ở một số
nước trên thế giới
Hiện nay thế giới đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và
truyền thông. Sự ra đời Internet đã kết nối toàn cầu thành một hệ thống thông
tin khổng lồ. Việc trao đổi thông tin không chỉ là đơn lẻ một khu vực hay
quốc gia mà rộng khắp thế giới. Các thông tin thời sự và các kết quả nghiên
cứu khoa học được cập nhật nhanh nhất. Với sự ra đời của Intemet đã thực sự
mở ra một kỷ nguyên ứng dụng CNTT và truyền thông trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, kinh tế, GD. Cùng với sự phát triển như vũ bão của CNTT và
truyền thông, việc nghiên cứu và triển khai các thế mạnh của CNTT nhằm hỗ
trợ quá trình DH đang được nhiều quốc gia và các nhà GD quan tâm.
Khi bàn về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong việc GD và
giảng dạy Spencer (1995) đã nhấn mạnh: “ Sẽ không có khía cạnh nào của
giáo dục mà không ứng dụng CNTT”. Theo ông, đây là một khía cạnh cần
được sự quan tâm đúng mức để đạt được hiệu quả cao trong dạy và học (Trích
theo Nguyễn Thị Huỳnh Lộc, 2008)
Một số nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Australia, đã
nghiên cứu xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều PMDH trong dạy và học
nhiều môn học ở trường Phổ thông và cho kết quả tốt. Ví dụ, một số chương
trình nghiên cứu ứng dụng CNTT vào DH như:
- Đề án: “Tin học cho mọi người” năm 1970 do Pháp xây dựng.

sở hữu hơn 14 triệu máy tính cá nhân, tức là khoảng 4 học sinh/ máy (Theo
http://www.america.gov/publications/books/education-in-brief.html )
5
Như vậy, trên thế giới việc ứng dụng CNTT vào DH đã có từ rất sớm và
đạt được nhiều thành tựu. Và hiện nay việc ứng dụng các thành tựu vào việc dạy
và học vẫn là một yêu cầu cấp thiết, quan trọng nhằm phát huy được sự chủ
động, tích cực của người học, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo.
2.1.2. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở Việt Nam
Việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào DH đang trở thành xu
thế tất yếu. Trong đó Tin học thực sự trở thành một PT hỗ trợ đắc lực cho
DH. Tin học có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự ra đời của nhiều lí
thuyết mới, của nhiều ngành khoa học mới. Do vậy, việc DH muốn đạt được
chất lượng cao cần phải thích ứng được những điều kiện công nghệ mới và
tận dụng những thành tựu của Tin học. Đặc biệt đối với những nước chậm
phát triển như nước ta thì đây là con đường đi tắt đón đầu nhanh nhất để loại
bỏ sự cách biệt về GD với những nước phát triển (Nguyễn Thái Dũng, 2010)
Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, Viện khoa học
Giáo dục đã tiến hành thử nghiệm đưa môn Tin học vào trường phổ thông.
Sau khi Tin học trở thành một môn chính thức trong chương trình phổ thông
thì việc ứng dụng CNTT vào trong DH ngày càng được phổ biến. Trong
những năm gần đây việc ứng dụng CNTT trong DH đã được Đảng, Nhà nước
và Bộ GD& ĐT đặc biệt chú ý và đã được đề cập trong nhiều văn bản có tính
pháp lí cao như:
Chỉ thị số 40/CT-TW của Ban chấp hành TW Đảng ra ngày 15/6/2004
về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
GD đã nêu rõ:"Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các PP tiên tiến, hiện đại,
ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy và học."
Nhằm tăng cường hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy,
sử dụng CNTT làm công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc đổi mới PPDH, góp phần
nâng cao chất lượng GD, ngày 30/09/2008, Bộ trưởng Bộ GD& ĐT đã có chỉ

một số phần mềm Tin học sử dụng trong DH Toán nói chung. Tuy nhiên tác
giả mới chỉ dùng lại ở việc minh họa cho bài giảng.
- Luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Như Quỳnh (2005): “Sử dụng phần
mềm M.S. Powerpoint thiết kế bài giảng Sinh học 6.” Trong đề tài này tác giả
đã giới thiệu được quy trình thiết kế BGĐT bằng phần mềm MS. Powerpoint,
tuy nhiên tác giả mới chỉ dùng lại ở việc minh họa cho bài giảng.
- TS. Nguyễn Văn Hiền, “Thiết kế bài dạy Sinh học bằng phần mềm
Powerpoint”, Tạp chí GD, số 152 (kì 2 - 12/2006), trang 33 – 34. Trong đề tài
này tác giả đã sử dụng phần mềm M.S. PowerPoint thiết kế được một số trình
phim DH Sinh học tuy nhiên chưa đưa ra được quy trình thiết kế cụ thể cũng
như biện pháp sử dụng.
- Nguyễn Văn Hồng: “ Sử dụng phần mềm M.S. Powerpoint thiết kế
một số thí nghiệm ảo trong DH Sinh lớp 11”- Tạp chí GD, số 199 (kì 1-
10/2008). Trong đề tài này tác giả đã nêu được quy trình thiết kế BGĐT bằng
phần mềm M.S. Powerpoint, tuy nhiên chưa đưa ra được biện pháp sử dụng
- Lê Đăng Duy (2009): “Ứng dụng M.S. Powerpoint trong soạn BGĐT
ở trường THPT Lang Chánh”, Sáng kiến kinh nghiệm GD trường THPT
Lang Chánh, 2009. Trong đề tài này tác giả đã nêu được nguyên tắc, quy trình
thiết kế BGĐT bằng phần mềm M.S. Powerpoint. Tuy nhiên tác giả mới chỉ
dùng lại ở việc minh họa cho bài giảng.
- Luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Quyên (2009): “ Thiết kế và sử dụng
mô hình động DH Sinh lý thực vật (Sinh học 11) bằng phần mềm MS.
Powerpoint” - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên. Trong đề tài này tác
giả đã nghiên cứu, đưa ra được quy trình thiết kế và đề xuất các biện pháp sử
dụng phần mềm Microft Powerpoint trong thiết kế mô hình ảo DH Sinh lý
thực vật (Sinh học 11).
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thái Dũng (2010): “Ứng dụng phần
mềm MS. Powerpoint thiết kế mô hình động DH phần Di truyền, Sinh học 9,
(trung học cơ sở)”- Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên. Trong đề tài này,
8

bài giảng chủ yếu là sưu tầm.
- Luận văn tốt nghiệp của Phạm Thị Duyên (2011) ): “Ứng dụng phần
mềm MS. Powerpoint thiết kế BGĐT vào DH các bài 18,19,20 chương III-
Nghề làm vườn 11- hoạt động GD nghề phổ thông” Trong đề tài này, tác giả
Trong đề tài này tác giả đã đưa ra được quy trình thiết kế BGĐT, hướng sử
dụng BGĐt trong DH. Tuy nhiên các bài giảng trong đề tài còn có màu sắc
chưa hài hòa, độ tương phản thấp
- Luận văn tốt nghiệp của Đàm Thị Phương (2011): “Ứng dụng phần
mềm MS. Powerpoint thiết kế BGĐT DH chương III môn Kĩ thuật trồng lúa ở
trường TCNN ”. Trong đề tài này, tác giả đã nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống
hóa cũng như tiếp thu những lí luận, cơ sở thực tiễn của việc thiết kế bài
giảng nói chung và ứng dụng phần mềm MS. Powerpoint. Tuy nhiên chưa
đưa ra được biện pháp sử dụng
Như vậy, ở nước ta hiện nay đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều bài
báo, nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong DH. Tuy các công
trình nghiên cứu trên còn một số hạn chế nhưng có vai trò quan trọng trong
việc đẩy mạnh công cuộc ứng dụng CNTT vào DH sau này.
KTNN là một môn học có nhiều kiến thức cơ sở cũng như kiến thức kĩ
thuật liên quan. Tuy nhiên chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về ứng dụng phần
mềm M.S. Powerpoint vào giảng dạy môn KTNN. Vì vậy việc ứng dụng phần
mềm M.S. Powerpoint sẽ giúp cho HS lĩnh hội được các kiến thức và kĩ năng
thực hành tốt hơn.
2.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.2.1. Phương tiện dạy học
2.2.1.1. Khái niệm về phương tiện dạy học
PTDH với tư cách là một trong những thành tố của quá trình DH, có
vai trò rất lớn trong việc đổi mới PPDH. Trong DH nói chung và DH môn
10
KTNN nói riêng, PTDH có vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào thành
công của bài dạy, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.

chí sau:
*Phân loại dựa vào nguồn gốc, xuất xứ của sự vật, hiện tượng thì
PTDH gồm:
+ Các PTDH có nguồn gốc từ chính nội dung hoạt động DH.
+ Các PTDH có nguồn gốc từ chính người dạy và người học.
+ Các PTDH có nguồn gốc từ sự chế tác của con người.
+ Các PTDH có nguồn gốc xuất xứ từ tự nhiên, được con người khai
thác và sử dụng vào quá trình DH.
* Phân loại theo chức năng của các PT trong quá trình DH gồm:
+ Các PT thay thế là các PT có chức năng đại diện, thay thế cho đối
tượng mà người dạy và người học phải tác động
+ Các PT hỗ trợ trong quá trình DH, đó là các PT có chức năng làm
giá đỡ, dẫn truyền và làm tăng cường sức mạnh tác động dạy và học lên đối
tượng, giúp người dạy và người học thuận lợi hơn, tiện lợi hơn khi tác động
đến đối tượng DH, từ đó làm tăng hiệu quả của các đối tượng đó.
*Phân loại theo đối tượng tác động của PTDH:
+ Nhóm PTDH theo lứa tuổi học viên
+ Nhóm các PTDH theo nội dung môn học
+ Nhóm các PTDH theo chiều hướng tác động chủ đạo.
- Theo Ngô Thị Hải Yến (2008): Dựa vào mục đích sử dụng có thể
phân loại các PTDH thành hai loại : PT dùng trực tiếp để DH và PT dùng để
hỗ trợ, điều khiển quá trình DH
12
- Theo Nguyễn Văn Tuấn (2009), nếu phân loại theo kênh thu nhận
thông tin của con người thì PTDH gồm:
+) PT nghe: băng âm, CD âm
+) PT nhìn: loại 2 chiều (chữ viết và hình ảnh), loại 3 chiều (mô hình)
+) PT nghe nhìn: Phim DH
2.2.1.3. Vai trò của phương tiện dạy học
- Theo Nguyễn Văn Hộ (2002): “ Với những thành tựu do khoa học kỹ

những mô hình hình học không gian có thể hỗ trợ rèn luyện kĩ năng quan sát,
phân tích, so sánh…
+ Chức năng kích thích hứng thú học tập: PTDH có thể kích thích hứng
thú học tập nhờ hình thức thông tin như âm thanh, màu sắc, hình ảnh động,
nhờ nội dung thông tin như mô phỏng những hiện tượng trong tự nhiên, xã
hội và con người, ứng dụng của một lĩnh vực khoa học công nghệ, khám phá
về nguyên tử, điện tử, hạt nhân…
+ Chức năng tổ chức, điều khiển quá trình học tập: PTDH có thể có
chức năng tổ chức, điều khiển quá trình DH. Sách GV, băng tiếng, băng hình
phát ra những lệnh yêu cầu HS thực hiện công việc này, chuyển sang hoạt
động khác…là những PTDH có khả năng thực hiện chức năng này.
+ Chức năng hợp lý hóa công việc của thầy và trò: PTDH còn có thể
hợp lý hóa việc tiến hành một số hoạt động của thầy hoặc trò, ví dụ như trình
bày văn bản và hình ảnh nhờ Powerpoint, chiếu bản trong có viết bài làm của
HS, tính toán bằng máy tính bỏ túi.
Như vậy, trước yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay, nhằm nâng cao hiệu
quả học tập của người học thì không thể thiếu việc kết hợp sử dụng các PTDH
của người GV trong quá trình DH.
2.2.1.4. Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
Theo Nguyễn Văn Hộ (2002), khi sử dụng PTDH cần chú ý:
14
+ Đúng lúc: sử dụng đúng lúc các PTDH có nghĩa là đưa PTDH vào
những thời điểm cần thiết, khi HS có nhu cầu, phù hợp với tiến trình bài học.
+ Đúng chỗ: nghĩa là tìm vị trí thích hợp để giới thiệu, trình bày PTDH
trên lớp một cách hợp lý nhất, tạo điều kiện để HS đồng thời có thể sử dụng
nhiều giác quan để tiếp cận.
+ Đủ cường độ: nghĩa là nội dung và PP khai thác các PTDH phải phù
hợp với trình độ đặc điểm nhận thức của mỗi HS và đặc điểm vốn có của bản
thân mỗi PTDH.
Như vậy, đối với mỗi PTDH nếu chúng ta biết sử dụng một cách hợp

rộng khả năng biểu diễn thông tin nâng cao tính trực quan hóa trong DH.
- Khả năng mô phỏng các đối tượng và hiện tượng một cách trực quan, các
nguyên lý, quá trình, cơ chế mà các PTTQ khác khó có thể thực hiện được.
- Khả năng lưu giữ cơ sở dữ liệu lớn, truy xuất nhanh các tài liệu dạy và học
- Nâng cao cường độ dạy- học, tiết kiệm thời gian trong việc hình thành
một đơn vị kiến thức mới, giảm nhẹ lao động sư phạm của GV và HS
- Thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và hứng thú của HS qua khả năng biểu
diễn thông tin đa dạng, phong phú, sinh động và trực quan.
Như vậy PMDH có nhiều ý nghĩa quan trọng trong hoạt động dạy và
học đối với cả HS và GV, nhìn chung PMDH có các ý nghĩa chính sau:
Ý nghĩa của PMDH đới với HS: Góp phần khơi dậy hứng thú nhu cầu
nhận thức, nâng cao tính tự giác của HS trong học tập. Các dạng câu hỏi được
sử dụng trong phần mềm kết hợp với việc quan sát hình ảnh, nghe âm thanh,
theo dõi băng hình…có tác dụng kích thích, định hướng tư duy tìm tòi phát
hiện tri thức mới, giúp HS tự kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức,
phát huy được tính tích cực chủ động áng tạo của HS.
Ý nghĩa của PMDH đối với GV:
16
- Thúc đẩy người GV luôn phải chủ động tìm tòi, sáng tạo và lĩnh hội
tri thức phù hợp với thời đại. Biết sử dụng các thiết bị CNTT trong quá trình
DH và thao tác thành thạo với các phần mềm.
- Đổi mới phương pháp dạy- học theo hướng tích cực hóa – hiện đại
hóa, khi làm chủ công nghệ thì người GV sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian,
giảm sức lao động trong công việc dạy – học của mình. Ví dụ như soạn giáo
án, ra đề thi, chấm bài, GV có thể tạo ra những giáo án chuẩn, ngân hàng câu
hỏi, bộ đề thi trắc nghiệm và việc chấm bài sẽ tự động trên máy tính
2.2.2.2. Phần mềm dạy học M.S Powerpoint
a. Khái niệm
Theo Lê Công Triêm (2011) : “Microsoft Powerpoint là một phần
mềm thuộc bộ tin học văn phòng - MicroSoft Office – phục vụ việc tạo ra các

nội dung cơ bản của bài…
c. Những chức năng của phần mềm Powerpoint
Theo Hoàng Thị Quyên (2009): Phần mềm MS. PowerPoint có những
tính năng sau:
- Giúp GV trình bày nội dung kiến thức một cách lôgic, dẫn dắt HS đi
sâu vào từng vấn đề cụ thể.
- GV có thể dùng hình ảnh, âm thanh, cùng với chữ viết dưới dạng câu
hỏi, bài tập Các vấn đề cụ thể được trình bày lần lượt trên một phông nền có
màu sắc hài hoà, kèm theo hình ảnh, âm thanh sinh động gây ấn tượng mạnh
tới người học.
- GV có thể tự thiết kế nội dung bằng các sơ đồ, biểu bảng, chữ viết kết
hợp với việc dùng đồ dùng học; có thể cho các hình ảnh, sơ đồ, nội dung của
các câu hỏi, bài tập lần lượt xuất hiện trên màn hình theo tiến trình DH; cũng
18
có thể sử dụng âm thanh, lời nói, nhạc nền phụ học cho bài giảng tạo cảm giác
hưng phấn giúp cho HS tiếp thu kiến thức tốt hơn.
- GV có thể kết nối các slide trong từng phần của nội dung DH để tạo
thành một chương trình lôgic theo hình thức động hoá hoàn toàn, hoặc theo
hình thức tự điều khiển thông qua bàn phím hay con chuột cho phép GV
hoàn toàn chủ động điều khiển hoạt động DH trong một tiết dạy để đạt hiệu
quả cao nhất.
19
2.2.3. Bài giảng điện tử
2.2.3.1. Khái niệm bài giảng điện tử
Theo trang ( http://enews.agu.edu.vn/?act=VIEW&a=12173) :“BGĐT
là bài giảng được xây dựng, thiết kế trên máy tính qua việc tích hợp các ứng
dụng CNTT nhằm hỗ trợ DH một cách có hiệu quả”
Theo Lê Công Triêm (2002): “BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên
lớp nhằm thực thi giáo án điện tử, BGĐT là tập hợp các học liệu điện tử được
tổ chức theo một kết cấu sư phạm để có thể giúp người học đạt được kiến

quyết được các câu hỏi, phiếu học tập, đó cũng đồng thời là quá trình thực
hiện các mục tiêu dạy - học đã đề ra.
2.2.3.3. Các yếu tố cần thiết đối với một bài giảng điện tử
Theo Võ Đình Bảy và cộng sự (2011): Quá trình thiết kế và thực hiện
một BGĐT cần thể hiện được các yếu tố sau:
* Tính đa phương tiện (Multimedia): là sự kết hợp của các PT khác
nhau dùng để trình bày thông tin thu hút người học bao gồm văn bản (text),
âm thanh (sound), hình ảnh đồ họa (image/graphic), phim minh họa.
* Tính tương tác: Sự trợ giúp đa phương tiện của máy tính cho phép
người thầy và người học khai thác các đối thoại, xem xét, khám phá các vấn
đề, đưa ra câu hỏi và nhận xét về câu trả lời
* Tri thức: Là trung tâm và là mục tiêu của bài học mà hai yếu tố đa
phương tiện và tương tác phải nhắm đến. Nếu hai yếu tố trên nhằm thu hút sự
chú ý của người học thì chính yếu tố tri thức kích thích sự tưởng tượng sáng
tạo của người học.
2.2.3.4. Các yêu cầu đối với một bài giảng điện tử
Theo Võ Đình Bảy (2011): Các yêu cầu đối với một BGĐT là:
- Đầy đủ: Đảm bảo đủ yêu cầu nội dung bài học
- Chính xác: Về thông tin, đảm bảo có sai sót ít nhất
21
- Trực quan: Hình vẽ, âm thanh, bảng biểu trực quan, sinh động hấp
dẫn người học
- Bài kiểm tra: Thực hiện từng mục, từng bài, sắp xếp từ dễ tới khó,
trình bày trực quan nhằm đánh giá đầy đủ mức độ nhận thức của người học
từng phần và toàn bộ bài học.
- Yêu cầu về phần nội dung: Cần trình bày nội dung với lý thuyết cô
đọng được minh họa sinh động và có tính tương tác cao rõ nét mà phương
pháp giảng bằng lời khó diễn tả. Để thực hiện yêu cầu này, người thầy phải
hiểu rất rõ vấn đề trình bày, nắm được các phương pháp sư phạm cần thiết và
đồng thời phải có kĩ năng về tin học để thực hiện các minh họa, mô phỏng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status