Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác gi
ảSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy, cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Kinh tế,
Khoa sau đại học trường đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, đặc biệt là sự
CN & TTCN
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
XD
Xây dựng
GTSX
Giá trị sản xuất
BQ
Bình quân
HĐBT
Hội đồng Bộ trưởng
NQ/BCT
Nghị quyết - Bộ chính trị
NQ/TW
Nghị quyết - Trung ương
QĐ/TTg
Quyết định – Thủ tướng
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
SX
Sản xuất
TM-DV
Thương mại – dịch vụ
SXKD
Sản xuất kinh doanh
45
2.5.
Thực trạng dân số - lao động thị xã Sông Công
48
2.6.
Các chỉ tiêu đánh giá mức sống dân cư tại thị xã
49
2.7.
Tốc độ ĐTH của thị xã Sông Công, giai đoạn 2005 - 2009
52
2.8.
Các DA đầu tư đã được cấp giấy phép trên địa bàn thị xã
53
2.9.
Hiệu quả đầu tư của các DA đã triển khai thực hiện trên
57
2.10.
Kết quả phân tích chất lượng nước thải sản xuất
59
2.11.
Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh khu vực nhà
máy kẽm điện phân
60
76
2.20.
kiến của các hộ điều tra đánh giá sự thay đổi của thu nhập do tác động
của ĐTH
78
2.21.
kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của ĐTH
79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ STT Tên biểu đồ Trang
2.1.
Tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành giai đoạn 2005 - 2009
41
2.2.
ii
iii
iv
v
1.
MỞ
ĐẦU
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3
đ
ối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 38
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 38
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 40
2.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
2.2.1. Khái quát quá trình đô thị hóa thị xã Sông Công 51
2.2.2. Thực trạng quá trình đô thị hoá 52
2.2.3. Ảnh hưởng của ĐTH đến phát triển kinh tế của hộ nông dân 65
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA 88
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT
NHỮNG ẢNH HƢỞNG CỦA ĐỘ THỊ HÓA ĐẾN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ THỊ XÃ SÔNG CÔNG 90
3.1. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THỊ XÃ SÔNG CÔNG
ĐẾN NĂM 2015 90
3.1.1. Định hướng phát triển không gian đô thị 90
3.1.2. Bố trí các mục đích sử dụng đất chuyên dùng [18] 90
3.1.3. Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan đô thị 93
3.2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY NHỮNG MẶT
TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƢỞNG TIÊU CỰC CỦA
ĐÔ THỊ HOÁ 94
3.2.1. Giải pháp chung 94
3.2.2. Những giải pháp cụ thể 94
KẾ T LUẬ N VÀ KIẾ N NGHỊ 102
1. KẾT LUẬN 102
2. KIẾN NGỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
hoạch sẽ được tiến hành như thế nào? Cuộc sống của người dân sau khi cắt
phần đất nông nghiệp cho việc giải phóng mặt bằng sẽ ra sao? là những vấn đề
cần được phân tích, tìm hiểu để đưa ra phương hướng giải quyết.
Nhận thức được tầm quan trọng về sự ảnh hưởng của đô thị hoá đối với
sự phát triển kinh tế của thị xã và đời sống của người dân bị thu hồi đất, tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng của quá trình của đô thị hoá đến khu vực nông
nghiệp, nông thôn thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên nhằm đề xuất một số
giải pháp giải quyết những ảnh hưởng của đô thị hoá đến đến đời sống kinh
tế và xã hội của người dân bị mất đất trên địa bàn thị xã.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản về đô thị, đô thị hoá và
các nhân tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá.
- Phân tích thực trạng để tìm ra những mặt tích cực cũng như những
tiêu cực mà quá trình đô thị hoá mang lại cho đời sống người dân địa phương
nói riêng và phát triển kinh tế xã hội thị xã nói chung.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu và kiến nghị một số vấn đề nhằm giải quyết
những ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông nghiệp, nông thôn thị xã Sông Công.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu
1. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của thị xã Sông Công
2. Thực trạng về quá trình đô thị hoá tại thị xã
3. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến thu nhập của hộ
+ Chương I: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
+ Chương II: Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá tới phát triển kinh tế
xã hội tại thị xã Sông Công.
+ Chương III: Một số giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ trong quá
trình đô thị hóa tại thị xã Sông Công.
- Phần Kết luận và kiến nghị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
TỔ NG QUAN TÀ I LIỆ U NGHIÊN CƢ́ U VÀ
PHƢƠNG PHÁ P NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế
* Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
- Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính
bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
- Tăng trƣởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng trong một
thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân
đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI).
Trong đó:
+ Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng
sản sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một
tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ).
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao
gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm
đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn.
* Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế
Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước
đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục
tiêu phấn đấu của một chính phủ vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu
quả điều hành đất nước của chính phủ.
Ở một góc độ nào đó tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính
xác phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
nghèo có thể tăng lên, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao
và bất bình đẳng xã hội cũng có thể tăng. Tăng trưởng có thể cao nhưng chất
lượng cuộc sống có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị
khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí.
Như vậy giữa tăng trưởng và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển và ngược lại sự phát triển về
mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng.
1.1.1.2. Đô thị hóa
a. Khái niệm về đô thị
Khái niệm về đô thị có thể được nhìn nhận từ nhiều giác độ khác nhau
như chức năng kinh tế, quy mô dân số, cơ cấu quy hoạch, quản lý Nhìn
chung các quan điểm đều cho rằng, đô thị có những đặc điểm sau:
- Đô thị là nơi tập trung đông dân cư, mật độ dân số đô thị cao hơn bất
kỳ một vùng nông thôn nào khác, lao động là phi nông nghiệp sống và làm
việc theo kiểu thành thị [3].
Tại Việt Nam, theo phân cấp quản lý, đô thị là các thành phố, thị xã, thị
trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập.
Quyết định số 132/QĐ - HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cũng đã quy định đô thị là các điểm dân cư có
các yếu tố cơ bản sau:
- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
- Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn).
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% tổng số lao động, là nơi có sản
xuất và dịch vụ thương mại hàng hoá phát triển.
- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật các các công trình công cộng phục vụ dân
cư thành thị.
- Mật độ dân cư được xác định tuỳ theo từng loại đô thị và phù hợp với
đặc điểm từng vùng.
Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 02/2002/TTLT-BXD-BTC- BCP ngày 8
tháng 3 năm 2002 của Liên bộ Xây dựng và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ
cũng quy định: đối với khu vực nội thị (nội thành phố, nội thị xã, thị trấn), tỷ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; kết cấu
hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu
chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch, xây dựng quy định cho từng loại đô thị;
quy mô dân số ít nhất là 4.000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000
người/km
2
.
Như vậy, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay
* Đô thị hoá ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của
thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, và kết cấu hạ tầng tạo ra các
cụm đô thị, liên đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn.
* Đô thị hoá giả tạo là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư
đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn dẫn đến
tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuộc
sống đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,
dịch vụ do vậy đô thị hoá gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tóm lại, đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất
trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và
điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu
trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số [1].
1.1.1.3. Vai trò của đô thị và đô thị hoá trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
a. Tác động tích cực của đô thị và quá trình đô thị hoá đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Sự phát triển đô thị kích thích tăng
trưởng và phát triển của các lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế thông
qua quá trình phân bố lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ công nghệ, văn
hoá, xã hội. Với sự phát triển của hệ thống các đô thị, ở nhiều nước đã từng
bước hình thành được những vùng lãnh thổ phát triển không chỉ đảm nhận
chức năng động lực thúc đẩy sự phát triển toàn bộ kinh tế - xã hội mà còn
đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa đảm nhận vai trò tiếp
nhận thông tin, các thành tựu về phát triển khoa học, kinh tế, văn hoá của thế
giới rồi lan rộng ra các vùng xung quanh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở kỹ
thuật cần thiết cho người nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới
hóa, sinh học hóa để làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng
hoá có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công
nghiệp chế biến và thị trường trong ngoài nước.
Năm là, ĐTH góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng
lân cận. Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể
tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong
việc nâng cao thu nhập cho họ. Khi mức thu nhập bình quân người/ tháng
tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Điều đó cho thấy ĐTH làm mức sống của dân
cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo.
Sáu là, ĐTH cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổi
thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng,
tăng tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa, [6].
b. Những mặt hạn chế của quá trình đô thị hoá
Bên cạnh những mặt tích cực, tạo điều kiện thuận lợi đối với sản xuất
và đời sống con người, quá trình đô thị hoá cũng có những mặt hạn chế đó là:
- Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp.
Một bộ phận nông dân bị mất đất canh tác, mất tư liệu sản xuất chủ yếu, thiếu
hoặc mất việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn.
- Hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị lớn, thậm chí cực lớn,
gây mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư. Những hộ nông dân bị
thu hồi đất do phát triển công nghiệp và xây dựng các công trình công cộng di
cư từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm.
- Gia tăng các tệ nạn xã hội và làm tăng ô nhiễm môi trường mất cân
bằng sinh thái. Tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, làm
Hai là, đô thị hoá theo chiều sâu. Là quá trình hiện đại hoá và nâng cao
trình độ của các đô thị hiện có. Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao, phương
thức các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật, công
nghệ ngày càng tăng cường; hiệu quả kinh tế ngày càng được cải thiện và nâng
cao. đô thị hoá theo chiều sâu là quá trình thường xuyên và là yêu cầu tất yếu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
của quá trình tăng trưởng và phát triển. Quá trình đó đòi hỏi các nhà quản lý đô
thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động và phải
biết điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả
trên cơ sở hiện đại hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội đô thị [6].
1.1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa
- Nhân tố tự nhiên: trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì đô
thị hoá phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những vùng có khí hậu
thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác
sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hoá sớm hơn, quy mô lớn
hơn. Ngược lại những vùng khác sẽ đô thị hoá chậm hơn, quy mô nhỏ hơn.
Từ đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng.
- Nhân tố kinh tế - xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình
thái đô thị tương ứng và do đó quá trình đô thị hoá cũng có đặc trưng riêng
của nó. Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển
mạnh. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hoá và
hiện đại hoá, là tiền đề cho đô thị hoá. Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam hiện
nay đang diễn ra với tốc độ cao, biểu hiện cụ thể là mở rộng quy mô đô thị
theo mô hình phát triển từng phần theo một quy hoạch thống nhất; việc làm ở
đô thị được tăng thêm đáng kể, tuy nhiên tốc độ tăng việc làm còn chưa phù
hợp với tốc độ tăng dân số đô thị, chất lượng sống của người dân đô thị chưa
cao, rất nhiều vấn đề của đô thị được đặt ra và chưa có giải pháp hữu hiệu
cho mỗi đô thị, theo vị trí và chức năng của mình, phát huy được đầy đủ các
thế mạnh góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội
chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc. Đô thị hoá liên quan trực tiếp đến nhiều vấn đề
kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục tập quán, lối sống của toàn xã hội, từng
cộng đồng và cá nhân. Nhận thức vấn đề này, Nhà nước đã ban hành nhiều
chính sách giải quyết những vấn đề cơ bản khu vực nông thôn trong quá trình
đô thị hoá. Hội nghị Ban chấp hành TW 5 (khoá IX) ngày 18/3/2002 đã đưa
ra Nghị quyết về nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối
với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và vấn đề việc làm cho nông
dân. đó là Nghị quyết số 13 NQ/ TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng
cao hiệu quả kinh tế tập thể và Nghị quyết số 14 NQ/TW về đẩy mạnh CNH –
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010.
Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ người lao động như
Nghị định số 22/1998/NĐ – CP ngày 24/4/1998 quy định nông dân khi thu
hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ trực tiếp kinh phí dạy nghề để chuyển nghề;
Chính phủ đã có Nghị quyết số 09/2000/NQ – CP về một số chủ trương và
chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 126/1998/QĐ - TTg ngày
11/7/1998 về phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm
2000; Quyết định số 032/2000/QĐ - TTg ngày 24/11/2000 về một số chính
sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn; Quyết định số
143/2001/QĐ - TTg ngày 27/9/2001 về phê duyệt Chương trình mục tiêu
quốc gia xoá đói giảm nghèo và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất (thay thế Nghị định 22/1998/NĐ – CP). Mới đây là Quyết
định số 81/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ
dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn. Nội dung cơ bản của chính sách
47,4
Khu vực phát triển
54,99
66,7
73,7
76,1
Khu vực kém phát triển
77,8
25,1
34,7
40,5
Khu vực kém phát triển nhất
7,1
12,7
20,1
25,4
Nguồn: World urbanization prospect: 1996, New York 1997
Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số đô
thị toàn thế giới là từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17.8%
lên 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% lên 76,1%.
Hiện tại tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi là
45%, Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh. Theo báo cáo của Liên hợp
quốc, trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành
phố mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển. Đến năm 2030, hơn 60% dân
số thế giới sống ở các đô thị [8].
* Đô thị hoá ở Ấn độ [6]
Là một nước đông dân cư đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc,
năm 2000 dân số của Ấn độ đã vượt qua ngưỡng 1 tỷ người và kéo theo nó là
nhu cầu nhà ở cũng rất cao. Ở một số thành phố lớn, vấn đề nhà ở càng trở
kết quả của việc phát triển nhanh chóng các khu công nghiệp, các tổ hợp nhà
máy lớn ở Seoul và các thành phố lớn khác.
Seoul, thủ đô Hàn Quốc là thành phố đông dân cư thứ tư trên thế giới,
với 10,97 triệu dân. Dân số riêng Seoul chiếm 1/4 dân số Hàn Quốc, trong khi
đó diện tích Seoul là 605,3 km
2
, chỉ chiếm 0,6% diện tích Hàn Quốc. Mật độ
dân số cao (trên 18.000 người/ km
2
) là vấn đề xã hội nhức nhối của Seoul, đòi
hỏi phải có chính sách phát triển và quy hoạch phù hợp. Hiện tại, do sản xuất
phát triển nên vẫn tồn tại khuynh hướng nông thôn di cư mạnh ra các khu vực
đô thị thuộc Seoul để kiếm việc làm và có cuộc sống đô thị, làm mật độ dân
số tại thủ đô Seoul ngày càng cao.