Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực hành Vật lý – 7
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Việc đổi mới phương pháp dạy học phải căn cứ vào mục tiêu của môn Vật lí ở
trường trung học cơ sở. Một trong những đổi mới của mục tiêu giáo dục phổ thông là phát
triển và hình thành năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực thích ứng và tự
khẳng định mình.
Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm. Các khái niệm, định luật đều được xây
dựng trên cơ sở khảo sát, phân tích các sự kiện thực nghiệm và kiểm tra bằng thực nghiệm.
Vì vậy trong việc giảng dạy vật lí cấp hai, phương pháp thực nghiệm có vị trí rất đặc biệt
góp phần phát triển năng lực tư duy, xây dựng thế giới quan khoa học và rèn luyện những
kỹ năng cơ bản có tính chất kỹ thuật tổng hợp của người lao động mới.
Nội dung chương trình vật lí 7 đơn giản, gắn liền với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
của các em, phần lớn thí nghiệm đưa vào sách giáo khoa đều đơn giản, dễ thực hiện, phù
hợp với nhu cầu, năng lực và hứng thú của học sinh nhằm tạo điều kiện cho số đông học
sinh được trải nghiệm ( tự mình làm thí nghiệm, tự mình quan sát, đo đạc) và rút ra nhận
xét, kết luận. Vậy thì làm thế nào để các em tiến hành thí nghiệm hiệu quả? Rút ra tính
chất, kết luận chính xác? Hoạt động nhóm đồng bộ, mạnh dạn đề xuất ý kiến? Đây là vấn
đề mà bản thân tôi muốn nghiên cứu tìm ra phương pháp khả thi để giúp học sinh hoạt
động nhóm tích cực hiệu quả nhằm nâng cao chất lương học tập của học sinh. Do đó tôi
viết sáng kiến kinh nghiệm “Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực
hành vật lí”.
Chương II:
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Dựa vào mục tiêu chung của giáo dục phổ thông nhằm vươn tới, đuổi kịp và hòa
nhập với xu thế phát triển giáo dục trên thế giới.
Trang . 1
Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực hành Vật lý – 7
Dựa vào lí luận kiểu dạy học “hướng tập trung vào học sinh trên cơ sở hoạt động
của học sinh”. Những đổi mới đồng bộ về giáo dục trung học cơ sở theo tư tưởng tích cực
hóa hoạt động học tập của học sinh đã đặt ra những yêu cầu bức thiết về đổi mới phương
nghiệm do học sinh tiến hành trên lớp gồm hai nội dung : thí nghiệm nghiên cứu kiến thức
mới và thí nghiệm thực hành.
Thí nghiệm để hình thành kiến thức mới :
Trong chương trình Vật lí 7, thí nghiệm trực diện phần lớn để hình thành kiến thức
mới. Một số ít thí nghiệm để củng cố kiến thức. Ví dụ: Thí nghiệm để giải thích ứng dụng
về sự truyền thẳng của ánh sáng ( bài 2), thí nghiệm kiểm tra sự thay đổi vùng bóng tối
và bóng nửa tối ( bài 3), thí nghiệm để kiểm tra độ cao của âm phụ thuộc vào tần số ( bài
11).
Khi dạy các bài có thí nghiệm, giáo viên phải nghiên cứu cách bố trí thí nghiệm, tiến
hành thí nghiệm( để đạt được mục đích thí nghiệm, cần sử dụng các dụng cụ nào, bố trí thí
nghiệm ra sao, tiến hành thí nghiệm theo các bước nào, cần quan sát gì, đo đạt cái gì?…),
không xem nhẹ các dụng cụ thí nghiệm đơn giản.Giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh
tự tay làm thí nghiệm, tự mình quan sát, đo đạt và rút ra nhận xét, kết luận- tức là được trải
nghiệm trong thực tế.
Đối với các thí nghiệm đơn giản dựa trên những dụng cụ rẻ tiền, dễ kiếm và có hiệu
quả rõ ràng, giáo viên tổ chức thực hành đồng loạt theo nhóm nhỏ để nhiều em được tự tay
làm, tự mình trải nghiệm.
Ví dụ:
Trang . 3
Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực hành Vật lý – 7
-Thí nghiệm về sự truyền thẳng của ánh sáng. Mỗi nhóm 2 em tự chuẩn bị các ống nhỏ
thẳng và ống cong để quan sát ánh sáng từ đèn pin.(bài 2)
-Thí nghiệm kiểm tra ảnh tạo bởi gương cầu lồi. Mỗi bàn tự chuẩn bị một cái muôi múc
canh bằng inox để quan sát ảnh của vật ở mặt lồi của cái muôi ( bài 7).
-Thí nghiệm bật dây cao su để quan sát dao động của dây và lắng nghe âm phát ra, gõ
vào mặt trống và tìm phương án kiểm tra sự rung động của mặt trống (bài 10).
-Thí nghiệm bật thước thép để quan sát dao động nhanh hay chậm, mạnh hay yếu và
lắng nghe âm phát ra ( bài 17)…
Khi làm từng thí nghiệm này cần chú ý hướng dẫn học sinh quan sát cụ thể cái gì và rèn
các em dùng thuật vật lí ngữ phù hợp để thu thập những thông tin cần thiết. Chẳng hạn như
mục đích , phân công và hướng dẫn cụ thể công việc phải làm: em A áp tai xuống bàn, em
B đứng bình thường để tai trong không khí. Cả hai em này không nhìn thấy thao tác của
em C ở đầu bàn kia. Em C gõ nhẹ xuống bàn vài lần, hai bạn kia nêu số lần mà bạn C đã
gõ nhận xét âm truyền trong gỗ tốt hơn truyền trong không khí.
- Thí nghiệm về hai loại điện tích ( bài 18).Mỗi nhóm đọc thông tin. Gọi vài em nêu
phương án thí nghiệm.Bước 1: khi chưa cọ xát không có hiện tượng xảy ra. Bước 2 : cọ
xát hai thanh nhựa giống nhau vào vải khô quan sát, nhận xét: chúng đẩy nhau.Tương
tự cọ xát thanh nhựa vào vải, thanh thủy tinh vào lụa khi đưa lại gần nhau thì chúng hút
nhau. Khi làm thí nghiệm này giáo viên cần theo dõi thao tác các nhóm (phải cọ xát theo
một chiều như nhau với số lần như nhau, đặt nhanh thanh nhựa lên giá nhọn, đưa thanh
thủy tinh lại gần ) và giúp đỡ các nhóm gặp khó khăn sao cho kết quả thí nghiệm là chính
xác.
Các thí nghiệm với các dụng cụ có sẵn không quá phức tạp , việc bố trí và tiến hành thí
nghiệm với các dụng cụ này cũng không quá khó đối với học sinh, các hiện tượng vật lí
diễn ra trong thí nghiệm dễ quan sát, không quá phức tạp. Có thể sử dụng những dụng cụ
dễ kiếm, quen thuộc trong đời sống hàng ngày. Nhờ sự quen thuộc này mà học sinh có thể
đề xuất được những phương án thí nghiệm chứ không chỉ máy móc tiến hành thí nghiệm
Trang . 5
Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực hành Vật lý – 7
do giáo viên đưa ra. Các thí nghiệm này không đòi hỏi nhiều thời gian trong việc bố trí và
tiến hành thí nghiệm.
Các thí nghiệm có tác dụng to lớn trong việc phát triển năng lực hoạt động nhận
thức của học sinh nhưng do khó khăn về dụng cụ thí nghiệm về thời gian, về trình độ học
sinh, về kỹ thuật thí nghiệm nên không phải tất cả các thí nghiệm đều tiến hành đồng loạt
được. Ví dụ: thí nghiệm hình 11.3 nghiên cứu về mối quan hệ giữa dao động nhanh chậm
và độ cao của âm phát ra. Trường hợp này giáo viên chỉ làm biểu diễn cho cả lớp quan sát.
Các yêu cầu trong việc chuẩn bị thí nghiệm:
Đối với giáo viên:
- Vì thí nghiệm trực diện là một bộ phận của bài học nên giáo viên cần phải chuẩn bị
phương án thí nghiệm ngay khi soạn bài. Cần dự đoán các phương án thí nghiệm mà học
Thực hành để hình thành kiến thức mới: Loại bài này các em phải thực hành đo
đạc định lượng dựa vào tài liệu hướng dẫn sẵn rồi viết báo cáo thực hành.
Ví dụ: Thực hành đo hiệu điện thế và cường độ dòng điện đối với đoạn mạch nối
tiếp và đoạn mạch song song (bài 27, 28). Sau khi đọc thông tin các nhóm lựa chọn dụng
cụ phù hợp và mắc mạch điện theo sơ đồ. Giáo viên quan sát, theo dõi và chỉ dẫn các
nhóm yếu. Sau khi kiểm tra hoàn chỉnh mạch điện các nhóm đóng khóa , quan sát và ghi
kết quả. Thông qua hai bài thực hành này các em rút ra kiến thức mới về hiệu điện thế và
cường độ dòng điện trong đoạn mạch nối tiếp và đoạn mạch song song.
Thực hành để rèn luyện một loại kĩ năng chuyên biệt : Về hình thức tổ chức dạy
học phần này cũng giống như các tiết thí nghiệm khác .
Ví dụ : Bài thực hành “ Quan sát và vẽ ảnh cuả một vật tạo bởi gương phẳng” ( Bài 6).
Thông qua thực hành học sinh tự nhận biết được khái niệm vùng nhìn thấy của gương
Trang . 7
Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực hành Vật lý – 7
phẳng . Trong bài thực hành này, mỗi nhóm học sinh dùng chung một bộ thí nghiệm,
nhưng mỗi học sinh phải làm một báo cáo riêng . Không cần thống nhất ý kiến trong
nhóm nên không cần thảo luận nhóm . Thông qua kết qủa thực hành chung , cá nhân học
sinh làm việc độc lập, nhịp độ làm việc của các em có thể khác nhau . Sau khi phân phát
dụng cụ cho mỗi nhóm, giáo viên nêu hai nội dung của bài thực hành và nhấn mạnh nội
dung thứ hai là xác định vùng nhìn thấy của gương phẳng . Nội dung này chưa được nằm
trong các bài trước học sinh phải tự xác định lấy . Khi thực hành các em căn cứ vào tài
liệu hướng dẫn – Đây cũng là một cách tập cho học sinh thu lượm thông tin qua tài liệu .
Để cá nhân học sinh vẽ ảnh chính xác và xác định xem mắt nhìn thấy ảnh của điểm nào ở
trước gương thì mỗi học sinh phải nắm vững tính chất của ảnh tạo bởi gương phẳng là
bằng vật và đối xứng với vật qua gương . Qua đó rèn kĩ năng vẽ ảng tạo bởi gương
phẳng cho học sinh .
Các yêu cầu trong việc chuẩn bị thí nghiệm thực hành
Đối với giáo viên:
Cần tìm hiểu kỹ các bài thí nghiệm thực hành trong sách giáo khoa để xác định rõ
ràng các nhiệm vụ giao cho học sinh và cách kiểm tra đánh giá việc thực hiện các nhiệm
-Mạnh dạn đề xuất ý kiến, trao đổi thống nhất ý kiến .
- Thí nghiệm dễ nên sắp xếp để mỗi thành viên trong nhóm đều được làm thí nghiệm .
Tránh trường hợp dựa dẫm, lấy sẵn kết quả cuả bạn.
- Báo cáo kết quả của nhóm mình.
- Cá nhân làm báo cáo thực hành ( Đối với bài thực hành ).
IV. KẾT QUẢ :
Trang . 9
Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực hành Vật lý – 7
Phải khẳng định đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần tích cực hóa hoạt động
học tập của học sinh đã tạo ra môi trường học tập sôi động , mọi người cùng nhau xây
dựng nhận thức mới . Nó thúc đẩy con người linh hoạt, sáng tạo trong việc giải vấn đề và
khám phá cái mới. Đây không phải là việc nhận thức một chiều nên việc nắm kiến thức
của học sinh được diễn ra theo khả năng biểu lộ tính tích cực của trí tuệ và lòng ham hiểu
biết của học sinh .
Khi chưa thực hiện phương pháp mới : Giờ học giáo viên làm việc là chủ yếu,
thuyết trình nhiều. Học sinh ghi chép nhiều, ít nói, thụ động, lười soạn bài, hiệu quả mỗi
tiết học không cao.
Khi thực hiện phương pháp mới : không khí sôi động, thoải mái hơn. Các em mạnh
dạn đề xuất ý kiến của mình, chủ động học bài, chuẩn bị bài và nắm bài ngay tại lớp, thao
tác thí nghiệm thành thạo, lập luận có căn cứ khoa học.Cụ thể:
KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH LỚP 7 VÀ 7 HỌC KÌ :
THỜI
ĐIỂM
TSHS
GIỎI KHÁ T.BÌNH YẾU
SL TL SL TL SL TL SL TL
V. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Qua thực hiện phương pháp dạy học mới, nhờ sự nổ lực của bản thân giáo viên, học
sinh đã có thá độ học tập đúng đắn, yêu thích bộ môn, nắm bắt kiến thức tốt. Ngoài ra còn
Thí nghiệm, thực hành chỉ là một trong nhiều phương pháp dạy học Vật lý. Nếu ta
chỉ sử dụng một phương pháp thì không thể thành công. Vậy cả lý thuyết và thực hành đều
quan trọng như nhau trong chất lượng kiến thức của học sinh.
Trong quá trình thực hiện phương pháp thí nghiệm và thực hành Vật lý tôi thấy các
em học sinh có những chuyển biến rõ rệt. Các em luôn chủ động sáng tạo, giờ học sôi nổi.
Học sinh làm việc có ý thức và tự giác. Chính trong quá trình hoạt động một cách tích cực,
chủ động để chiếm lĩnh tri thức các năng lực và phẩm chất nhân cách của học sinh được
hình thành và phát triển. Để duy trì và phát huy những
hiệu quả đã đạt được, bản thân tôi cần không ngừng học tập và tìm
hiểu để từng bước nâng cao chất lượng bộ môn. Sáng kiến kinh nghiệm này chắc hẳn còn
nhiều thiếu sót rất mong được sự đóng góp trao đổi của đồng nghiệp để tiết học đạt hiệu
quả cao hơn, góp phần vào việc hình thành tri thức cho học sinh trong công cuộc đào tạo
con người mới trong xã hội mới.
Trang . 12
Tổ chức dạy học hoạt động nhóm trong thí nghiệm và thực hành Vật lý – 7
Trang . 13