Đề tài: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN CÁC NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG
“MẮT. CÁC DỤNG CỤ QUANG” – SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÍ 11
Mục lục:
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài …………………………………………………………… 1
2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………… 1
3. Giả thuyết khoa học………………………………………………………… 3
4. Đối tượng nghiên cứu ………………………… 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………. …………………………….4
6. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………12
7. Đóng góp của luận văn……………………………………………………………6
8. Cấu trúc của luận văn……………………………………………………………5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Bản chất của các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của người học.
1.2. Dạy học dự án………………………………………………………………………12
1.2.3. Các loại dự án học tập……………………………………………………………16
1.2.4. Cấu trúc của quá trình DHDA……………………………………………………
1.2.5. Vai trò của GV và HS trong DHDA………………………………………………18
1.2.6. Đánh giá kết quả học tập của HS trong DHDA…………………………………20
1.2.7. Một số kĩ năng cần hình thành cho HS trong DHDA……………………………27
1.2.8. Lợi ích và hạn chế của DHDA……………………………………………………31
1.2.9. Lưu ý khi thiết kế bài học Vật lí thro quan điểm dạy học theo dự án…………… 33
các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi
hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ.
- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn, như có tư duy chuyển
biến, có những sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Biểu hiện qua kết quả học tập: HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ
năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng
trước những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn.
1.1.3.2. Các cấp độ của tính tích cực học tập
Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong
quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung. Theo G.I.Sukina, chia tích cực ra làm ba
cấp độ:
- Tính tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): HS bắt chước hành
động của GV, của bạn bè.
- Tính tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải thích tình huống
nhận thức): HS tìm cách độc lập giải quyết bài tập đã nêu ra, tìm lời giải hợp lí nhất.
- Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): HS nghĩ ra cách giải mới
hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới.
1.1.4. Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực
- Sự gần gũi với thực tế: Tạo mâu thuẫn nhận thức, tạo động cơ, hứng thú tìm cái mới, ta
thường gọi là tình huống có vấn đề. Kích thích hứng thú học tập của HS với những nội
dung có tính thực tiễn, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em, gắn với thực tế hoặc
những vấn đề có tính mới mẻ nhưng không quá xa lạ với các em.
- Sự phù hợp với mức độ phát triển: Cần có sự lựa chọn kĩ các vấn đề vừa sức và xác định
mức độ mà HS có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể. Cần tính đến sự
khác biệt về trình độ phát triển của từng đối tượng HS. Các yêu cầu đưa ra phải rõ ràng,
tránh mơ hồ, đa nghĩa.
- Không khí và các mối quan hệ trong nhóm: Kích thích hứng thú học tập cho các em
bằng những PPDH tích cực, tạo ra một môi trường học tập thoải mái, tạo điều kiện để các
em phải làm việc, động viên và giúp đỡ lớp học sao cho các HS mạnh dạn tham gia thảo
luận, đưa HS vào thế học tập chủ động.
vụ cụ thể đã được giao, toàn nhóm phải phối hợp để đạt một mục tiêu chung. Trong quá
trình học tập theo nhóm HS có nhiều bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết của mình cũng như biết
cách bảo vệ ý kiến của mình. Đó là cách tốt nhất để hình thành cho HS tính tích cực, độc
lập trong suy nghĩ cũng như trong hành động.
1.1.5.4. Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò và sự tự đánh giá
Mục đích của đánh giá HS trong DH nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh
việc dạy của thầy và điều chỉnh việc dạy của thầy và việc học của trò.
Trước đây, GV giữ vai trò độc quyền đánh giá, HS là đối tượng được đánh giá. Trong
PPDH tích cực, GV còn phải hướng dẫn cho HS năng lực tự đánh giá để tự điều chỉnh
cách học. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần mà nhà
trường cần phải rèn luyện cho HS.
1.1.5.5. Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế
PPDH tích cực còn tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, phù
hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, kĩ thuật, đội ngũ GV, khả năng của HS. Sử
dụng các phương tiện DH hiện đại khi cần thiết.
1.2. Dạy học dự án [19]
1.2.1. Khái niệm DHDA
Thuật ngữ “dự án” trong tiếng Anh là “project” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế.
Khái niệm dự án ngày nay được hiểu như là một dự định, một kế hoạch trong đó cần xác
định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần đạt
được mục tiêu đề ra.
DHDA (Project Based - Learning) là một PPDH tích cực trong đó GV hướng dẫn HS
thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực
hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.
DHDA đặc biệt nhấn mạnh tới việc hướng dẫn HS thực hiện dự án học tập gắn liền với
nội dung môn học. Dự án học tập được thực hiện trong những điều kiện xác định và có
tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau. Dự án học tập của HS thường được
thực hiện theo các nhóm nhỏ HS trong lớp hoặc có khi cả một tập thể lớp. Kết quả dự án
là những sản phẩm có thể công bố, giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu
tầm, sản phẩm thật hoặc chương trình hành động cụ thể…
thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống
nhất.
Như vậy, cũng như các PPDH tích cực khác, DH dự án thực chất là một quá trình:
- Biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục. HS tự lực nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức
bằng hành động của chính mình, tức là cá nhân hóa việc học.
- HS cộng tác với các HS khác trong nhóm, trong lớp làm cho kiến thức mà cá nhân tự
tìm ra mang tính XH, khách quan hơn, tức là XH hóa việc học.
- GV là người hướng dẫn, tổ chức quá trình cá nhân hóa việc học và xã hội hóa việc học.
1.2.2.3. Đặc điểm của DHDA
Các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lí thuyết cho DHDA đã nêu ra ba
đặc điểm cốt lõi:định hướng HS, định hướng thực tiễn, định hướng sản phẩm. Có thể cụ
thể hóa các đặc điểm của DHDA như sau:
- Định hướng vào thực tiễn. DHDA tạo ra kinh nghiệm học tập, thu hút HS vào những dự
án học tập trong thế giới thực, gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống
XH.
- Định hướng người học. DHDA quan tâm đến hứng thú của HS do đó phát huy được
tính tự lực cao, thúc đẩy ham muốn học tập của HS, tăng cường năng lực hoàn thành
những công việc quan trọng. HS tham giá tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá
trình học.
- Định hướng sản phẩm. Kết quả của dự án là những sản phẩm có thể công bố, giới thiệu
được. Sản phẩm có thể là vật chất, hoặc phi vật chất, hoặc là một bản thiết kế, hoặc chỉ có
thể là một văn bản kế hoạch. Tuy nhiên, sản phẩm dự án phải nghiêng về thực hiện một
cái gì đó thực tế dựa trên các thông tin thu thập được chứ không phải chỉ đơn thuần là
trình bày lại các thông tin thu thập được.
- Mang tính phức hợp. Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc
nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
- Cộng tác làm việc. Trong quá trình thực hiện dự án có sự cộng tác làm việc giữa các
thành viên trong nhóm, giữa HS với GV và có thể giữa HS với những người khác bên
ngoài nhà trường có liên quan trong dự án. Đặc điểm này gọi là học tập mang tính XH.
1.2.2.4. PPDH DA có gì khác so với các PPDH thông thường khác?
+ Dự án ngoài môn học: dự án này không nằm trong nội dung các môn học trong nhà
trường, chẳng hạn dự án thiết kế một buổi trình diễn thời trang cho lứa tuổi học đường,
xây dựng chương trình cho một buổi nói chuyện, gặp gỡ với các chuyên gia tư vấn.
- Phân loại theo quĩ thời gian:
+ Dự án nhỏ: thực hiện trong thời gian ngắn từ 2 đến 6 tiếng đồng hồ.
+ Dự án trung bình: còn gọi là ngày dự án.
+ Dự án lớn: còn gọi là tuần dự án lớn.
- Phân loại theo hình thức tham gia:
+ Dự án cá nhân: Bản thân mỗi HS tiến hành làm dự án học tập cho riêng mình. Thường
thì những dự án như thế tương đối đơn giản và mất không nhiều thời gian.
+ Dự án nhóm: Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm thực hiện một dự án học tập.
+ Dự án toàn lớp: Cả lớp làm chung một dự án.
+ Dự án toàn trường: Dự án được thực hiện trên qui mô lớn do toàn bộ các khối HS trong
nhà trường thực hiện.
- Phân loại theo nhiệm vụ:
+ Dự án tìm hiểu: Ví dụ HS tiến hành một cuộc điều tra để tìm hiểu về tỉ lệ HS bị cận thị
trong nhà trường, dự án tìm hiểu về tình trạng ô nhiễm môi trường, dự án tìm hiểu về
thực trạng an toàn giao thông ở Việt Nam hiện nay.
+ Dự án nghiên cứu, chế tạo: Ví dụ dự án nghiên cứu, chế tạo một máy phát điện, chế tạo
một Rơle điện từ, chế tạo một kính thiên văn.
+ Dự án thực hành: Ví dụ dự án lắp ráp máy điện theo thiết kế có sẵn và vận hành máy
điện đó.
+ Dự án hỗn hợp: Trong khi thực hiện dự án, HS phải tiến hành đồng thời nhiều hoạt
động tìm hiểu, nghiên cứu, thực hành.
Việc phân chia trên chỉ mang tính chất tương đối. Trong nhà trường phổ thông hiện nay,
GV thường cho các nhóm HS thực hiện các dự án tìm hiểu trong phạm vi môn học sau
khi HS học xong một chương và tổ chức báo cáo sản phẩm dự án trong một buổi ngoại
khóa.
1.2.4. Cấu trúc của quá trình DHDA
1.2.4.1. Cấu trúc của quá trình học theo dự án của HS
3 Bộ câu hỏi định
hướng
Bộ câu hỏi định hướng giúp HS hiểu rõ bản chất vấn đề,
hình dung ra dự án và tạo mối quan hệ giữa HS và nội
dung kiến thức.
4 Bài tập dự án dành Mỗi dự án đưa ra một vấn đề cần được giải quyết để đưa
cho HS đến một kết quả. Nhờ đó HS xác định được vai trò của
mình, nhiệm vụ của mình và sản phẩm phải đạt được
trong dự án.
5 Chi tiết dự án Đưa ra những thông tin chung về dự án, bao gồm những
chi tiết giúp tạo ra các bước liên kết.
6 Yêu cầu tiên quyết
đối với HS
Bao gồm danh sách các kĩ năng tiên quyết được cung
cấp nhằm xem xét trước những kĩ năng mà HS sẽ sử
dụng trong dự án.
7 Công nghệ trong lớp
học
- Liệt kê những phần mềm cụ thể và xác định những
thông tin cần thiết trên Internet.
- Giúp HS chuẩn bị máy cho lớp học, cài đặt phần mềm
và tài liệu phù hợp.
8 Các trang web gợi ý Bao gồm những đường dẫn về website có liên quan đến
dự án.
9 Tài liệu tham khảo Bao gồm sách giáo khoa, báo, tạp chí, băng hình, các
nguồn tài liệu mà HS sẽ phải tiếp cận thông qua các bài
giảng… được dùng làm cơ sở giúp GV tập hợp những
tài liệu cần thiết khi GV chuẩn bị cho dự án.
10 Các bước thực hiện
trong lớp học
Câu hỏi bài học là những câu hỏi bó hẹp trong một chủ đề hoặc bài học cụ thể. Câu hỏi
bài học có đặc điểm:
- Thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, bàn luận.
- Có đáp án “mở”, lôi cuốn các em vào việc khám phá những ý tưởng cụ thể đối với từng
chủ đề, môn học hoặc bài học.
- Đưa ra những vấn đề hoặc kích thích thảo luận nhằm bổ trợ cho câu hỏi khái quát.
- Khuyến khích khám phá, duy trì hứng thú, cho phép HS trả lời theo cách tiếp cận sáng
tạo, độc đáo.
Nói tóm lại, câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học đưa ra lí do căn bản của việc học, giúp
HS nhận thức được “vì sao” và “như thế nào”, khuyến khích tìm hiểu, thảo luận và
nghiên cứu. Để trả lời những câu hỏi như thế, HS phải xem xét kĩ các chủ đề, xác lập ý
nghĩa nội dung rồi mới xây dựng câu trả lời cụ thể từ những thông tin thu thập được.
* Câu hỏi nội dung:
- Câu hỏi nội dung là những câu hỏi hỗ trợ trực tiếp về nội dung và mục tiêu bài học, đó
là những câu hỏi yêu cầu HS trả lời dựa trên thực tế bài học, có liên quan trực tiếp đến hệ
thông các kiến thức HS thu được sau khi thực hiện dự án.
- Câu hỏi nội dung giúp HS xác định “ai’, “cái gì”, “ở đâu” và “khi nào” cũng như hỗ trợ
cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cách nhấn mạnh vào việc hiểu các nội
dung chi tiết trong bài.
- Các câu hỏi nội dung hầu hết chú trọng vào nội dung hơn là giải thích sự kiện đó và có
câu trả lời rõ ràng.
1.2.5. Vai trò của GV và HS trong DHDA
1.2.5.1. Vai trò của GV
Trong lớp học truyền thống, GV nắm giữ mọi kiến thức rồi truyền tải đến HS. Trong
DHDA, vai trò của GV trong lớp học rất khác biệt so với vai trò quen thuộc trong lớp học
truyền thống:
- GV không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống.
- Từ nội dung của bài học, GV thấy được sự liên quan của nó đến các vấn
đề của thực tiễn cuộc sống.
- Hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung bài học.
mức độ đạt được của mục tiêu, điều chỉnh trở lại mục tiêu. Có thể nói mục đích của đánh
giá là điều chỉnh, hợp lí hóa quá trình dạy và học.
1.2.6.2. Chức năng sư phạm của kiểm tra, đánh giá [12]
Trong dạy học ở trường phổ thông thì chức năng sư phạm của kiểm tra đánh giá được
chia thành ba chức năng:
- Chức năng chuẩn đoán: dùng khi bắt đầu DH một phần để xác định trình
độ xuất phát của HS.
- Chức năng định hướng hoạt động: dùng trong kiểm tra từng phần, kiểm
tra thường xuyên.
- Chức năng xác định thành tích học tập, hiệu quả DH: kiểm tra sau khi kết
thúc dạy một phần để đánh giá thành tích học tập, xác định trình độ kiến
thức, kĩ năng mà người học đạt được.
1.2.6.3. Các kiểu đánh giá dùng trong DH
- Tiền đánh giá (còn gọi là đánh giá trước: Mục đích của đánh giá này là để biết trình độ
xuất phát của HS khi bắt đầu tiếp nhận một chủ đề mới của chương trình học tập. Dựa
vào đó, GV xây dựng kế hoạch DH cho phù hợp.
- Đánh giá quá trình: Đây là dạng đánh giá được thực hiện thường xuyên trong quá trình
DH để theo dõi sự tiến bộ của HS. Từ đó GV có biện pháp thay đổi kế hoạch DH cho phù
hợp.
- Đánh giá tổng kết: Đây là hoạt động nhằm xem xét kết quả học tập của HS sau một giai
đoạn nhất định theo qui định chung. Từ đó GV có được thông tin để điều chỉnh từ mục
tiêu, nội dung cho đến PPDH.
1.2.6.4. Các công cụ đánh giá trong DHDA
Trong đánh giá chất lượng học, công cụ đánh giá được hiểu là các phương pháp, phương
tiện và kĩ thuật được sử dụng trong suốt quá trình nhằm đạt được các mục đích đánh giá.
• Trong DHDA có thể sử dụng nhiều loại công cụ để đánh giá chất lượng HS phổ
thông như phiếu hỏi, phiếu học tập, phiếu quan sát, rubric và các bài kiểm tra kết
quả học tập của HS. GV sẽ căn cứ vào mục đích đánh giá và xây dựng các chỉ số
đánh giá cụ thể mà quyết định sử dụng những loại công cụ nào cho thích hợp.
Sau đây là hai bộ công cụ đánh giá được sử dụng nhiều nhất trong DHDA.
kiểm tra được đầy đủ các vấn đề, nội dung mà mục tiêu DH đặt ra trong những thời điểm
và điều kiện cụ thể.
- Đảm bảo sự tương quan hợp lí giữa các yếu tố: dung lượng kiến thức, các loại kĩ năng
cần kiểm tra, thang điểm và thời gian làm bài kiểm tra.
- Đảm bảo tối đa yêu cầu khách quan khi triển khai thu thập thông tin bằng các bộ công
cụ. Một bài kiểm tra có tính khách quan nếu các GV chấm cùng một bài phải cho điểm
như nhau hoặc chỉ sai khác trong phạm vi sai số cho phép.
- Không lạm dụng hoặc quá thiên về một loại công cụ nào đó.
- Kết hợp sử dụng nhiều loại công cụ đánh nhằm vào những tiêu chí cụ thể. Mỗi loại công
cụ đánh giá thường có những ưu điểm và nhược điểm cần phát huy và hạn chế đến mức
có thể.
1.2.7. Một số kĩ năng cần hình thành cho HS trong DHDA
Trước khi thực hiện PP này, GV cần rèn cho HS những kĩ năng tối thiểu như kĩ năng
thảo luận nhóm, làm việc độc lập, tìm đọc và chọn lọc tài liệu, kĩ năng đánh giá và tự
đánh giá, kĩ năng trình bày…
1.2.7.1. Hướng dẫn HS tổ chức hoạt động trong nhóm DHDA
Đây là khâu rất quan trọng trong DHDA. Hoạt động nhóm là một hình thức tổ chức DH,
trong đó HS ở cùng một nhóm trao đổi ý kiến với nhau, hợp tác với nhau, giúp đỡ nhau
trong học tập. Cơ sở của DH theo nhóm xuất phát từ những quan niệm mới về bản chất
học tập nói chung và việc tổ chức học tập ở nhà trường hiện nay. Nguyên tắc cốt lõi là sử
dụng các mối quan hệ XH mang tính trực tiếp, đa chiều ở nhiều cấp độ ở các chủ thể để
tổ chức DH. Mối quan hệ này thể hiện ở hai mặt:
- Mặt nội dung nói lên tính chất của các quan hệ xã hội trong học đường, đó là tính hợp
tác và tính cạnh tranh lành mạnh.
- Mặt hình thức bao gồm tổng thể các mối quan hệ phong phú, đa đạng giữa các chủ thể
trong học đường.
DHTDA đòi hỏi HS phải làm việc theo nhóm thì mới hoàn thành được nhiệm vụ học tập
đã đề ra. Làm việc theo nhóm thúc đẩy sự tham gia tích cực của các thành viên, tăng
cường hiệu quả học tập, giúp cho sản phẩm có chất lượng hơn, ít thời gian hơn so với sản
phẩm của một cá nhân HS, nhờ đó mà tăng cường trách nhiệm cá nhân và có thể áp dụng
- Các nhóm nhận xét, đóng góp ý kiến và bổ sung cho nhau.
- GV tổng kết và chuẩn xác kiến thức.
• Những kĩ thuật cơ bản của làm việc nhóm mà GV cần rèn luyện cho HS trong quá
trình thực hiện dự án là:
1) Thiết lập mục tiêu hoạt động nhóm. Nhóm trưởng phải nêu ra được mục tiêu,
nhiệm vụ của nhóm để mỗi thành viên trong nhóm nhận thức được vai trò của
mình đối với nhóm.
2) Thiết kế nhiệm vụ học tập nhóm.
3) Thiết kế nhóm học tập (bao gồm hình thành nhóm, các loại nhóm và cấu trúc
nhóm, xác định qui mô nhóm).
4) Thiết lập, duy trì, kiểm soát các mối quan hệ tương tác trong nhóm.
5) Tổ chức, hướng dẫn và quản lí, đánh giá hoạt động học theo nhóm.
Tóm lại với cách tổ chức học nhóm đòi hỏi GV phải đầu tư thời gian, công sức. Đứng sau
các hoạt động của HS không có nghĩa là phó thác hoàn toàn cho HS mà ngược lại phải
theo dõi sát sao, hướng dẫn và có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Nếu tổ chức hoạt động nhóm
tốt, kết hợp với PP đánh giá công bằng, khách quan sẽ kích thích khả năng học tập của
HS, ngược lại sẽ làm cho HS chán nản.
1.2.7.2. Hướng dẫn HS lựa chọn chủ đề để thực hiện dự án
Đầu tiên, GV phải xác định:
- Dự án HS (hoặc GV) đưa ra phải có liên quan đến chương trình và phần kiến thức đang
học.
- HS thu được gì sau khi thực hiện dự án.
- Nội dung dự án giúp ích được gì cho HS trong việc học.
Sau đó, GV cần hướng dẫn HS lựa chọn dự án từ sách giáo khoa. Cụ thể như sau:
- Tìm những nội dung mà có thể tích hợp các kiến thức và kĩ năng khác
nhau.
- Tìm những nội dung có tính thực tiễn, liên quan đến các vấn đề lớn mang
tính XH cấp bách, thời sự như: vật liệu, năng lượng, ứng dụng của vật lí
trong kĩ thuật, công nghệ vào đời sống, lao động sản xuất…
- Xác lập được mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năng của các môn học.
- Một dự án học tập có thể kéo dài vài tuần hoặc vài tháng nên để xây dựng và thực hiện
được DHDA thì phải mất khá nhiều thời gian.
- DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lí thuyết mang tính trừu tượng, hệ
thống cũng như rèn luyện hệ thống kĩ năng cơ bản.
- DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.
- Để thực hiện được dự án HS phải có kiến thức về công nghệ thông tin và biết khai thác
thông tin từ mạng Internet.
- GV và HS đã quen với PPDH truyền thống từ nhiều năm trước nên khi áp dụng PPDH
DA, GV và HS sẽ gặp khá nhiều khó khắn.
1.2.9. Lưu ý khi thiết kế bài học Vật lí theo quan điểm DHDA [4]
Bản thiết kế mỗi bài học là sự kết hợp và xác lập được các mối liên hệ cần thiết, hợp lí
giữa những thiết kế cụ thể, bao gồm: thiết kế mục tiêu học tập, nội dung học tập, các hoạt
động học tập, các phương tiện DH, đánh giá tổng kết, môi trường học tập.
Vận dụng quan điểm của DHDA vào việc thiết kế một bài học Vật lí cần phải đảm bảo
các yêu cầu sau:
- Đặt HS vào vị trí trung tâm của quá trình DH để HS trực tiếp tham gia giải quyết vấn
đề, biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình HS tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh
tri thức và hình thành kĩ năng.
- Giúp HS tích hợp các kiến thức, kĩ năng đã lĩnh hội và xác lập mối liên hệ giữa các tri
thức và kĩ năng thuộc các môn học khác nhau để giải quyết vấn đề đặt ra.
- Tổ chức, thiết kế hoạt động phức hợp.
- Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS.
1.2.9.1. Thiết kế mục tiêu học tập
Mục tiêu DH cụ thể là cái đích mà GV mong muốn đạt được khi DH một kiến thức cụ
thể. việc xác định mục tiêu DH của từng đơn vị kiến thức cần xác định rõ mục tiêu đặt ra
không chỉ đối với kết quả HS đạt được sau khi học mà cả đối với hoạt động học của HS
trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Việc thiết kế mục tiêu của GV phải căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng và yêu cầu về
thái độ trong chương trình. Mục tiêu học tập của bài học được thiết kế theo một số qui tắc
sau:
thành dự án học tập là:
- Các hoạt động tìm tòi: tương ứng với các thông tin từ GV và các nguồn tài
liệu khác, HS cần thực hiện một vài hoạt động phát hiện sự kiện, vấn đề,
tình huống, nhiệm vụ học tập và tìm ra những liên hệ, thông tin trong các
tình huống, sự kiện.
- Các hoạt động xử lí, biến đổi và phát triển sự kiện, vấn đề: từ sự kiện mới
sẽ nảy sinh quá trình tư duy, suy luận, và khái quát hóa của người học. HS
sẽ tiến hành xử lí, biến đổi dữ liệu, thông tin và giá trị đã thu thập được
giúp người học phát triển kĩ năng trí tuệ và kĩ năng học tập.
- Các hoạt động ứng dụng, củng cố: qua hành động thực tế trong các tình
huống HS phải hoàn tất một công việc cụ thể. Có thể đó là nghiên cứu cá
nhân hoặc nhóm về một chủ đề, viết và trình bày một báo cáo, tiến hành
một thực nghiệm thăm dò hoặc chứng minh… Loại hoạt động này có chức
năng hoàn thiện tri thức và kĩ năng đã lĩnh hội được, củng cố những điều
đã được học bằng công việc.
- Các hoạt động đánh giá, điều chỉnh: đánh giá quá trình và kết quả, giúp
người học nhận thức rõ kết quả học tập, những thành công và thiếu sót của
mình, từ đó điều chỉnh nội dung và cách học, phát triển những ý tưởng
mới. Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quá trình học tập, nhất là tính
tích cực học tập.
1.2.9.4. Thiết kế các phương tiện dạy và học Vật lí
* Các phương tiện dạy và học Vật lí chia làm ba nhóm:
- Hỗ trợ GV: cung cấp tư liệu tham khảo, hướng dẫn giảng dạy, hỗ trợ sự tương tác giữa
thầy và trò, tạo lập môi trường và điều kiện sư phạm.
- Hỗ trợ HS: hỗ trợ tìm kiếm, khai thác thông tin, sự kiện, minh họa; công cụ tiến hành
hoạt động (nhận thức, giao tiếp, quản lí), hỗ trợ tương tác với GV và với các HS khác, trợ
giúp, hướng dẫn HS học tập…
- Hỗ trợ đồng thời cả GV và HS.
* Các phương tiện và học liệu được thiết kế theo một số qui tắc:
- Hỗ trợ triệt để cho các mục đích hoạt động của GV trên nhiều mặt: khai thác, phân tích
1.2.10. DHDA có thể đặt vào đâu trong DH ở trường phổ thông?
Áp dụng PPDHDA cho HS là một hướng đi đúng trong DH. Nhưng chương trình học
hiện nay của HS phổ thông là rất nặng nề, nếu không khéo thì dạy theo chương trình
không kịp chứ đừng nói đến thực hiện dự án này, dự án nọ.
Các buổi ngoại khóa là thời điểm thích hợp nhât và là môi trường thuận lợi nhất để tổ
chức DHDA. Tuy nhiên, GV hoàn toàn có thể tổ chức trong các giờ học trên lớp bằng
cách sử dụng kết hợp các hình thức làm việc tập thể, nhóm và cá nhân. Để làm được như
vậy, GV cần:
- Biết cách phân tích và lựa chọn những nội dung kiến thức, lựa chọn bài học phù hợp và
đưa ra dự án học tập phù hợp vì không phải bài nào cũng có thể dạy được theo dự án.
- Nếu để HS tập trung quá nhiều vào giải pháp của dự án thì lại rất dễ bỏ qua phần kiến
thức cơ bản, làm hỏng kiến thức. Trong tiết học GV cần biết xác định từng mốc thời điểm
khác nhau, thời điểm nào là truyền thụ kiến thức cơ bản, thời điểm nào là bắt tay vào thực
hiện dự án. Như vậy, HS thực hiện dự án mà vẫn đảm bảo khám phá kiến thức cơ bản.
- Phải biết lựa chọn trong thời điểm nào để hướng dẫn HS làm dự án. Nếu một lớp, trong
cùng một thời gian mà có cùng ba thầy cô giáo cùng giao dự án học tập cho HS thì sẽ ảnh
hưởng đến kết quả học tập của các em.
Có nhiều cách khác nhau để tổ chức DHTDA, có thể sử dụng cả bài dạy; có thể tổ chức
dạy trong một buổi riêng nhưng cũng có thể lồng vào trong từng tiết dạy. Tùy theo quĩ
thời gian, cách dạy mà GV có thể điều chỉnh để kết quả dạy học tốt hơn.
Để đảm bảo dạy và học theo phân phối chương trình như hiện nay, luận văn xin đề cập
đến vấn đề tích hợp PPDHDA vào trong các tiết học chính khóa.
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN CÁC NỘI DUNG KIẾN
THỨC CHƯƠNG “…” SGK VL11
2.1. Các nội dung kiến thức và kĩ năng cần hình thành
2.1.1. Ở cấp trung học cơ sở
2.1.2. Ở cấp trung học phổ thông
2.1.3. Những yêu cầu về nội dung, kĩ năng, thái độ
2.1.3.1. Mức độ nội dung kiến thức mà HS cần nắm vững
2.1.3.2. Những kĩ năng cơ bản cần rèn luyện
Qua tìm hiểu thực tế việc dạy và học chương “…” tại trường…, chúng tôi rút ra một số
kết luận sau đây:
2.2.3.1. Tình hình GV
- Các giờ học đều có kế hoạch bài học theo PP đổi mới, thực hiện kế hoạch bài học, tổ
chức các hoạt động theo nhóm, cá nhân HS hào hứng tham gia hoạt động học tập.
- Một số GV thực hiện soạn giảng theo PP học tích cực, tuy nhiên vai trò tổ chức, định
hướng của GV thể hiện qua giáo án và trong giờ học chưa thực sự rõ ràng, ít có sự tương
tác của GV và HS.
- Việc tổ chức hoạt động đôi khi còn mang tính hình thức, chưa có kĩ năng hoạt động
nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm chưa rõ ràng, chưa quan tâm đến tất cả HS trong
nhóm, chưa động viên khích lệ HS, chưa tạo điều kiện cho những HS thụ động tham gia
hoạt động.
- Khi tổ chức tình huống học tập: chưa đưa ra được những định hướng phù hợp, chưa tạo
điều kiện để HS tích cực tìm tòi, xây dựng kiến thức.
- Những câu hỏi mà GV đưa ra chỉ mang tính chất tái hiện các kiến thức đã học. Các câu
hỏi chưa kích thích được tính chủ động học tập của HS, chưa khai thác được những hiện
tượng gần gũi với đời sống để tạo hứng thú học tập cho HS.
- Đa số bài học không sử dụng thí nghiệm và dụng cụ trực quan. GV chưa phát huy được
vai trò của đồ dùng DH vào việc phát triển nhận thức của HS.
- Chưa có nhiều giờ dạy tích hợp công nghệ thông tin vào trong DH.
- GV thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS qua kiểm tra miệng, mười lăm
phút, một tiết. Việc thực hiện thường thực hiện theo qui định của kế hoạch DH để lấy đủ
số điểm qui định do đó chưa phát huy được vai trò của kiểm tra đánh giá đối với việc DH.
- Trường có xây dựng một trang web, trong đó có trang riêng của …. Mục đích của trang
này là hỗ trợ cho việc dạy và học, tuy nhiên tương tác hai chiều giữa GV và HS thể hiện
trên các trang web này vẫn còn nhiều hạn chế.
2.2.3.2. Tình hình HS
- Đa số cho rằng học mônn Vật lí là môn học khó và khô khan.
- HS ít có khả năng liên hệ những kiến thức Vật lí đã được học với thực tế cuộc sống
cũng như hạn chế trong việc vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng xảy
- Đổi mới hoạt động của người GV về quan điểm sư phạm, quan hệ thầy trò, trách nhiệm
của GV trong quá trình GD.
- Đổi mới qui chế cho điểm, kiểm tra, đánh giá hiện nay cho phù hợp với mục tiêu DH
mới. Cần đánh giá cả quá trình học tập của HS chứ không chỉ riêng đánh giá kết quả học
tập của HS. Đồng thời cần phát huy vai trò tự đánh giá của HS và đánh giá bạn học.
- Đổi mới đánh giá giờ dạy của GV.
Trong đó đổi mới hoạt động của người GV là quan trọng nhất vò đó là hoạt động trực
tiếp quyết định đến kết quả của quá trình DH.
2.4. Tổ chức DH
Sơ đồ tổ chức DH
STT Công việc Công việc của GV Công việc của HS
1 Chuẩn bị - Chọn các bài trong chương có thể
thực hiện dự án học tập.
- Tìm hiểu kiến thức xuất phát của
HS.
- Phác thảo ý tưởng dự án.
- Giới thiệu PPDHDA và cho HS
xem một số dự án mẫu.
- Hỗ trợ các kĩ năng công nghệ
thông tin cần thiết cho HS.
- Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ HS.
- Viết kế hoạch bài dạy.
- Tiếp thu PP học mới và các kĩ
năng công nghệ thông tin.
- Ngoài giờ học, HS tìm hiểu
thêm về DHDA qua đường link:
… (hoặc vào menu :
PPDHH/DHDA/ Cơ sở lí luận).
- Tham khảo các dự án mẫu qua
đường link:… làm cơ sở cho
- Hoàn thiện sản phẩm.
4 Tổ chức
trình bày,
giới thiệu
sản phẩm
- Chuẩn bị phòng máy, chép bài
tập HS vào máy sử dụng trình bày.
- Mời đồng nghiệp dự giờ (nếu
có).
- In các phiếu đánh giá phát cho
HS.
- Các nhóm trình bày sản phẩm
dự án
- Theo dõi.
- Thực hiện đánh giá sản phẩm
các nhóm.
- Ghi nhận các ý kiến đóng góp.
5 Đánh giá - Điều chỉnh kế hoạch bài dạy và
công cụ đánh giá cho phù hợp đối
tượng.
- Lấy ý kiến phản hồi từ HS, đồng
nghiệp.
- Cho HS làm bài kiểm tra, rút
kinh nghiệm.
- Tự nhìn lại quá trình thực hiện
dự án.
- Làm bài kiểm tra.
2.5. Xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả của việc phát huy tính tích cực, tự lực của
HS trong học tập một số kiến thức chương “…”
Trước khi thực hiện các nhiệm vụ học tập chương “…”, GV và HS cùng thống nhất xây
Tham gia nhưng
thực hiện những
công việc không
liên quan
2. Sự
lắng nghe
Lắng nghe cẩn
thận các ý kiến
của những người
khác.
Thường lắng nghe
cẩn thận các ý
kiến của người
khác.
Đôi khi không
lắng nghe các ý
kiến của những
người khác.
Không lắng
nghe ý kiến của
những người
khác.
3. Sự
phản hồi
Đưa ra sự phản
hồi chi tiết có tính
xây dựng khi cần
thiết.
Đưa ra sự phản
hồi có tính xây
bằng.
không chia sẻ
công việc một
cách công bằng.
5. Sự sắp
xếp thời
gian
Hoàn thành công
việc được giao
đúng thời gian.
Thường hoàn
thành công việc
được giao đúng
thời gian, không
làm đình trệ tiến
triển công việc
của nhóm.
Không hoàn
thành nhiệm vụ
được giao đúng
thời gian và làm
đình trệ công
việc của nhóm.
Không hoàn
thành nhiệm vụ
được giao đúng
thời gian và
thường xuyên
buộc nhóm phải
điều chỉnh hoặc
không vận dụng
được kiến thức
cơ bản, thông tin
còn sơ sài.
2. Hình
thức
- Các tranh ảnh sử
dụng đúng mục
đích và lựa chọn kĩ
càng, font chữ, màu
chữ, cỡ chữ hợp lí.
- Các slide dễ hiểu,
được sắp xếp hợp
lí, làm nổi bật nội
dung.
- Các tranh ảnh
được sử dụng
đúng mục đích,
font chữ khá rõ
ràng.
- Các slide dễ
hiểu, sắp xếp hợp
lí, không quá tải.
- Nhiều tranh ảnh
sử dụng không
chính xác, có một
số font chữ khó
đọc.
- Các slide dễ
hiểu, không quá
việc
nhóm
- Có bằng chứng
làm việc nhóm chặt
chẽ.
- Các thành viên
phân công và chia
sẻ công việc rõ
ràng.
- Có bằng chứng
làm việc nhóm
chặt chẽ.
- Phân công và
chia sẻ công việc
tương đối rõ ràng.
- Có bằng chứng
làm việc theo
nhóm.
- Có phân công
nhưng hiệu quả
công việc chưa
cao.
- Chưa có bằng
chứng làm việc
theo nhóm.
- Phân công
không rõ ràng và
chưa đạt hiệu
quả.
5. Trình - Thuyết trình rõ - Giọng thuyết - Giọng thuyết - Giọng thuyết
nội dung kiến
thức cơ bản,
thông tin chính
xác, có chọn lọc.
- Đảm bảo thống
nhất giữa tiêu đề
với nội dung.
- Thể hiện được
nội dung kiến
thức cơ bản,
thông tin chính
xác.
- Đảm bảo thống
nhất giữa tiêu đề
với nội dung.
- Một số thông tin
còn thiếu chính
xác.
- Giữa tiêu đề với
nội dung còn một
số điểm không
thống nhất.
- Không thể hiện
được nội dung
kiến thức cơ
bản, thông tin
thiếu chính xác.
- Giữa tiêu đè và
nọi dung không
thống nhất.
hợp lí, tuy nhiên có
một số trang quá
tải.
- Không có hình
ảnh minh họa,
font chữ, cỡ chữ
và màu chữ hợp
lí.
- Các trang
không hợp lí,
không rõ ràng,
quá tải.
3. Làm
việc
nhóm
- Có bằng chứng
làm việc nhóm
chặt chẽ.
- Các thành viên
phân công và chia
sẻ công việc rõ
ràng.
- Có bằng chứng
làm việc nhóm
khá chặt chẽ.
- Phân công và
chia sẻ công việc
tương đối rõ ràng.
- Có bằng chứng
làm việc nhóm.
ứng dụng.
5. Giới
thiệu ấn
- Thuyết trình rõ
ràng, trình bày
- Giọng thuyết
trình rõ ràng,
- Giọng thuyết
trình hơi khó nghe.
- Giọng thuyết
trình khó nghe,