Đề tài: Phương pháp giải một số bài tập chuỗi phản ứng hóa học cho học sinh lớp 8 - Pdf 22


Phần 1: MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài:
Do trình độ xã hội ngày một nâng cao, chất lượng giáo dục toàn diện của thế hệ trẻ
ngày càng phải đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục
phổ thông ở các nước phát triển trên khu vực và trên thế giới….
Bài tập hóa học đóng vai trò quan trọng trong qua trình dạy và học môn hóa học. Nó giúp
học sinh củng cố những kiến thức kĩ năng đã học và là một trong những nguồn để hình thành
kiến thức kĩ năng mới. Bài rập hóa học là phương tiện hữu hiệu đẻ rèn luyện và phát triển tư
duy học sinh ngoài ra đối với giáo viên bài tập hóa học còn là công cụ hữu hiệu đẻ kiểm tra
kiến thức kĩ năng của học sinh. Trong những bài tập hóa học thì bài tập dạng chuỗi phản ứng
là dạng bài tập mới mẻ với học sinh, nhưng dạng bài tập này giúp học sinh rèn luyện nhiều kĩ
năng mhư: viết đúng công thức hóa học, cân bằng phương trình hóa học,….
Chính vì những lí do trên nên tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Một số bài tập chuỗi phản ứng hóa
học cho học sinh lớp 8 ”
Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.Cơ sở lí luận :
1.1. Cơ sở lí thuyết để giải bài tập bài tập chuỗi phản ứng hóa học lớp 8.
1.1.1. Công thức hóa học.
Công thức hóa học dùng biểu diễn chất, gồm một kí hiệu hóa học (đơn chất) hay hai,
ba…kí hiệu (hợp chất) và chỉ số ở chân mỗi kí hiệu.

-Trang 1-
Mỗi công thức hóa học chỉ một phân tử của chất (trừ đơn chất kim loại…), cho biết nguyên
tố tạo ra chất, số nguyên tử của mỗi nguyên tố và phân tử khối.
1.1.2. Hóa trị.
Hóa trị của nguyên tố (hay mhóm nguyên tử) là con số biểu thị khả năng liên kết của
nguyên tử (hay mhóm nguyên tử), được xác định theo hóa trị của H chọn làm đơn vị và hóa
trị của O là hai đơn vị.

=
a
hay
'a
(nếu
'a
,
'b
là những số nguyên đơn giản hơn
so với a,b).
1.1.3. Phản ứng hóa học.
Phản ứng hóa học là quá trình biến đổi chất này thành chất khác. Trong phản ứng hóa
học chỉ có liên kết giữa các nguyên tử thay đổi làm cho phân tử này biến đổi thành phân tử
khác. Phản ứng xảy ra được khi các chất tham gia tiếp xúc với nhau, có trường hợp cần đun
nóng, có trường hợp cần xúc tác…Nhận biết phản ứng xảy ra dựa vào dấu hiệu có chất mới
tạo thành.
1.1.4. Phương trình hóa học.
Phương trình hóa học biểu diễn ngắn gọn phản ứng hóa học.Các bước lập phương
trình hóa học:
Viết sơ đồ phản ứng, gồm công thức hóa học của các chất phản ứng và sản phẩm.
Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố: tìm hệ số thích hợp đặt trước các công
thức.
Viết phương trình hóa học.
1.1.5. Tính chất hóa học của các chất và cách điều chế.

-Trang 2-
1.1.5.1. Tính chất hóa học của oxi và cách điều chế oxi.
Khí oxi là một đơn chất phi kim rất hoạt động, đặc biệt ở nhiệt độ cao, dễ dàng tham
gia phản ứng hóa học với nhiều phi kim, nhiều kim loại và hợp chất. Traong các hợp chất
hóa học nguyên tố oxi có hóa trị II.

(r)
CH
4
(k) + 2O
2

0
t
→
CO
2
(k) + 2H
2
O (h)
Trong công nghiệp, khí oxi được sản xuất từ không khí và từ nước.Trong phòng thí
nghiệm, khí oxi được điều chế bằng cách đun nóng những hợp chất giàu oxi và dễ bị phân
hủy ở nhiệt độ cao.
2H
2
O
d/p
→
2H
2
+ O
2
2KClO
3

0

này đều tỏa nhiệt.
2H
2
+ O
2
0
t
→
2H
2
O
2H
2
+ CuO
0
t
→
H
2
O + Cu
Trong công nghiệp khí hiđro được điều chế bằng cách điện phân nước hoặc dùng than
khử oxi của nước trong lò khí than hoặc điêu chế khí hiđro từ khí tự nhiên, khí dầu mỏ.
Trong phòng thí nghiệm, khí hiđro được điều chế bằng cách cho axit (HCl hoặc H2SO4
loãng) tác dụng với kim loại kẽm (hoặc sắt, nhôm).

-Trang 3-
2H
2
O
d/p

2
O
5
+ 3H
2
O

2H
3
PO
4
1.2. Cơ sở lí luận về phân loại bài tập hóa học THCS và phương pháp giải bài tập
chuỗi phản ứng hóa học lớp 8.
1.2.1. Cơ sở lí luận về phân loại:
Bài tập hóa học THCS gồm 2 loại chính đó là bài tập định tính và bài tập định lượng.
Trong đó, bài tập định tính là dạng bài tập phổ biến và quan trọng nhất trong chương trình
THCS. Trong phần bài tập định tính lại chia thành 2 loại đó là bài tập lí thuyết và bài tập
thực nghiệm. Bài tập lí thuyết được đưa ra dưới dạng những câu hỏi lí thuyết xoay quanh các
kiến thức cơ bản ở THCS về các khái niệm hóa học, thành phần cấu tạo, tính chất và ứng
dụng của các loại chất vô cơ và một số chất hữu cơ. Bài tập lí thuyết được phân thành các
kiểu sau:
Kiểu bài tập “Viết các phương trình phản ứng, thực hiện các biến hóa ”.
Kiểu bài tập “ Xét các khả năng phản ứng có thể xảy ra”.
Kiểu bài tập “ Nhận biết các chất”.
Kiểu bài tập “ Tách một chất ra khỏi hỗn hợp”.
Kiểu bài tập “ Điều chế các chất”.
Trong đề tài nghiên cứu này tôi chỉ tập trung nghiên cứu về kiểu bài tập “ Viết các phương
trình phản ứng, thực hiện các biến hóa ”.
1.2.2. Cơ sở lí luận về phương pháp giải bài tập chuỗi phản ứng hóa học lớp 8.




2KCl + 3O
2

Thực chất loại bài tập này dùng để rèn luyện kĩ năng cân bằng các phương trình hóa học.
Đối với học sinh THCS, đặc biệt là ở lớp 8 chúng ta khó có thể đưa ra để giới thiệu với học
sinh một cách cân bằng nào đó theo các phương pháp thông thường. Dọ vậy học sinh THCS
thường rất lúng túng và mất nhiều thời gian thậm chí để học thuộc cả hệ số đặt trước công
thức hóa học của các chất trong một phương trình hóa học nào đó.
Sau đây tôi sẽ trình bày một cách viết phương trình đơn giản và có thể dùng để hoàn thành
hầu hết các phương trình hóa học có trong chương trình phổ thông, theo các bước sau:
+Tìm công thức hóa học của chất nào có số nguyên tử lẻ cao nhất và công thức phứa tạp nhất
trong phương trình đó (tạm gọi là hợp chất A).
+Làm chẵn số nguyên của hợp chất A bằng các hệ số 2, 4…(nếu dùng hệ số 2 chưa thỏa mãn
thì thay thế bằng các hệ số chẵn cao hơn).
+Cân bằng tiếp các hệ số còn lại trong phương trình (các đơn chất thực hiện sau cùng).
Thí dụ, trong 4 phương trình nêu trên thì A lần lượt là HgO, HCl, KClO
3
, KMnO
4
với các hệ số đứng đầu đều là 2.
Các thí dụ khác:
Cân bằng: FeS
2
+ O
2


Fe

O

-Trang 5-
Chất A là KMnO
4
vì tuy các chất KMnO
4
, HCl, KCl đều có 2 nguyên tố có số nguyên tử lẻ
nhưng công thức KMnO
4
phức tạp hơn.
Vậy ta cần làm chẵn hệ số của KMnO
4
là 2 > Hệ số của KCl, MnCl
2
và H
2
O > Các hệ
số còn lại.
Cân bằng: HCl + MnO
2


MnCl
2
+ Cl
2
+ H
2
O

+ X > BaSO
4
+ Y
Chất X có thể là một hợp chất tan có gốc sunfat trong phân tử. Còn trường hợp:
Na
2
SO
4
+ X > NaCl + Y
thì X phản là một muối clorua tan và Y phải là một muối sunfat không tan nên cần phải lựa
chọn một kim loại phù hợp sao cho muối clorua của kim loại đó (X) tan được còn muối
sunfat của chính kim loại đó phải không tan, ví dụ Ba: BaCl
2
(X) và BaSO
4
(Y).
Hoặc trong trường hợp CaCO
3
+ X > Ca(NO
3
)
2
+
thì X thỏa mãn duy nhất là HNO
3
vì CaCO
3
không tan.

-Trang 6-


Rượu etylic

Axit axetic
Thực hiện theo các bước sau:
+ Đánh số các mũi tên rồi viết lại thành các phương trình riêng biệt:
Fe FeCl
3
(1)
FeCl
3
Fe(OH)
3
(2)
Fe(OH)
3
Fe
2
O
3
(3)
và:
(C
6
H
10
O
5
)
n

chưa hoàn thành ngay được thì có thể tạm dừng lại làm sang phần khác, nếu có thời gian dẻ
quay lại làm tiếp thì sẽ tìm ngay được chỗ đang làm dở).
+ Phần còn lại chỉ là việc giải quyết theo các dạng bài đã trình bày ở trên.
1.3. Một số bài tập mẫu:
1.3.1. Bài tập 1: Lập phương trình háo học của các sơ đồ phản ứng cho sau đây:
a) Mg + O
2
> MgO
b) KMnO
4
> K
2
MnO
4
+ MnO
2
+ O
2
c) Fe + CuCl
2
> FeCl
2
+ Cu

-Trang 7-
Giải
- Chọn công thức hóa học của hợp chất có số nguyên lẻ cao nhất và công thức phức tạp nhất,
trong các phản ứng trên đó là các công thức: KMnO
4
, MgO

4

0
t
→
K
2
MnO
4
+ MnO
2
+ O
2
c) Fe + CuCl
2


FeCl
2
+ Cu
1.3.2. Bài tập 2: Hoàn thành những phản ứng hóa học sau:
a) Al + H
2
SO
4
>
b) CaO + H
3
PO
4

2AlCl
3
+ 3H
2
b) 3CaO + 2H
3
PO
4


Ca
3
(PO
4
)
2
+ 3H
2
O
c) 2KClO
3

0
t
→
2KCl + 3O
2
1.3.3. Bài tập 3:Viết các phương trình hóa học biểu diễn những biến hóa sau:
a) Cu
→


0
t
→
2CuO (1)
CuO + H
2

0
t
→
Cu + H
2
O (2)
b) 2Na + 2H
2
O

2NaOH + H
2
(1)
4Na + O
2

0
t
→
2Na
2
O (2)

1
Chất – Nguyên tử - Phân
tử
10 2 2 14

-Trang 9-
(3)
2
Phản ứng hóa học
6 1 1 8
3
Mol và tính toán hóa học
8 1 0 9
4
Oxi – Không khí
7 1 1 9
5
Hidro – Nước
8 2 2 12
6
Dung dịch
6 1 1 8
Ôn tập học kì I,
cuối năm
3 3
Kiểm tra
6 6
Tổng
46 8 7 3 6 70
2.2. Cấu trúc và nội dung một bài học trong sách giáo khoa mới môn hóa học 8:

Sau đó, để hình thành khái niệm “ Sự oxi hóa” cũng gợi lại các thí nghiệm về tác
dụng của oxi với các chất lưu huỳnh, sắt… mà học sinh đã từng làm hoặc xem biểu diễn (khi
học bài 25), trên cơ sở đó học sinh tự rút ra kết luận “Sự tác dụng của oxi với một chất là sự
oxi hóa”.
Ở cuối mỗi bài có phần bài tập để học sinh vận dụng và phần “Đọc thêm” hoặc “Em có biết”
nhằm cung cấp thêm một số kiến thức thực tiễn hoặc nâng cao chút ít.
2.3. Đặc điểm của bài tập hóa học trong sách giáo khoa hóa học 8:
Thường sau mỗi bài học có phần bài tập và sau mỗi chương có từ 1-2 bài luyện tập để
cho học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải các bài tạp đó nhằm khắc sâu kiến thức hơn.
Trong chương trình hóa học THCS nói chung và hóa học 8 nói riêng bài tập hóa học chủ yếu
là bài tập định tính, trong đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu tìm hiểu về dạng bài tập “viết
phương trình phản ứng, thực hiện các biến hóa”. Trong sách giáo khoa hóa học 8 không có
bài tập nào về chuỗi phản ứng (“thực hiện các biến hóa”) mà chỉ có các bài tập viết phương
trình phản ứng, ví dụ như: bài 26 (có 2 bài tập), bài 32 (có 1 bài tập), bài 33 (có 1 bài tập),
bài 34 (có 1 bài tập), bài 38 (có 1 bài tập). Như vậy trong sách giáo khoa hóa học 8 chỉ có 6
bài tập “viết phương trình phản ứng”, từ đó cho thấy số lượng bài tập này rất ít.
Chương 2. Thực trạng vấn đề
1. Thực trạng của trường THCS :
2. Thực trạng của môn học hóa học 8:
Hoá học là môn học thực nghiệm kết hợp lí thuyết, thực tế việc giải các bài tập hoá
học đối với học sinh lớp 8 còn gặp rất nhiều khó khăn vì đây là môn học học sinh mới được
tiếp cận. Trong khoảng thời gian thực tập ngắn ngủi, từ ngày 23/02/09 đến 21/03/09 tại
trường THCS Nguyễn Thị Lựu, qua quá trình dạy học tôi thấy một số học sinh còn yếu về
cách làm một số bài toán hoá học, đa số học sinh còn lúng túng trong việc làm bài tập hoá
học và chủ yếu học sinh chưa phân loại được các bài tập và chưa định hướng được phương

-Trang 11-
pháp giải các bài tập gặp phải. Cụ thể nhiều học sinh viết công thức hoá học sai dẫn đến cân
bằng phương trình hoá học cũng sai. Trước tình hình học tập của học sinh lớp 8 hiện nay, tôi
nhận thấy hoá học 8 là môn học cơ sở, học sinh phải nắm vững mới có thể học ở các lớp

0
t
→
Hg + O
2
Fe(OH)
3

0
t
→
Fe
2
O
3
+ H
2
O
b. Hãy chọn hệ số và công thức hóa học thích hợp đặt vào những chỗ trống trong
các phương trình hóa học sau:
Cu + ……

2CuO
…KClO
3

0
t
→
KCl + ….O

3

0
t
→

Bảng 2:
Kết quả
Lớp
Giải đúng 3
phương trình
Giải đúng từ 1-2
phương trình
Giải không đúng
phương trình nào
SL(HS) TL(%) SL(HS) TL(%) SL(HS) TL(%)

-Trang 13-
Ở câu 3 bài tập bài tập này khó hơn hai câu trước và thống kê được kết quả ở bảng 3.
Câu 3: Viết phương trình phản ứng để thực hiện các biến hóa sau:
KMnO
4


O
2


Fe
3

Câu 2: Thầy có cho học sinh lớp 8 làm bài tập dạng chuỗi phản ứng hóa học không ? Vì
sao? Nếu có thì phương pháp dạy loại bài tập này như thế nào?
Đáp: Thầy không cho học sinh lớp 8 làm bài tập dạng chuỗi phản ứng hóa học vì: do đặc
điểm chương trình sách giáo khoa hóa học 8 , ở học kì 1 học sinh chỉ mới được tìm hiểu

-Trang 14-
những khái niệm cơ bản ( chất , nguyên tử, phân tử, công thức hóa học, hóa trị…),ở học kì
2 học sinh mới được tìm hiểu tính chất của một số chất cụ thể như oxi, hiđro, nước và do đặc
điểm tâm sinh lí của học sinh. Chính vì những lí do trên nên thầy chỉ cho học sinh làm quen
với dạng bài tập đơn giản như: cho biết công thức hóa học của các chất tham gia và tạo
thành, viết phương trình phản ứng khi biết các chất tham gia phản ứng.
Câu 3: Thầy có nhận xét gì về bài tập chuỗi phản ứng hóa học trong sách giáo khoa và sách
bài tập hóa học 8 của nhà xuất bản giáo dục hiện nay. Đề xuất của thầy về dạng bài tập này
(nếu có).
Đáp: Sách giáo khoa hóa học 8 không có bài tập chuỗi phản ứng hóa học mà chỉ có dạng bài
tập đơn giản như lập phương trình hóa học khi biết các chất tham gia và tạo thành, viết
phương trình phản ứng khi biết các chất tham gia phản ứng. Còn sách bài tập hóa học 8 thì
chỉ có 5 bài tập nhỏ dạng chuỗi phản ứng như bài tập 36.6, 36.7; 37.6; 37.12; 38.3
Câu 4: Theo thầy dạng bài tập chuỗi phản ứng hóa học 8 phù hợp với những đối tượng học
sinh nào?
Đáp: Như các bài tập đã nêu ở trên thì đây là dạng bài tập rất mới mẻ với học sinh. Theo
thầy dạng bài tập này thích hợp với những học sinh giỏi ở lớp 8 và học sinh lớp 9.
Câu 5: Những ý kiến khác của thầy về dạng bài tập chuỗi phản ứng hóa học 8 (nếu có).
Đáp: Theo thầy bài tập chuỗi phản ứng hóa học 8 là bài tập mới mẻ và khó với học sinh lớp
8 nhưng để các em không bở ngở và biết cách làm dạng bài tập này khi lên lớp 9 thì ở lớp 8
chúng ta có thể giới thiệu một vài chuỗi phản ứng hóa học đơn giản và hướng dẫn các em
cách giải để các em làm quen dần.
Ví dụ: Viết phương trình phản ứng thực hiên các biến hóa sau:
Cu


2 lớp 8, tôi nhận thấy đa số các em làm được bài kiểm tra này, lớp 8 học khá hơn lớp 8 nên tỉ
lệ học sinh giải đúng bài kiểm tra này cao hơn lớp 8. Bên cạnh nhưng em làm được thì có
một số em chưa làm được do các em cân bằng phương trình còn yếu và chưa viết được công
thức hóa học của các chất.
Về phía giáo viên: các thầy cô đều nhận thấy bài tập dạng chuỗi phản ứng giúp học
sinh rèn nhiều kĩ năng, bài tập dạng này thích hợp với những học sinh khá giỏi, còn sách
giáo khoa và sách bài tập hóa 8 thì không có hoặc có rất ít dạng bài tập này và để các em
không bở ngở và biết cách làm dạng bài tập này khi lên lớp 9 thì ở lớp 8 chúng ta có thể giới

-Trang 16-
thiệu một vài chuỗi phản ứng hóa học đơn giản và hướng dẫn các em cách giải để các em
làm quen dần.
Từ kết quả trên tôi có một số biện pháp khắc phục như sau: thường xuyên tra bài cũ
giúp học sinh thuộc lòng tên, kí hiệu hóa học, hóa trị của các nguyên tố, biết viết công thức
hóa học và lập đúng phương trình hóa học. Không để học sinh không học bài, không làm bài
trước khi đến lớp (nếu không có phải bổ sung ngay hôm sao).
Phần 3. KẾT LUẬN
1.Kết luận:
Qua thống kê kết quả thực nghiệm tôi rút ra một số kết luận như sau:
Đối với học sinh: Các em thường xuyên được cũng cố, rèn luyện bằng bài tâp nhưng
đa số các em chưa được làm dạng bài tập chuỗi phản ứng và qua kết quả thực nghiệm cho
thấy khoảng 50% học sinh làm được dạng bài tập này. Tuy nhiên, ở những bài tập cơ bản
vẫn còn một số em chưa làm được do các em chưa nắm vững nhưng kiến thức cơ bản. Chính
vì vậy, nếu được làm nhiều bài tập dạng này các em sẽ rèn luyện được nhưngc kĩ năng cần
thiết như: viết đúng công thức hóa học, cân bằng phương trình hóa học,….
Để học tốt môn hóa học 8 hơn.
Đối với giáo viên: Các thầy cô luôn chú ý giúp học sinh nắm vững những kiến thức
cơ bản trong chương trình hóa học 8 và áp dụng những dạng bài tập thích hợp với từng đối
tượng học sinh để giúp các em học tập tốt bộ môn hóa học 8.
Những vấn đề mà đề tài chưa thực hiện được: do thời gian có hạn nên đề tài chỉ

3
+ H
2
O
d. Hãy chọn hệ số và công thức hóa học thích hợp đặt vào những chỗ trống trong
các phương trình hóa học sau:
Cu + ……

2CuO
…KClO
3

0
t
→
KCl + ….O
2
Câu 2: Viết các phương trình hóa học khi biết các chất tham gia phản ứng:
Zn + HCl


Al + H
2
SO
4



H
2


-Trang 18-
Trường: THCS Lớp : 8…
Họ và tên:
…………………

-Trang 19-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status