tách dòng, biểu hiện gen mã hóa protein p24 của virus hiv-1 phân type crf01_ae lưu hành tại việt nam và ứng dụng protein tái tổ hợp trong chẩn đoán - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
………… o0o…………
TRẦN MINH ĐỨC TÁCH DÕNG, BIỂU HIỆN GEN MÃ HÓA PROTEIN
P24 CỦA VIRUS HIV – 1 CRFO1_AE LƯU HÀNH
TẠI VIỆT NAM VÀ ỨNG DỤNG PROTEIN TÁI TỔ
HỢP TRONG CHẨN ĐOÁN
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Hà Nội – 2010
Luận văn thạc Sỹ - 1 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỞ ĐẦU
Đại dịch HIV/AIDS đang là một vấn đề nan giải và là mối hiểm họa đối với
nhân loại. Kể từ khi ca nhiễm bệnh đầu tiên được phát hiện vào năm 1981 cho đến
nay đại dịch HIV/AIDS đã gây ra cái chết cho hàng triệu người mỗi năm. Theo báo
cáo của tổ chức phòng chống AIDS toàn cầu (UNAIDS) thì tính đến hết năm 2009
trên thế giới có khoảng 33,3 triệu người vẫn đang sống chung với HIV, và riêng
trong năm 2009 có khoảng 1,8 triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến
HIV/AIDS [36].
HIV/AIDS không những là nguyên nhân gây tỉ lệ tử vong cao ở người mà
còn tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia, nhất là các nước
đang phát triển. Với cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật y tế còn nhiều yếu kém thì
việc chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS ở các nước này gặp rất nhiều khó
khăn. Vì vậy, công tác phát hiện và kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh được coi là
Luận văn thạc Sỹ - 3 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Virus gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời (Human immunodeficiency
virus – HIV)
1.1.1. HIV là gì?
HIV (Human Immunodeficiency Virus) - virus gây suy giảm miễn dịch ở
người, là loại virus khi xâm nhập vào cơ thể gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc
phải (AIDS), dẫn đến nguy cơ nhiễm các bệnh cơ hội và làm cho bệnh nhân dễ mắc
phải ưng thư và những tác động do chính HIV gây ra [1].
HIV chủ yếu lây nhiễm các tế bào quan trọng trong hệ thống miễn dịch của
người như là tế bào T trợ giúp (đặc biệt là T CD4+), các đại thực bào và các tế bào
đuôi gai. Lây nhiễm HIV dẫn đến sự giảm số lượng tế bào T CD4+ theo 3 cơ chế

nhau được gọi là đoạn cuối dài tự lặp lại, nhờ vậy mà gắn được một cách ổn định
trong nhiễm sắc thể của tế bào chủ và trở thành một tiền virus (provirus). Tiền virus
này sẽ như một gen của tế bào và truyền sang cho thế hệ khác khi có sự phân bào,
hoặc được phiên mã thành RNA thông tin, tổng hợp protein của virus để hình thành
một virus hoàn chỉnh.
HIV có các đặc trưng của một Lentivirus :
 Phát triển chậm.
 Không biến đổi tế bào nhưng lại làm tiêu huỷ tế bào.
 Cấu trúc kháng nguyên dễ biến đổi [1], [6].
1.1.2.2. Phân loại HIV
HIV là loại virus có tính biến đổi cao và dễ xảy ra đột biến. Điều này có nghĩa
là sẽ có nhiều chủng HIV khác nhau, thậm chí chúng có thể cùng lây nhiễm vào một
cá thể [39].
Dựa vào sự tương đồng về mặt di truyền người ta có thể phân loại các chủng
virus HIV thành các type, các nhóm và phân type. Có 2 type HIV: HIV-1 và HIV-2.
Cả 2 type này đều lây truyền qua đường tình dục, qua máu, từ mẹ sang con và
Luận văn thạc Sỹ - 5 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên chúng đều là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng lâm sàng bệnh AIDS nhưng khó
phân biệt được là do type nào gây ra. HIV-1 thì có mức độ lây lan rộng, còn HIV-2
khó lây nhiễm hơn, thời kì ủ bệnh cũng dài hơn [40].
HIV-1 đã được Luc Montagnier và các cộng sự ở viện Pasteur Paris phát
hiện vào năm 1983 [48]. HIV-1 được chia ra làm 4 nhóm: Nhóm M (major), nhóm
O (outlier), 2 nhóm mới N và P (hình 1.1) [40].

Hình 1.1: Sơ đồ các phân type HIV-1 và HIV-2[40]
 Nhóm O thì chỉ xuất hiện giới hạn ở khu vực Tây-Trung phi.
 Nhóm N - một chủng được phát hiện năm 1998 ở Cameroon thì lại rất

 Lớp Protein nền (Matrix protein): Nằm ngay sau lớp vỏ là lớp protein
nền có khối lượng phân tử 17kDa (p17).
 Lõi capsid: Có dạng hình trụ lệch tâm, được cấu thành bởi các protein
có khối lượng 24kDa (p24). Bên trong là hai sợi RNA đơn, protein lõi
(p7 và p9) và enzyme phiên mã ngược [1].

Hình 1.2: Sơ đồ cấu trúc của virus HIV[50]

Luận văn thạc Sỹ - 7 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1.1.2.4. Cấu trúc hệ gen HIV
Genome của HIV bao gồm hai chuỗi RNA đơn, giống nhau. Mỗi chuỗi có
kích thước khoảng 9200bp, gồm có 9 gen với 2 nhóm chính: nhóm gen cấu trúc
(gag, pol, env) và nhóm gen điều hòa (tat, rev, nef, vif, vpr, vpu) (hình 1.3) [50].
 Nhóm gen cấu trúc
 Gag (group-specific-antigen): mã hoá các kháng nguyên đặc hiệu
nhóm bao gồm các gen mã hóa tổng hợp protein nền, lõi capsid và các
cấu trúc protein lõi (nuclecapsid protein).
 Pol (polymerase): mã hóa tổng hợp protease, enzyme phiên mã
ngược và intergrase.
 Env (envelope): mã hóa tổng hợp kháng nguyên bề mặt gp160 với hai
tiểu phần là gp41 và gp120.
 Nhóm gen điều hòa
 Tat (Trans Activator of Transcription – yếu tố hoạt hóa phiên mã).
Gen tat kích hoạt các gen mã hoá protein cấu trúc, protein điều hòa (kể cả
gen tat). Gen tat mã hóa tổng hợp protein Tat, có 102 amino acid, protein
này chịu trách nhiệm hoạt hóa phiên mã virus thông qua việc tạo ra vị trí gắn
cho RNA pol 2 và các protein khác của tế bào.

HIV có khả năng xâm nhập rất nhiều loại tế bào: tế bào lympho T hỗ trợ (T
H
)
có thụ thể CD4, tế bào đơn nhân, đại thực bào và các tế bào tương tự như: tế bào tua
(ở da và niêm mạc (Langerhans), ở hạch lympho), tế bào thần kinh đệm (microglia)
của hệ thần kinh trung ương. Nhưng xét về sinh bệnh học, tế bào lympho T có CD4
và hệ thống đại thực bào đơn nhân là tế bào đích chính của HIV. CD4 là protein tiếp
nhận, giúp cho HIV gắn với tế bào [1], [17].
Sự xâm nhập và nhân lên của virus HIV có thể chia làm bốn giai đoạn chính:
Gắn kết và xâm nhiễm vào tế bào; phiên mã ngược và cài xen; sao chép và dịch mã;
lắp ráp và trưởng thành (hình 1.4).
Luận văn thạc Sỹ - 9 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Hình 1.4: Sơ đồ minh họa chu trình nhân lên của HIV-1[17]
Gắn kết và xâm nhiễm tế bào
HIV bắt đầu chu trình của mình bằng việc gắn protein vỏ gp120 với thụ thể
CD4 và đồng thụ thể trên bề mặt tế bào. Tương tác của gp120 với thụ thể và đồng
thụ thể gây ra một sự sắp xếp lại cấu trúc không gian của gp41, qua đó tạo ra sự
dung hợp màng virion và màng tế bào. Khi xâm nhiễm thì RNA và một số vật liệu
di truyền của virus được giải phóng vào trong tế bào chủ [18].
Phiên mã ngƣợc và cài xen
Sự phiên mã ngược tạo DNA mạch kép từ RNA genome virus dưới sự hoạt
động của enzyme reverse transcriptase xảy ra sau khi virus xâm nhiễm tế bào. Quá
trình sao chép ngược này có thể bị lỗi và dẫn đến xuất hiện các đột biến. Những đột
biến như vậy có thể gây ra sự kháng thuốc [1].
DNA mạch kép mới được đưa vào nhân tế bào, tại đây xảy ra hiện tượng cài
xen DNA virus vào genome của tế bào dưới sự xúc tác của enzyme integrase để tạo

1.2. Protein P24
1.2.1. Cấu trúc và chức năng của P24
Protein p24 là thành phần chủ yếu cấu tạo nên lõi capsid của HIV-1 và hình
thành cấu trúc vỏ hình nón đặc trưng (hình 1.5), bao quanh phức hợp RNA-
nucleoprotein của hạt virus trưởng thành, đồng thời cũng là vị trí mà cycophilin A
gắn với nhóm protein Gag và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhân lên của
virus [25]. Protein p24 được mã hóa bởi gen Gag của HIV-1, gồm 231 amino acid
và có khối lượng phân tử xấp xỉ 24 kDa [23, 27].
Gen Gag của HIV-1 mã hóa tổng hợp cho một khung đọc mở của protein có
khối lượng phân tử 55kDa (p55). Protein p55 được cấu thành từ 3 protein thành
Luận văn thạc Sỹ - 11 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên phần, protein nền P17, protein P24 và protein nucleocapsid p15. Các protein thành
phần sẽ được giải phóng khi p55 bị thủy phân bởi protease hạt virus [24].
Trong virus HIV-1 trưởng thành, lõi capsid hình nón được cấu thành từ
khoảng 1500 phân tử protein P24. Các phân tử này đóng gói với nhau để tạo nên
cấu trúc mắt lưới 6 cạnh (hexamer) và bao bọc lấy RNA genome virus [30]. Sự
đóng gói genome virus và sự liên kết với các enzyme vào trong lõi capsid là rất cần
thiết trong quá trình xâm nhập các tế bào chủ của virus [31].

Hình 1.5: Cấu trúc lõi capsid[30]
Có khoảng 250 hexamer tham gia lắp ráp tạo nên một cấu trúc protein lõi
capsid hoàn chỉnh. Mỗi hexamer bao gồm 6 domain đầu N-terminal xếp vòng tròn
quanh một lõi trung tâm, bao bọc lấy vòng tròn này là 6 domain đầu C-terminal di
động ở phía ngoài (hình 1.6). Dựa vào cấu trúc tinh thể từng domain riêng rẽ và dựa
vào dữ liệu hiển vi điện tử lắp ráp của hexamer cho thấy, domain đầu C-terminal
tiếp xúc với đầu N-terminal bởi 6 trục và có độ xoay tròn là 60
0


Hình 1.8: Cấu trúc domain đầu C-terminal của p24[32]

+ N-terminal domain: CA (1-145) là thành phần hình thành lên lõi virus và
gắn kết với cyclophilin A [28]. Phân tích cấu trúc dựa trên kỹ thuật MHMRS
(Multidimensional Heteronuclear Magnetic Resonance Spectroscopy) cho thấy đặc
điểm cấu trúc của CA (1-145) không giống với protein vỏ virus, mà nó gồm có 7
chuỗi xoắn α, 2 chuỗi β kẹp tóc (hairpin) và vị trí tiếp xúc loop (hình 1.9) [29].

Hình 1.9: Cấu trúc domain đầu N-terminal của p24[29]
1.2.2. P24 và các ứng dụng trong chẩn đoán
Kháng nguyên p24 là protein cấu thành của lõi virus, bao bọc các chất liệu di
truyền và là một chỉ số phản ánh sự nhân lên của virus. Kháng nguyên p24 tồn tại
Luận văn thạc Sỹ - 14 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên dưới dạng tự do hoặc trong phức hợp kháng nguyên - kháng thể. Phát hiện kháng
nguyên p24 thông thường được sử dụng trong các chẩn đoán [49] :
 Chẩn đoán nhiễm HIV ở trẻ sơ sinh.
 Phát hiện sớm giai đoạn mới nhiễm HIV: P24 là một trong những
kháng nguyên xuất hiện rất sớm trước khi kháng thể kháng HIV được
tạo ra.
 Theo dõi diễn tiến nhiễm HIV: Kháng nguyên p24 xuất hiện rất sớm
ở giai đoạn mới nhiễm. Sau một thời gian, kháng thể kháng p24 mới
được tạo ra. Cùng với sự xuất hiện kháng thể, nồng độ kháng nguyên
p24 tự do trong máu giảm. Ở giai đoạn cuối, cùng với sự giảm kháng
thể kháng p24, sự tái xuất hiện và gia tăng nồng độ p24 tự do là một
tiên lượng chuyển sang AIDS.
 Theo dõi đáp ứng điều trị với thuốc kháng virus.

chức CIDA (Canađa) cũng gọi là "Si đa" nên thống nhất gọi là AIDS để tránh nhầm
lẫn và phù hợp với tên quốc tế.
AIDS là một bệnh mạn tính do HIV gây ra. HIV phá huỷ các tế bào của hệ
miễn dịch, khiến cơ thể bị nhiễm các bệnh nhiễm trùng cơ hội. AIDS được coi là
giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Tuy nhiên, người bị nhiễm AIDS có những
triệu chứng khác nhau, tùy theo loại bệnh nhiễm trùng cơ hội mà người đó mắc
phải, và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch. Bản thân virus và nhiễm trùng được
gọi là HIV. Thuật ngữ AIDS được dùng để chỉ giai đoạn muộn hơn của bệnh. Như
vậy, thuật ngữ nhiễm HIV/AIDS được dùng để chỉ những giai đoạn khác nhau của
cùng một bệnh [2,33].
1.3.2 Lịch sử xuất hiện HIV/AIDS
Năm 1959, chứng bệnh AIDS được phát hiện lần đầu tiên tại Cộng hòa dân
Chủ Congo, nhưng thời điểm đó chưa ai biết bệnh đó là do HIV gây ra [51]. Mãi tới
năm 1981, bệnh AIDS trên lâm sàng mới được phát hiện tại Mỹ. Đó là 5 trường hợp
đồng tính luyến ái nam bị viêm phổi nặng ở Los Angeles, và nhiều trường hợp ung
thư da Kaposi được báo cáo ở New York. Đến cuối 1982, dựa trên những trường
hợp AIDS đầu tiên được thông báo, CDC (trung tâm kiểm soát dịch bệnh của Mỹ –
Centers for Disease Control) đã đưa ra tiêu chuẩn đầu tiên về các triệu chứng lâm
Luận văn thạc Sỹ - 16 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên sàng chẩn đoán bệnh AIDS khi chưa có phương pháp xét nghiệm căn nguyên [14],
[52].
Năm 1983, Barre Sinoussi trong nhóm nghiên cứu của Montagnier (Viện
Pasteur - Paris) đã phát hiện được virus có liên quan đến bệnh hạch nên đặt tên là
LAV (Lymphadenopathy Associated Virus). Năm 1984, Gallo đã phân lập được 1
virus có ái tính với Lympho T của người nên đặt tên là HTLV typ III (Human T-
Lymphotrophic Virus typ III). Cùng năm đó, Levy đã phân lập được 1 virus có liên
quan đến hội chứng suy giảm miễn dịch và đặt tên là ARV (AIDS Related Virus).

họ (hình 1.10) [36]. Hình 1.10: Bản đồ tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới năm 2009[39]
Ở Châu Á có khoảng 4,9 triệu người đang sống chung với HIV, có 360 nghìn
trường hợp nhiễm mới trong năm 2009. Tình hình dịch bệnh ở đây tập trung chủ
yếu nhóm đối tượng nghiện hút, mại dâm, khách mua dâm và những người nam có
quan hệ tình dục đồng giới, đặc biệt là ở các nước đang phát phát triển như là Ấn
độ. Có đến 90% người nhiễm HIV ở Ấn Độ tin rằng họ bị nhiễm HIV do quan hệ
tình dục không an toàn, nhưng sự sử dụng chung bơm kim tiêm nhiễm bệnh là
phương thức lây truyền chính ở các bang Đông Bắc Ấn Độ [36]. Luận văn thạc Sỹ - 18 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1.3.3.2 Tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam
Tại Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào 12/1990,
12/1992 có thêm 11 trường hợp bị nhiễm HIV và đến tháng 06/1999, toàn quốc đã
có 13.623 trường hợp nhiễm HIV, 2.532 bệnh nhân AIDS và 1.320 người đã tử
vong vì AIDS. Theo Bộ Y tế, tính đến 30/11/2010 số trường hợp nhiễm HIV hiện
còn sống là 181.355 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 42.729 và
48.641 trường hợp tử vong do AIDS [12].
Cùng với sự đô thị hóa, phát triển kinh tế xã hội đang diễn ra một cách mạnh
mẽ, sự di dân tự nhiên tập trung vào các thành phố lớn đã gia tăng đột biến dân số ở
các khu vực này, làm cho diễn biến tình hình lây nhiễm HIV/AIDS ở đây càng trở
lên phức tạp và khó kiểm soát. Số lượng người ở nhiễm HIV/AIDS được báo cáo
tính đến hết ngày 31/3/2010, vẫn tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn mà điển
hình là thành phố Hồ Chí Minh với 42.454 trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống,

tiết âm đạo, nước mắt, sữa mẹ và các dịch khác của cơ thể, tuy nhiên chỉ có máu,
tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò chính trong lây truyền HIV [3].
Có 3 phương thức lây truyền đã được xác định [3]:
 Lây truyền qua đường tình dục
 Lây truyền theo đường máu
 Lây truyền từ mẹ sang con.
1.3.4.2 Diễn biến huyết thanh người nhiễm HIV/AIDS
Sau khi HIV xâm nhập vào trong tế bào chủ, huyết thanh người có những
diễn biến thay đổi và được chia làm 3 giai đoạn [5]:
 Giai đoạn nhiễm trùng khởi phát (Primary infection):
Sau nhiễm HIV 1-2 tuần, chưa tìm thấy kháng nguyên (KN) và kháng thể
(KT) kháng HIV trong huyết thanh nhưng từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 sau nhiễm
HIV, thường thấy KN p24 xuất hiện và sự hình thành KT kháng HIV type IgM
(IgM-anti-HIV). Sau đó KN p24 giảm dần đồng thời với sự xuất hiện KT kháng p24
và KT kháng HIV type IgA. Kháng thể IgM và IgA xuất hiện sớm nhưng không qua
được nhau thai nên không truyền sang cho thai nhi.
 Thời kỳ nhiễm trùng tiềm tàng (Latent infection):
Luận văn thạc Sỹ - 20 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Ở giai đoạn này, KT kháng p24 mất dần đồng thời với sự giảm dần của nồng
độ IgM anti-HIV để thay thế bằng sự hình thành IgG anti-HIV. Thời kỳ này có thể
kéo dài từ 3 tháng đến 10 năm thậm chí có thể kéo dài lâu hơn nữa tuỳ thuộc vào
khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể. IgG anti-HIV xuất hiện muộn sau khi
nhiễm HIV 6-8 tuần nhưng lại tồn tại lâu dài, ổn định trong suốt quá trình nhiễm
HIV nên đã được sử dụng để xét nghiệm sàng lọc. IgG anti-HIV trong máu người
mẹ nhiễm HIV có thể qua nhau thai để sang thai nhi và nó có thể tồn tại trong máu
con tới 15-18 tháng vì vậy nên xét nghiệm tìm IgG anti-HIV ở trẻ trước 18 tháng
tuổi luôn dương tính.

thuốc trong điều trị ban đầu ở Hải Phòng, Việt Nam” của nhóm tác giả Nhật Bản và
Việt Nam, được công bố 2/2009 trên tạp chí AIDS RESEARCH AND HUMAN
RETROVIRUSES, đã nghiên cứu về các đột biến liên quan đến tính kháng thuốc và
sự lưu hành các phân type HIV-1 ở Hải Phòng. Trong công trình này, các tác giả đã
khảo sát 1355 mẫu huyết thanh người nhiễm HIV, trong đó 760 mẫu từ những
người nghiện ma túy, 91 mẫu từ gái mại dâm, 94 mẫu từ các thủy thủ, 200 mẫu từ
các phụ nữ có thai, 210 mẫu từ người cho máu. Phân tích cây phân loại di truyền
cho thấy phân type HIV-1 phổ biến nhất là CRF01_AE chiếm tới 98,3%, 1,4 %
thuộc phân type B và 0,3% là chủng tái tổ hợp giữa B và C cũng được phát hiện
[45].
Một nghiên cứu trước đó của nhóm tác giả ở Viện Vệ Sinh Dịch Tễ TW về
“HIV-1 phân type CRF 01_AE trong những người tiêm trích ma túy ở Hà Nội, Việt
Nam”, đã cho thấy đặc điểm lưu hành của các phân type HIV ở đối tượng tiêm trích
ma túy ở Hà Nội. Kết quả phân tích 17 mẫu bệnh phẩm được lấy từ 12 vùng thuộc
Hà Nội thì đa số thuộc phân type CRF 01_AE và chỉ có một mẫu duy nhất là thuộc
CRF 01/C tái tổ hợp [48].
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả ở thành phố Hồ Chí Minh được công bố
vào năm 2003, xác định 200 mẫu bệnh phẩm được thu thập ngẫu nhiên ở một số
tỉnh ở miền Nam và tại thành phố Hồ Chí Minh thì có đến 198 mẫu bệnh phẩm
thuộc phân type CRF 01_AE (99%) và chỉ có 2 mẫu bệnh phẩm thuộc phân type B
(2%) [47].
Luận văn thạc Sỹ - 22 - Trần Minh Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Ngoài các công trình nghiên cứu về HIV đã được công bố còn có rất nhiều
công trình khác thuộc các đề tài, dự án cấp nhà nước do các nhóm nghiên cứu ở các
Viện nghiên cứu và các trường Đại học đã và đang tiến hành.
1.5. Các kỹ thuật phát hiện HIV trong cơ thể
Phát hiện HIV là một việc rất quan trọng trong chẩn đoán, điều tra dịch tễ

1.5.2 Phát hiện kháng nguyên của HIV
KN HIV, đặc biệt KN lõi p24 có trong huyết thanh, huyết tương, dịch não
tuỷ có thể được phát hiện bằng phương pháp ELISA tóm bắt kháng nguyên
(Capture ELISA) hoặc bằng kỹ thuật RIA.
Nguyên lý chung của các kỹ thuật này là dùng KT đa dòng (polyclonal
antibody) kháng HIV cố định trong các giếng nhựa hoặc trên các viên bi
polystyrene tiếp xúc với bệnh phẩm cần thử, sau đó, ủ tiếp phức hợp này với KT
kháng HIV có gắn enzyme hoặc chất phóng xạ. Enzyme sẽ làm biến đổi màu cơ
chất. Khi đo màu cơ chất hoặc đo hoạt tính phóng xạ có thể định tính và định lượng
KN.
Về lý thuyết người ta có thể phát hiện tất cả các KN của virus nhưng trên
thực tế, do tính đặc hiệu và ái lực của các KT chủ yếu hướng tới các protein chính
trong lõi nucleocapsid như p24. Vì vậy, kỹ thuật này thường sử dụng để phát hiện
KN p24. Dấu hiệu mất KN p24 ở những người đã có phản ứng huyết thanh học HIV
dương tính là dấu hiệu nói lên sự khởi đầu của AIDS lâm sàng [11].
Đây là xét nghiệm có độ đặc hiệu cao (98-99%) nhưng độ nhạy chỉ đạt 10-
25% ở trẻ sơ sinh và 50% ở trẻ lớn hơn [16].
1.5.3 Các kỹ thuật sinh học phân tử trong xét nghiệm HIV
Các kỹ thuật sinh học phân tử ngày càng được áp dụng rộng rãi trong công
tác xét nghiệm, theo dõi điều trị và nghiên cứu sinh học di truyền của virus và là
công cụ hữu hiệu trong chẩn đoán sớm nhiễm HIV, theo dõi tiến triển bệnh, chỉ
định và theo dõi hiệu quả điều trị thuốc, nghiên cứu tính kháng thuốc.
+ Các kỹ thuật định tính
- Kỹ thuật PCR
PCR thường ít được sử dụng hơn so với chẩn đoán huyết thanh học và chỉ
được sử dụng trong một số trường hợp nghi là mới nhiễm HIV còn đang trong giai

Trích đoạn Kỹ thuật Real Time PCR PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tối ƣu hĩa điều kiện biểu hiện Tinh sạch protein tái tổ hợp Kiểm tra khả năng phát hiện kháng thể kháng HIV trong huyết thanh bệnh nhân của p24 tái tổ hợp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status