bÁO cáo quan điểm toàn diện với vấn đề xây dựng chính sách xã hội ở khu kinh tế dung quất - Pdf 22

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm toàn diện là một trong những nguyên tắc được rút ra
từ các nguyên lý của phép biện chứng duy vật và đó cũng là một
trong những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy
vật mácxit, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành,
xây dựng và phát triển tư duy biện chứng.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý phát triển là cơ
sở lý luận cho quan điểm toàn diện. Trong đó, mọi sự tồn tại của các
sự vật, hiện tượng điều nằm trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn
nhau, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau, luôn có tính kế thừa và phát
triển. Vì vậy, khi xem xét, đánh giá sự vật phải phản ánh được sự vật
trong tính chỉnh thể của nó. Không được xem xét, đánh giá sự vật một
cách phiến diện, một chiều. Khi nhìn thấy được mặt này, mối liên hệ
này, giai đoạn này, bộ phận này thì phải nhìn thấy được mặt khác, mối
liên hệ khác, giai đoạn khác, bộ phận khác. Tránh cái nhìn cực đoan,
phiến diện, xuyên tạc bản chất của đối tượng. V.I. Lênin đã từng chỉ
rõ: “Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ,
nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng
ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”. Vì vậy, quán triệt quan
điểm toàn diện sẽ giúp cho nhận thức sự vật, hiện tượng một cách
khách quan và đúng đắn. Nó là cơ sở để có được hành động thực tiễn
đạt hiệu quả cao, phản ánh được bản chất của đối tượng.
Theo quan điểm toàn diện thì sự vật, hiện tượng là một chỉnh
thể thống nhất, đó là cơ sở cho nhận thức đúng đắn sự vật. Xây dựng
đường lối phù hợp với hiện thực khách quan. Quan điểm toàn diện
không tách rời quan điểm lịch sử cụ thể, phản ánh được bản chất của
2
đối tượng, làm cơ sở đúng đắn cho quá trình nghiên cứu khoa học,
thúc đẩy sự vật phát triển.

sách xã hội không chỉ đáp đòi hỏi của thực tiễn xây dựng và phát
triển đất nước ta hiện nay mà còn phục vụ công tác nghiên cứu học
thuật. Tuy vậy do điều kiện lịch sử cụ thể nên trong mỗi thời điểm lại
nổi lên những nhân tố chủ đạo chi phối các vấn đề khác của chính
sách xã hội . Chính vì thế các công trình nghiên cứu về chính sách xã
hội có thể phân thành các nhóm chủ đề. Như cơ chế xây dựng chính
sách xã hội, cơ chế tác động của chính sách xã hội, những nhân tố
ảnh hưởng đến sự tác động của chính sách xã hội, nhân tố chủ quan
và khách quan của chính sách xã hội… khi phục vụ nhu cầu học
thuật và tổng kết về công tác xã hội. Trong thời kỳ đổi mới nổi lên
các công trình về chính sách xã hội sau:
- Đinh Xuân lý (2011), Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo thực
hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới (1986-2011), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội .
- Viện khoa học Xã hội Việt nam (2002), Xã hội học và chính
sách xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Lê Sĩ Thắng (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
về chính sách xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Bùi Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Đỗ Nhật Tân
(1996), Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc Gia, Hà Nội.
- Lê Hữu Tầng (2008), Một số vấn đề giữa lý luận và thực tiễn
xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam, Tạp chí
Triết học số 1 (200).
4
- Lương Đình Hải (2009), Tư tưởng dân sinh và những giải
pháp cơ bản để thực hiện trong giai doanh hiện nay, Tạp chí Triết
học số 1(212).
- Trương Vũ Đông (2009), Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc
đẩy xã hội hài hòa, Tạp chí Triết học số 2 (213).

chính sách xã hội” vào năm 2011, trong đó nêu rõ các nội dung cơ
bản của chính sách xã hội, tầm quan trọng đặc biệt của chính sách xã
hội đối với quá trình xây dựng đất nước theo định hướng kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa.
Xét tổng thể những công trình đã được công bố cho đến nay,
không có một công trình nào trùng với hướng nghiên cứu của đề tài,
những công trình nghiên cứu đi trước sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho
tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ chính sách xã hội và
mối quan hệ biện chứng của chính sách xã hội đối với việc phát triển
ở Khu kinh tế Dung Quất từ quan điểm toàn diện.
Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu các văn bản chính sách xã
hội về Khu kinh tế Dung Quất hoặc liên quan đến Dung Quất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là các chính sách xã hội và các đối
tượng được hưởng các chính sách xã hội ở Khu kinh tế Dung Quất
- Quảng Ngãi.
6
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chính sách xã hội ở Khu kinh
tế Dung Quất với những nội dung chính của nó.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển đất nước
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp của phép biện
chứng duy vật. Với đề tài này tác giả đã sử dụng các nguyên tắc phân tích
– tổng hợp; lịch sử - cụ thể; so sánh – đối chiếu. Ngoài ra còn sử dụng các

trong thế giới rất it khi biến đổi, nếu có sự biến đổi thì đó chỉ là sự
biến đổi về số lượng, chất của sự vật là vĩnh viễn và nguyên nhân của
sự biến đổi không phải do bản thân sự vật mà là do nguyên nhân bên
ngoài. Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy
những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu
vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự
vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy
cây mà không thấy rừng”.
Đến thời kì của triết học Cổ điển Đức từ cuối thế kỷ XVIII đầu
thế kỷ XIX, phép biện chứng duy tâm khách quan xuất hiện trong
triết học Kant và hoàn thiện trong triết học Hêghen cũng đã nêu ra
quan điểm về sự tồn tại của các mối liên hệ trong thế giới nhưng là
8
trên sự vận động của vũ trụ, của ý niệm tuyệt đối. Suy cho cùng, các
quan điểm về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới
đã được các nhà triết học trước Mác đưa ra từ thời cổ đại cho đến
triết học Cổ điển Đức, tuy nhiên nó chỉ mang bản chất sơ khai, chưa
được thể hiện với tính chất của một khoa học, thế nhưng đó cũng là
tiền đề cho các nhà triết học Mác kế thừa để xây dựng nên phép biện
chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Phép biện chứng duy vật
được xây dựng trên một hệ thống những nguyên lý, các cặp phạm trù,
các quy luật phổ biến của hiện thực. Trong đó, nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến – cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là một trong
những nguyên lý khái quát nhất.
1.1.1. Quan điểm toàn diện trong phép biện chứng duy vật
Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật là nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến, đồng thời đó cũng là cơ sở lý luận của quan
điểm toàn diện. Quan điểm toàn diện cũng là một trong các
nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật
Mácxít, trang bị cho nhận thức con người về thế giới bằng những

Mối liên hệ cũng có tính đa dạng, phong phú, khi nghiên cứu về
mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, bên cạnh tính khách quan và
phổ biến, còn nhận thấy các mối liên hệ đó rất đa dạng và phong phú,
cũng có khi tùy thuộc vào sự đa dạng, muôn màu sắc của vô số các sự
vật, hiện tượng. Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau, tồn tại trong không
gian và thời gian khác nhau sẽ tương ứng với các kiểu liên hệ khác
nhau. Và theo đó, các liên hệ khác nhau sẽ có vị trí, vai trò, tính chất,
tác dụng khác nhau đối với từng sự vật trong quá trình tương tác.
10
1.1.2. Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm toàn diện trong việc
xây dựng chính sách xã hội
V.I. Lênin đã chỉ ra rằng, muốn thực sự hiểu được sự vật, cần
phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực
tiếp và gián tiếp của sự vật đó. Theo Lênin “chúng ta không thể làm
được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xét
tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự
cứng nhắc”.
Chính sách xã hội – một bộ phận cấu thành chính sách chung
của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết
và quản lý các vấn đề xã hội, chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của
cuộc sống con người. Điều đó cũng có nghĩa xây dựng chính sách xã
hội chính là xây dựng cả nền tảng vật chất lẫn tinh thần cho xã hội.
Chính vì vậy quán triệt quan điểm toàn diện trong việc hoạch định
chính sách xã hội vừa mang ý nghĩa phương pháp luận, vừa mang ý
nghĩa thực tiễn, vận dụng quan điểm toàn diện trong việc xây dựng
chính sách xã hội có ý nghĩa quyết định đến tính đúng đắn, hợp lý mà
mục tiêu của chính sách xã hội đặt ra, đặc biệt là mục tiêu của chính
sách xã hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa luôn hướng đến sự hạn
phúc, bình đẳng cho tất cả mọi người Chính sách xã hội là một bộ
phận cấu thành nên hệ thống chính trị, tồn tại trong việc liên hệ chặt

sử, các mục tiêu xã hội đạt được cao hay thấp điều bị chi phối một
cách quyết định ở trình độ phát triển kinh tế. Chính sách xã hội trong
xã hội chủ nghĩa khác về bản chất so với chính sách xã hội do các
giai cấp bóc lột thống trị, mục đích cao nhất của chủ nghĩa xã hội là
12
vì con người, “đảm bảo phúc lợi đầy đủ và sự phát triển tự do và toàn
diện của tất cả các thành viên trong xã hội”.Thực hiện hóa những
chính sách đó trong đời sống thực tiễn, chính sách xã hội của chủ
nghĩa xã hội thể hiện những nội dung cơ bản sau:
- Giải quyết các vấn đề về việc làm một cách có hiệu quả nhất,
tạo ra công ăn việc làm đầy đủ và hợp lý, đồng thời cải thiện điều
kiện làm việc một cách tốt nhất cho người lao động.
- Không chỉ cải thiện và tạo điều kiện tốt nhất cho lao động,
nâng cao hiệu quả kinh tế, nội dung của chính sách xã hội còn phải
hướng tới nâng cao điều kiện sinh hoạt vật chất và văn hóa cho người
lao động.
- Chính sách xã hội đặt mục đích cao nhất là vì sự phát triển của
con người, tạo mọi điều kiện để con người có thể phát huy khả năng
của mình, xây dựng con người mới phát triển toàn diện, bình đẳng
trước pháp luật và giữa con người với con người.
- Nội dung của chính sách xã hội còn thể hiện sự điều tiết các
quan hệ xã hội giữa các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, góp phần hoàn
thiện cơ cấu xã hội, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong xã hội.
1.2.2. Vị trí, vai trò của chính sách xã hội
Chính sách xã hội có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống
chính sách của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì nó không
những thực hiện mục dích cao nhất của chủ nghĩa xã hội là vì con
người mà còn phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, thúc đẩy sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính sách xã hội còn tác động
đến việc hoàn thiện các quan hệ xã hội, xây dựng cộng đồng xã hội

14
2.1. Thực trạng chính sách xã hội hiện nay ở Khu
kinh tế Dung Quất
2.1.1. Khu kinh tế Dung Quất – Quảng Ngãi
Khu kinh tế Dung Quất là một khu kinh tế lớn, Khu kinh tế tổng
hợp mà trọng tâm là công nghiệp lọc hóa dầu, đã trở thành động lực
chính trong chiến lược phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung, và là khu vực kinh tế lớn thứ 3 của cả nước. Không chỉ đem
lại nguồn ngân sách lớn cho tỉnh Quảng Ngãi mà còn góp phần quan
trọng vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện
đại hóa đất nước, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển ngành
công nghiệp lọc hóa dầu và các ngành công nghiệp nặng khác, đưa
công nghệ lọc hóa dầu của Việt Nam từng bước hòa nhập với công
nghệ hóa dầu trên thế giới.
2.1.2. Thực trạng của việc thực hiện chính sách xã
hội hiện nay ở Khu kinh tế Dung Quất
Trên cơ sở xác định được tầm quan trọng và ý nghĩa mang tính
chiến lược của việc thực hiện các chính sách xã hội, 16 năm qua kể
từ ngày thành lập, bên cạnh việc hoạch định các chính sách phát triển
kinh tế thì ở Khu kinh tế Dung Quất, việc xây dựng các chính sách xã
hội cũng được hết sức chú trọng, thực trạng này có thể được khái
quát trong các khía cạnh sau đây:
- Chính sách đầu tư và thu hút đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng
phục vụ dân sinh đã đạt những kết quả to lớn.
- Hệ thống chính sách cho sự phát triển con người ở Khu kinh tế
Dung Quất ngày càng hoàn thiện
Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn 16
năm qua cũng đã chỉ ra nhiều điểm yếu kém, những khó khăn, thách
15
thức của Khu kinh tế Dung Quất, đòi hỏi cần phải có những giải pháp

điểm lịch sử - cụ thể là những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản,
quan trọng của phép biện chứng duy vật.
Trên cơ sở lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, từ khi thành
lập cho đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam trong tất cả mọi vấn đề đều
xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, coi đó là cơ sở lý luận cho việc đề ra các chính sách để
xây dựng và phát triển đất nước.
Quán triệt quan điểm đó, được sự chỉ đạo sâu sắc của Đảng,
trong quá trình xây dựng và phát triển Khu kinh tế Dung Quất mặc
dù gặp phải những khó khăn nhất định nhưng cho đến nay đã thu về
những kết quả to lớn về kinh tế cũng như các thành tựu xã hội, cần
phải được tiếp tục và hoàn thiện chính sách xã hội để làm động lực
cho phát triển kinh tế.
2.2.2. Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện và phát huy vai trò của
chính sách xã hội ở Khu kinh tế Dung Quất hiện nay
Từ việc khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của chính sách xã
hội đối với quá trình phát triển nói chung của xã hội, có thể đề xuất các
giải pháp để bổ sung và hoàn thiện các chính sách xã hội hiện nay ở
Khu kinh tế Dung Quất như sau:
- Đổi mới nhận thức về vai trò của chính sách xã hội và tiến
hành xã hội hóa trong việc thực hiện chính sách xã hội.
- Chính sách xã hội phải được thực hiện đồng bộ và thống nhất
với các chính sách khác
17
- Xây dựng cơ sở vật chất thiết yếu, khai thác mọi tiềm năng
hiện có phục vụ dân sinh lâu dài để phát triển bền vững
- Hoàn thiện cơ chế và chính sách đãi ngộ để thu hút nhân tài,
xây dựng đời sống kinh tế và đời sống tinh thần tương xứng với nhau
- Thực hiện và xây dựng chính sách xã hội ở Khu kinh tế Dung

luận quan trọng của Triết học Mác – Lênin, giữ vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển tư duy biện
chứng. Quan điểm toàn diện phản ánh tính khách quan của tồn tại và
cũng là đòi hỏi của tính biện chứng khi xem xét các sự vật, hiện
tượng trong quá trình sinh thành và phát triển của chúng,.
Xã hội vận động và phát triển theo những quy luật khách quan
của nó. Xã hội là xã hội của loài người, vì vậy ở đó là sự thống nhất
giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Biểu hiện cao nhất của
sự thống nhất này đó chính là chính sách xã hội. Chính vì vậy, chính
sách xã hội không chỉ là chỉ số phát triển của xã hội hiện hành mà
còn là động lực quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển. Vận dụng
quan điểm toàn diện trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội luôn là
nguyên tắc mang tính chất đúng đắn, khoa học và là một yêu cầu
trước tiên nhất. Khu kinh tế Dung Quất là một khu kinh tế lớn, sau 16
năm xây dựng và phát triển, Khu kinh tế Dung Quất đã trở thành một
trong những cánh chim đầu đàn của kinh tế Việt Nam, điểm tựa vững
chắc cho sự đi lên của Quảng Ngãi. Tuy nhiên, để thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế và phát huy hết mọi tiềm năng của Khu kinh tế Dung
Quất cần phải xây dựng và hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách xã
19
hội ở nơi đây, xây dựng và ổn định đời sống tinh thần làm cơ sở, động
lực để phát triển kinh tế.
Thực trạng của chính sách xã hội hiện nay ở Dung Quất, bên cạnh
những kết quả to lớn đã làm được trong thời gian qua thì những hạn
chế, yếu kém cũng đã bộc lộ khá rõ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
quá trình phát triển của Khu kinh tế nói chung và Quảng Ngãi nói
riêng, làm chậm quá trình đầu tư và các thành tựu xã hội khác. Vì vậy,
việc bổ sung và hoàn thiện các giải pháp để thực hiện chính sách xã
hội có hiệu quả ở Khu kinh tế Dung Quất mang ý nghĩa cấp bách, có
vai trò là động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển bền vững và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status