Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VI THỊ HƢƠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
CHO TRẺ 5 TUỔI Ở CÁC XÃ VÙNG KHÓ KHĂN
CỦA HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TSKH. Nguyễn Văn Hộ
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Cao Bằng, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn Vi Thị Hƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Phạm vi nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu 4
7. Cấu trúc luận văn 5
phát triển kinh tế 37
1.5.2. Tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn với
việc thúc đẩy sự bình đẳng dân tộc và đoàn kết dân tộc 39
1.6. Những thách thức đặt ra cho việc tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi
ở các xã vùng khó khăn 41
Kết luận chương 1 44
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ 5 TUỔI Ở CÁC XÃ VÙNG KHÓ KHĂN
CỦA HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG 45
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục ở các
xã vùng khó khăn của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 45
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 46
2.1.3. Tình hình giáo dục và đào tạo huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng 48
2.1.4. Tổ chức khảo sát 51
2.2. Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó
khăn huyện Nguyên Bình 53
2.2.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tổ chức hoạt động
giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn huyện Nguyên Bình 53
2.2.2. Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng
khó khăn huyện Nguyên Bình 55
2.2.3. Thực trạng các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các
xã vùng khó khăn huyện Nguyên Bình 57
2.2.4. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện tổ chức hoạt động giáo dục
cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn huyện Nguyên Bình 64
2.3. Đánh giá chung về thực trạng 66
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 90
3.2.4. Tăng cường nguồn lực kinh tế và huy động sự ủng hộ của xã hội để
tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng để hoàn thiện mục tiêu phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi 95
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 101
3.4. Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 102
3.4.1. Mục đích khảo sát 102
3.4.2. Nội dung và đối tượng khảo sát 102
3.4.3. Tính cần thiết của các biện pháp 102
3.4.4. Tính khả thi của các biện pháp 103
Kết luận chương 3 106
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107
1. Kết luận 107
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
2. Khuyến nghị 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH
CB
CB QLGD
CBQL
: Chủ nghĩa xã hội
: Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa
: Cơ sở vật chất
: Chương trình giáo dục mầm non
: Chương trình mầm non
: Công tác quản lý
: Điểm trung bình
: Giáo dục
: Giáo dục- Đào Tạo
: Giáo dục mầm non
: Giáo dục thường xuyên
: Giáo viên
: Hành chính nhà nước
: Kinh tế
: Kinh tế - Xã hội
: Mầm non
: Nhân viên
: Quản lý
: Quản lý giáo dục
: Trung tâm giáo dục thường xuyên
: Trung học cơ sở
: Trung học phổ thông
: Ủy ban nhân dân
: Xã hội chủ nghĩa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC BẢNG
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục và Đào tạo. Giáo dục mầm non
có vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện
nhân cách thế hệ trẻ là cơ sở để hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Để mọi trẻ em năm tuổi được đến trường, lớp mầm non là trách nhiệm
của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội. Tại Hội nghị lần
thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã xác định mục tiêu
chiến lược của giáo dục mầm non đến 2020 là: "Xây dựng hoàn chỉnh và phát
triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức
nuôi dạy trẻ trong các gia đình ( 8 - Tr 13). Kết luận Hội nghị lần thứ VI Ban
chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần
thứ X tiếp tục khẳng định: Phải đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo; đẩy
mạnh các giải pháp để thực hiện phổ cập giáo dục THCS, Phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi; Quyết định 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 của
Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5
tuổi giai đoạn 2010-2015 đã chỉ rõ quan điểm " Phổ cập giáo dục cho trẻ năm
tuổi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong giáo dục mầm non, nhằm chuẩn bị tốt
cho trẻ vào lớp 1 đối với tất cả các vùng miền trong cả nước" (48). Quyết định
số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ Tướng Chính phủ về
trẻ 5 tuổi ở các xã vùng thuận lợi và thị trấn. Tuy nhiên bên cạnh đó việc thực
hiện mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng sâu, vùng xa của
huyện còn nhiều hạn chế, nổi bật là việc tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5
tuổi ở các xã vùng khó khăn của huyện Nguyên Bình Chính vì vậy với trách
nhiệm của người quản lý giáo dục tôi lựa chọn đề tài: “ Tổ chức hoạt động
giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn của huyện Nguyên Bình,
tỉnh Cao Bằng” làm đề tài để nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về việc việc tổ chức hoạt động
giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn trên địa bàn huyện Nguyên Bình
đề tài có mục đích đề xuất các biện pháp để thực hiện tốt tổ chức hoạt động
giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn của huyện Nguyên Bình, tỉnh
Cao Bằng nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục vùng khó
khăn của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng
khó khăn của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Qúa trình tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó
khăn của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở
các xã vùng khó khăn.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5
của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành Trung ương;
Nghị quyết Hội đồng nhân dân, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục
và Đào tạo tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo và báo
cáo của Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
6.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra, khảo sát thực tế bằng các phiếu hỏi, thu thập thông tin, xử lý
số liệu nhằm mô tả thực trạng các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ
5 tuổi ở các xã vùng khó khăn của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ, giáo viên, của địa phương nhằm bổ sung
cho kết quả điều tra bằng phiếu hỏi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- Nghiên cứu thực tế, tổng kết kinh nghiệm về tổ chức hoạt động giáo dục
cho trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia nhằm khảo nghiệm tính hiệu quả,
tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
6.2.3. Phương pháp bổ trợ
- Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và xử lý các số liệu
thu thập được để so sánh các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5
tuổi ở các xã vùng khó của huyện.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục;
luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở
các xã vùng khó khăn.
Chƣơng 2: Thực trạng về các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục cho
trẻ 5 tuổi ở các xã vùng khó của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở các
qua GD và tiền lương của GV”.
- GS John Murray, đại học Texas Tech University (Hoa Kỳ), với đề tài
“Sự phát triển đổi mới giáo dục”, đã xác định những bước cụ thể như là chìa
khóa dẫn đến thành công.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Ở nước ta, giáo dục và giáo dục bậc mầm non bao giờ cũng được các
cấp quản lý quan tâm sâu sắc trong đó có vấn đề tổ chức hoạt động giáo
dục cho trẻ 5 tuổi.
- Hội thảo toàn quốc “Giáo dục mầm non - thực trạng và giải pháp”
tháng 04/2005 do Bộ GD-ĐT tổ chức tại Hà Nội đã nêu lên các nguyên nhân
khách quan, chủ quan, những hạn chế, yếu kém trong QLGD, trong đó, có
nguyên nhân về công tác tổ chức hoạt động giáo dục.
- Tác giả Vũ Bá Thể đã đưa ra một số giải pháp phát triển nguồn nhân
lực phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong giai đoạn đến năm
2020. Trong đó có những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển GD phổ thông
“Xây dựng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu về số lượng, ổn định theo vùng, đồng
bộ về cơ cấu”, “Nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đổi mới công tác QL và đào
tạo cán bộ QLGD phổ thông”.
- Tác giả Phạm Minh Hạc trong “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng của
thế kỷ XXI” đã khẳng định: “Giáo dục bậc phổ thông có vai trò quan trọng
trong hình thành nhân cách HS”.
- Với bài viết: “Các giải pháp xây dựng tổ chức giáo dục cho trẻ mầm
non tỉnh Hòa Bình” tác giả Phạm Đình Ly đã đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác tổ chức giáo dục như tăng cường nhận thức cho
GV, CBQL, gia đình về công tác giáo dục cho trẻ, đồng thời tăng cường xã
hội hóa giáo dục.
Trên thực tế và trong lý luận, các tác giả của nhiều nước trên thế giới
1.2.1. Giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập
theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu.
Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể
thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính
giáo dục. Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu
thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học và giáo dục đại học.
John Dewey cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng Ông nói rõ hơn mục
tiêu cuối cùng của việc giáo dục, dạy dỗ. Theo ông, cá nhân con người không
bao giờ vượt qua được qui luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến
thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại
xã hội lại đòi hỏi những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua
được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo
dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Hơn nữa, J. Dewey
cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính
trong quá trình truyền dạy ấy. Vậy, cả hai cách định nghĩa hoặc hiểu như trên
về giáo dục vẫn chú trọng đến khía cạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn.
Từ “giáo dục” trong tiếng Anh là "education". Đây là một từ gốc Latin
ghép bởi hai từ: "Ex" và "Ducere" _ "Ex-Ducere". Có nghĩa là dẫn
("Ducere") con người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những gì
thiện hảo, tốt lành và hạnh phúc hơn. Cách định nghĩa thứ ba có tính nhân bản
cao hơn. Trong định nghĩa thứ ba này, sự hoàn thiện của mỗi cá nhân mới là
mục tiêu sâu xa của giáo dục, người giáo dục (thế hệ trước) có nghĩa vụ phải
dẫn hướng, phải chuyển lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế
- Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển
nhân cách người được giáo dục về mặt đạo đức. Sự ra đời và phát triển của giáo
dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội. Một mặt, giáo dục phục vụ
cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào
nếu như không có những điều kiện cần thiết do giáo dục tạo ra. Mặt khác, sự
phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu
cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã
hội mang lại. Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc
điểm phát triển của xã hội.
Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang
không ngừng cải cách, đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
triển mới mẻ, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những
nguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững.
1.2.2. Học tập
Theo từ điển tiếng Việt thì học tập là “Học tập là quá trình tích luỹ kiến
thức của nhân loại trong nhà trường và ngoài xã hội”. [38, tr.45]
- Học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người
học. Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại. Và để tái tạo lại, người
học không có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân ( động cơ,
ý chí, …) càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo càng diễn ra tốt bấy
nhiêu. Do đó hoạt động học làm thay đổi người học. Ai học thì người đó phát
triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính
bản thân mình. Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa
học. Nghĩa là việc học ừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời
thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính
chọn lựa cao đã được khái quát hoá, hệ thống hoá.
- Phương pháp học: là phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh
khái niệm khoa học phản ánh đối tượng của nhận thức, biến các hiểu biết của
nhân loại thành học vấn của bản thân. Đó là phương pháp mô tả, giải thích và
vận dụng khái niệm khoa học.
- Kiểm tra, đánh giá là việc xem xét hiệu quả và chất lượng dạy học với
mục tiêu đã đề ra dựa trên những tiêu chí xác định. Kiểm tra, đánh giá không
chỉ tập trung vào kiểm tra trí nhớ của người học, mà còn kiểm tra mức độ hiểu,
khả năng vận dụng, kỹ năng thực hành của người học. Trong quá trình đánh
giá, không chỉ giáo viên đánh giá, mà cần tạo điều kiện cho người học và tập
thể người học tham gia vào quá trình đánh giá người học.
Học tốt là sự thống nhất của cả mục đích, nội dung lẫn phương pháp học.
Đó là sự điều khiển tối ưu quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học trên cơ sở
của sự bị điều khiển.
1.2.3. Quản lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc
của C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của
những khí quan độc lập của nó. Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn
dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.
Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã
được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm
đạt được hiệu quả cao hơn. Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức
phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt
được mục tiêu đề ra.
lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo sự vận động, phát triển của hệ thống
phù hợp với qui luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả
nhất các tiềm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ
thể quản lý.
Như vậy, rõ ràng “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ
thuật” và “Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa có tính chất chủ
quan, vừa có tính chất pháp luật nhà nước, vừa có tính chất xã hội rộng rãi
…chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”.
Hiện nay vẫn còn tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về quản lý.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là những
tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật
khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các
cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý.
- Chức năng quản lý: Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động
có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Quản lý có các chức
năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Hiện nay, đa