DẠY học TÍCH hợp LUYỆN từ và câu, tập đọc, CHÍNH tả, TLV - Pdf 22

ĐỀ TÀI:
DẠY TÍCH HỢP LUYỆN TỪ VÀ CÂU, TẬP ĐỌC, CHÍNH TẢ,
TẬP LÀM VĂN
A. PHẦN I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Tiếng việt là một môn học cần thiết cho tất cả các bậc học, không
những chỉ cần thiết cho bậc tiểu học, trung học mà còn là nền tảng, là cơ
sở học tốt các bậc học trên. Ngoài ra, học tốt các phân môn trong tiếng
việt là điều rất cần thiết cho đời sống, sinh hoạt lao động và cho việc học
các môn khác. Hơn thế nữa, hiện nay, chúng ta đang trong xu thế hội
nhập nền kinh tế quốc tế thì “Bồi dưỡng nhân tài” là một trong những
yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học công nghệ
các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì thế mà giáo viên cần
cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong
mỗi học sinh.
Trong thực tế giảng dạy, để đạt được mục tiêu đề ra thật không dễ
dàng. Qua những năm trực tiếp giảng dạy lớp 5, bản thân tôi nhận thấy
các phân môn tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn có mối
quan hệ chặc chẽ với nhau. Thật vậy:
- Phân môn Tập đọc: giúp học sinh từ chỗ đọc đúng, đọc trôi chảy,
diễn cảm đến chỗ hiểu được nghĩa của từ, ý của câu và nội dung của bài.
- Phân môn Chính tả: rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói quen
viết chữ ghi tiếng việt đúng với chuẩn viết đúng chính tả, giúp cho học
sinh có điều kiện để sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học
tập các bộ môn văn hóa, trong việc viết các văn bản, thư từ.
- Phân môn Luyện từ và câu: có vai trò quan trọng đặc biệt trong hệ
thống ngôn ngữ. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn
ngữ như là phương tiện giao tiếp. Luyện từ và câu còn phát triển năng
lực, trí tuệ, ngôn ngữ, những phẩm chất đạo đức ở trẻ em. Nó có vai trò
hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết.

Để thực hiện được đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu có
nội dung giảng dạy các phân môn trong tiếng Việt để sưu tầm.
2
5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp: qua các tài liệu đã thu thập
được tôi phân tích tổng hợp thành từng dạng để rút ra phương pháp dạy
học thích hợp cho học sinh dễ hiểu bài hơn.
5.3 Phương pháp thực nghiệm: giảng dạy để khảo sát rút kinh
nghiệm.

3
B. PHẦN II:
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Nội dung cơ sở tâm lý, ngôn ngữ của học sinh tiểu học
1. Cơ sở tâm lý của học sinh tiểu học:
1.1 Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học
Bằng những dụng cụ trực quan, hình ảnh cụ thể học sinh dễ khắc sâu
nội dung bài học. Còn những bài học chỉ giảng giải bằng những từ ngữ
trừu tượng nghĩa là tài liệu thì học sinh khó tiếp thu hơn mà cũng chóng
quên.
Ví dụ: để giảng giải từ “ quan trành quết đất” trong bài “Hạt gạo làng
ta” của Trần Đăng Khoa thì nên sử dụng tranh .
1.2 Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học
Đây là một quá trình tâm lý mà học sinh dựa vào những hình ảnh đã
biết để tạo ra được hình ảnh mới.
Do yêu cầu của hoạt động học, học sinh muốn tiếp thu tri thức mới thì
phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng. Những học sinh khá, giỏi
hình ảnh tưởng tượng hoàn chỉnh hơn về kết cấu, chi tiết, tính logic. Còn
những học sinh trung bình, yếu vốn kinh nghiệm còn hạn chế vì tưởng

khó làm chủ được cảm xúc của mình. Quá trình hưng phấn của các em
mạnh hơn ức chế. Chính vì thế mà tình cảm của học sinh chưa ổn định
dễ thay đổi nhiều tình cảm mới bắt đầu được hình thành và phát triển.
Ví dụ: Bài bà tôi của Mác-xim Go-rơ-ki không những giúp học sinh
làm văn mà còn tạo được tình cảm của các em đối với ông bà và người
thân trong gia đình.
2. Cơ sở ngôn ngữ học của học sinh tiểu học:
2.1 Ngôn ngữ không phải là hiện tượng mang tính bẩm sinh hay
di truyền. Nó là kết quả của một sự học hỏi, bắt chước do tiếp xúc với xã
hội chung quanh, với những người xung quanh. Điều này có thể chứng
minh qua những cứ liệu trong thực tế như sau:
- Nếu trẻ sơ sinh phải sống tách biệt với xã hội thì mãi mãi chúng
không biết đến ngôn ngữ mặc dầu chúng vẫn có những khả năng bẩm
sinh như biết ăn, biết thở, biết đi…
- Nếu trẻ sơ sinh sống ở một môi trường ngôn ngữ khác cách ly hẳn
với bố mẹ và chủng tộc xuất thân, thì chúng sẽ học nói và nói bằng ngôn
5
ngữ của môi trường xã hội này chứ không phải bằng ngôn ngữ của bố
mẹ chúng, của chủng tộc xuất thân. Chẳng hạn, nếu một đứa trẻ sơ sinh
người Việt Nam, ngay khi mới ra đời, vì lí do nào đó, phải sống cách ly
với bố mẹ, sống và tiếp xúc với toàn những người nói tiếng Anh… thì
sau đó chúng không biết nói tiếng Việt mà chỉ biết nói tiếng Anh.
2.2 Lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào những
điều kiện giao tiếp cụ thể.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Sống trong xã hội, con người luôn luôn có nhu cầu cần phải giao tiếp với
nhau. Giao tiếp chính là hoạt động trao đổi thông tin hay truyền đạt nhận
thức tư tưởng, tình cảm từ người này sang người khác. Nó vừa là khả
năng, vừa là nhu cầu của con người, không ai có thể sống cô độc, tách
biệt hẳn với những người xung quanh.

II. Các nguyên tắc và phương pháp dạy học tiếng việt
1. Các nguyên tắc dạy học tiếng việt:
1.1 Nguyên tắc phát triển lời nói thông qua giao tiếp và thực
hành:
- Giáo viên cần nghiên cứu kĩ về âm, vần trong tiếng để giảng dạy
phân môn chính tả. Tìm hiểu về nghĩa của từ, ý của câu trong đoạn,
trong bài để dạy phân môn tập đọc, luyện từ và câu.
- Giáo viên nghiên cứu kĩ nội dung của bài học để đưa ra những câu
hỏi gợi ý, những tình huống cụ thể để hướng học sinh hình thành các kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết
- Giáo viên cần tổ chức hoạt động nói của học sinh trong dạy học
tiếng Việt nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như là một phương pháp dạy
học chủ đạo.
1.2 Nguyên tắc phát triển tư duy:
- Trong giờ dạy, giáo viên cần gợi ý để học sinh tự phân tích, so sánh,
tổng hợp… để lĩnh hội kiến thức mới.
- Học sinh phải hiểu được nội dung các vấn đề cần nói và viết nhất là
tiết tập làm văn. Giáo viên định hướng giao tiếp, gợi ý cho học sinh quan
sát, tìm ý…và biết thể hiện nội dung này bằng phương tiện ngôn ngữ.
1.3 Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng việt của học sinh:
Song song với quá trình học tiếng việt ở trường là quá trình tích lũy,
học hỏi tiếng việt của học sinh thông qua môi trường gia đình, xã hội, do
7
đó các em đã có một vốn từ và quy tắc ngữ pháp nhất định. Vì vậy giáo
viên cần điều tra nắm vững vốn tiếng việt của học sinh lớp mình chủ
nhiệm để xác định nội dung, kế hoạch, phương pháp dạy học đồng thời
phải tận dụng và phát huy tối đa vốn tiếng việt của học sinh bằng cách
phát huy tính tích cực chủ động của các em. Mặc khác giáo viên cần chú
ý hạn chế và xóa bỏ những mặc tiêu cực về lời nói của học sinh.
2. Các phương pháp dạy học tiếng việt:

tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp.
Trong thực tế giảng dạy, giáo viên cần sử dụng phối hợp các phương
pháp một cách hợp lý, tùy từng nội dung, tùy từng bước lên lớp mà một
phương pháp nào đó nổi lên chủ đạo. Có như thế thì tiết học sẽ sinh
động, học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, kiến thức được khắc sâu hơn.
2.4 Phương pháp rèn học sinh nói và viết:
- Giọng nói sử dụng chất liệu là âm thanh, âm thanh chỉ tồn tại trong
một khoảng thời gian, không gian nhất định vì thế dạy nói được dùng
trong giao tiếp trực tiếp.
- Dạy nói đòi hỏi học sinh phải thực hiện một cách tự nhiên, khi nói
các em biết hướng tới người nghe, chú ý tín hiệu phản hồi từ phía người
nghe để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa. Có thể sữa chữa theo hướng mà
người nghe mong muốn bằng cách điều chỉnh nội dung chẳng hạn trả lời
câu hỏi ở phần tìm hiểu bài tiết tập đọc; làm bài tập ở tiết luyện từ và
câu, chính tả…cũng có thể điều chỉnh cách diễn đạt mà vẫn giữ nguyên
nội dung, phải điều chỉnh âm sắc, giọng nói chẳng hạn phần luyện đọc
diễn cảm tiết tập đọc.
- Dạy nói được sử dụng trong giao tiếp trực tiếp nên cần rèn học sinh
nói với tốc độ vừa phải để các em kịp nghĩ, người nghe kịp theo dõi. Để
tạo sự tự nhiên và hào hứng trong giao tiếp dạy nói, giáo viên cần hướng
dẫn học sinh sử dụng phối hợp với điệu bộ, cử chỉ thích hợp cụ thể qua
tiết tập làm văn “luyện tập thuyết trình tranh luận”. Khi nói giáo viên cần
yêu cầu học sinh không nên nói lặp, có thể sử dụng các câu tỉnh lược; sử
dụng từ, ngữ, câu, cách diễn đạt và thái độ phải phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể.
- Dạy viết sử dụng chất liệu là chữ viết và hệ thống dấu câu thường
được sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp gián tiếp. Vì thế học sinh có điều
kiện sửa chữa, đọc đi, đọc lại văn bản nhiều lần. Dạng viết thể hiện rất rõ
qua tiết tập làm văn; bài văn viết của học sinh cần phải đúng trọng tâm
đề bài, cấu trúc bài chặc chẽ, sử dụng các phép tu từ để bài văn sinh

thế nên khi giảng dạy tôi thường lồng ghép chúng với nhau.
Cụ thể tôi đã làm như sau:
1. Dạy tập đọc:
1.1 Khi giảng hoặc lúc giao tiếp với học sinh, tôi tránh nói tiếng
địa phương, cố gắng sử dụng ngôn ngữ viết thay cho ngôn ngữ nói.
10
Ví dụ: học sinh thường nói: rửa reo, đeo đầu, bà nậu, bà quại, xỏ
kim…
Tôi sửa cho học sinh: rửa rau, đau đầu, bà nội, bà ngoại, xâu kim…
1.2 Khi đọc mẫu bài tập đọc, tôi cho cả lớp dùng bút chì gạch
chéo (/) những chỗ ngắt giọng hoặc ngắt nhịp thơ. Tôi chú ý ngắt câu dài
thành nhiều cụm từ nhỏ để học sinh yếu và trung bình dễ đọc.
Ví dụ: “Ngày nay/ chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã
để lại cho chúng ta,… nước nhà trông mong/ chờ đợi ở các em rất
nhiều…”
(Thư gửi các học sinh – Hồ Chí Minh – SGK TV5T1)
1.3 Khi giảng bài, nhất là phần tìm hiểu bài giáo viên cần tạo
hứng thú cho học sinh. Đây là một khâu quan trọng, là một hiện tượng
tâm lý trong đời sống mỗi người, tạo hứng thú là tạo điều kiện cho học
sinh học tập, lao động được tốt hơn. Để tạo được hứng thú cho học sinh,
giáo viên phải tạo cho học sinh sự thoải mái trong học tập, phải làm cho
các em cảm nhận được vẻ đẹp và khả năng kì diệu của ngôn từ để kích
thích vốn từ sẵn có của từng em.
Ví dụ: Bài “sắc màu em yêu” của Phạm Đình Ân – giáo viên có thể
gợi ý học sinh tìm hiểu những màu sắc trong bài được tác giả gợi ra
những hình ảnh nào? Tại sao bạn nhỏ yêu tất cả các màu sắc đó? Em có
thể liên tưởng những màu sắc đó bằng những hình ảnh nào khác trong
thực tế?
1.4 Trên cơ sở học sinh đã được tiếp thu bài học, giáo viên bồi
dưỡng cảm thụ văn học cho học sinh khá, giỏi. Đây là một quá trình lâu

+ bụi mía: vàng xọng
+ rơm, thóc: vàng giòn
…………
Nói chung khi dạy phân môn tập đọc không những giáo viên củng cố
nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh, mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư
tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh mà cần hướng học sinh biết vận
dụng những hiểu biết của phân môn này vào những phân môn khác một
cách phù hợp, sáng tạo.
2. Dạy chính tả:
2.1 Rèn kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe:
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nghe – viết; nhớ - viết một đoạn
trích từ bài tập đọc hoặc các bài tập chính tả âm, vần là ôn lại qui tắc viết
một số chữ dễ nhầm lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương theo
yêu cầu đã đề ra. Nếu học sinh sai, giáo viên có thể giúp học sinh:
12
+ phân biệt các chữ viết đúng chính tả với các chữ viết sai chính tả
+ học sinh sữa lại những lỗi sai của mình phía dưới bài viết\
+ học sinh có thể ghi vào sổ tay chính tả các lỗi chính tả thường mắc
và cách sữa những lỗi ấy.
Ví dụ: Ở bài chính tả nghe – viết “ Việt Nam thân yêu” của Nguyễn
Đình Thi (trang 6 STV5T1) bài tập 2: tìm tiếng thích hợp với mỗi ô
trống để hoàn chỉnh bài văn sau. Biết rằng:
1 Chứa tiếng bắt đầu bằng ng hoặc ngh
2 Chứa tiếng bắt đầu bằng g hoặc gh
3 Chứa tiếng bắt đầu bằng c hoặc k
Sau khi học sinh hoàn thành bài tập giáo viên gợi ý để học sinh rút ra
quy tắc:
Âm “gờ” viết là gh khi nó đứng trước các âm i, ê, e và viết g khi đứng
trước các âm còn lại.
Âm “ngờ” viết là ngh khi nó đứng trước các âm i, ê, e và viết ng khi

3.1 Nội dung dạy luyện từ và câu ở lớp 5 gồm có:
- Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ
- Nghĩa của từ
- Từ loại
- Câu ghép
- Văn bản
- Ôn tập
3.2 Các biện pháp dạy học:
- Hướng dẫn học sinh làm bài tập
- Hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức mới
3.3 Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy luyện từ và câu
nhằm đạt hiệu quả thiết thực.
- Đối với dạng bài mở rộng và hệ thống hóa vốn từ giáo viên yêu cầu
học sinh trung bình, yếu chỉ cần tìm được một vài từ thông dụng theo gợi
ý SGK còn đối với học sinh khá giỏi có thể tham khảo từ điển để tìm
nhiều từ hơn hoặc giáo viên chủ động dẫn dắt, gợi ý, giải nghĩa từ ngữ
bằng nhiều hình thức khác nhau để bổ sung vốn tiếng việt và giúp các
em dễ thực hiện yêu cầu bài tập; hạn chế tổ chức học sinh tự làm bài
hoặc trao đổi theo nhóm để bớt khó khăn cho học sinh đối với giờ học
luyện từ và câu.
Ví dụ: trong bài “ mở rộng vốn từ Hữu nghị - Hợp tác” ( trang 56
TV5T1) bài tập 2 có yêu cầu: xếp các từ có tiếng “ hợp” cho dưới đây
thành 2 nhóm a và b:
Hợp tình, hợp tác, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp nhất, hợp pháp, hợp
lực, hợp lý, thích hợp.
a/ hợp có nghĩa là “ gộp lại” (thành lớn hơn) M: hợp tác.
14
b/ hợp có nghĩa là “đúng với yêu cầu, đòi hỏi…nào đó”. M: thích
hợp.
Giáo viên có thể hướng dẫn giúp học sinh giải nghĩa từ, giáo viên

Giáo viên viết bảng phụ và đính lên bảng:
a/ Ngày 2/9/1945 Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập.
15
b/ Học sinh trường Tiểu học Điện Biên
c/ Bờ biển Nha Trang rất đẹp
d/ Vui chơi trong sân trường
Yêu cầu học sinh xác định dòng nào là câu? Viết thêm vào những
dòng chưa thành câu và giải thích tại sao?
Ở bài tập này không những giúp học sinh biết được cấu trúc câu, hiểu
ý nghĩa câu mà còn giúp học sinh biết lựa chọn vốn từ đã học để vận
dụng một cách sinh động, sáng tạo vào một văn cảnh cụ thể. Ngoài ra
học sinh còn có thể vận dụng những kiến thức này vào bài làm văn hoặc
sử dụng dấu câu trong tiết chính tả.
4. Dạy tập làm văn:
- Đây là một phân môn mà học sinh phải tổng hợp những gì đã được
tích lũy qua các bài giảng của giáo viên. Chính vì thế, khi dạy phân môn
này, tôi thường giới thiệu với các em những bài đọc có liên quan hoặc tài
liệu hay để các em tham khảo.
Ví dụ:
+ Văn tả cảnh có các bài tham khảo:
. Quang cảnh làng mạc ngày mùa (Tô Hoài) trang 10 TV5T1
. Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà (Quang Huy) trang 69 TV5T1
. Kì diệu rừng xanh (Nguyễn Phan Hách) trang 75 TV5T1
. Trước cổng trời (Nguyễn Đình Ảnh) trang 80 TV5T1
. Đất Cà Mau (Mai Văn Tạo) trang 89 TV5T1
. Mở rộng vốn từ thiên nhiên (Bài bầu trời mùa thu của Xu- khôm-lin
–xki) trang 87 TV5T1
…………
Ngoài những bài học trong chương trình, tôi còn giới thiệu cho học
sinh những bài tập đọc ở chương trình lớp 5 vừa thay sách:

còn tận hưởng giấc ngủ thanh bình buổi sớm mai.
- Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng tìm hiểu, phân tích đề,
quan sát, tìm ý, kĩ năng diễn đạt, viết đoạn và hoàn thiện bài viết.
- Trong phân môn tập làm văn khâu đánh giá chữa lỗi rất quan trọng.
Giáo viên cần chấm, chữa bài cho học sinh thật kĩ để giúp học sinh thấy
được những thiếu sót của mình, tự rút kinh nghiệm sữa chữa, nên tạo
không khí thoải mái, tranh luận khi sửa bài.
Ví dụ: Khi chữa bài giáo viên kẻ sẵn bảng thành 2 phần để ghi những
từ, ý, hình ảnh còn nhầm lẫn, phần còn lại cho học sinh sửa sai theo ý
của mình chẳng hạn:
.Thân hình cô thong
thả
 sửa: thân hình cô
thon thả.
.Mắt cô tròn xoe như 2
viên bi
 sửa: mắt cô ánh
lên những tia sáng ấm
áp,
tươi vui (hoặc đôi mắt
đen lay láy của cô
luôn chứa ẩn một tìm
17
……………
năng kì lạ và sự trìu
mến, vui tươi )
………
Giáo viên để cho học sinh giải thích rõ tại sao sai để rút kinh nghiệm.
chẳng hạn: từ thong thả dùng để chỉ dáng đi. Còn thon thả nói về vóc
dáng; cụm từ tròn xoe như 2 viên bi chỉ dùng để tả đôi mắt em bé.

- Tạo sự giao tiếp cởi mở, thân thiện với học sinh, mẫu mực trong lời
nói, việc làm, có tâm hồn trong sáng lành mạnh là tấm gương sáng để
học sinh noi theo.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải khơi dậy niềm say mê
hứng thú của học sinh đối với môn học tiếng Việt.
- Luôn phối hợp với gia đình, nhà trường để tạo điều kiện tốt nhất cho
các em tham gia học tập.
2. Lợi ích và kết quả vận dụng:
Qua nhiều năm giảng dạy lớp 5 tôi đã rút ra một số kinh nghiệm trên.
Tôi thấy sau khi áp dụng các giải pháp trên, đa số học sinh biết vận dụng
những kiến thức đã học để trả lời đúng yêu cầu câu hỏi; làm bài viết
đúng trọng tâm; tiết học diễn ra trong không khí sinh động, học sinh tiếp
thu kiến thức một cách dễ dàng trong tâm trạng thoải mái. Thông qua bài
học tôi đã bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách
con người Việt Nam.
Trong những năm liền, tôi đã vận dụng phương pháp này vào trong
giảng dạy , có nhiều học sinh tiến bộ rõ rệt. Cụ thể như sau:
. Năm học 2009 – 2010 tổng số học sinh của lớp là 32
Chỉ tiêu đầu năm: giỏi:05; khá: 18; trung bình:09
19
Kết quả cuối năm: giỏi: 28; khá: 04;
. Năm học 2010 – 2011 tổng số học sinh của lớp là 32
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm: giỏi:09; khá: 20; trung bình:02;
yếu: 01.
Kết quả kiểm tra giữa kì I: giỏi: 20; khá: 11; trung bình 1.
Kết quả cuối kì I: giỏi 23; khá 09
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
− Bộ sách Tiếng việt tiểu học – NXB Giáo dục

C. Phần III: phần kết luận
1. Khái quát…………………………………………… 21
2. Lợi ích và kết quả vận dụng…………………………21
Tài liệu tham khảo……………………………………………23
Mục lục……………………………………………………….24
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status