Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐÀO THỊ THANH THU
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
PHÂN MÔN “LUYỆN TỪ VÀ CÂU” LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học : TS. Bùi Minh Đức HÀ NỘI, 2014 LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong
và ngoài trường ĐHSP Hà Nội 2 – những người đã tận tình dạy bảo và động
viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và triển khai đề tài luận văn


Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2014
Học viên Đào Thị Thanh Thu
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài

1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề


23
1.2.1.1 Nội dung chương trình 23
1.2.1.1.1. Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ 23
1.2.1.1.2. Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng và
cấu tạo của từ

24 1.2.1.1.3. Kiến thức về câu, rèn luyện kĩ năng đặt câu và sử dụng
dấu25
1.2.1.2 .Cấu trúc bài học “Luyện từ và câu” trong SGK và định
hướng tổ chức dạy học.

26
1.2.1.2.1. Cấu trúc bài học “Luyện từ và câu” trong SGK 26
1.2.1.2.2. Định hướng tổ chức dạy học LTVC 28
1.2.2. Thực trạng dạy và học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4 34
1.2.2.1. Phương pháp dạy học của GV 34
1.2.2.2. Phương pháp học tập của HS 35
1.2.3.K
h
ảo
s
át t
hự

38
1.2.3.6. Cách th

c khảo
s
át 38
1.2.3.7. Kết q
u
ả k
h
ảo
s
át 38
CHƯƠNG 2
:
BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC
TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN
“LUYỆN TỪ VÀ CÂU” LỚP 4 44
2.1. Các biện pháp tạo nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập cho HS 44
2.1.1. Vai trò của việc tạo nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập của HS

44
2.1.2. Các biện pháp cụ thể 44
2.1.2.1. Tạo sự gần gũi, hứng khởi ban đầu cho các em 44
2.1.2.2. Khích lệ, động viên HS trong quá trình học tập 45
2.2. Phát huy vốn sống, vốn kiến thức về từ và câu của HS 46


qu
yế
t
các vấ
n

đ
ề học tập 54
2.3.2.3.
Sử

dụn
g
phư
ơ
n
g
tiện t
r

c
qu
a
n

t
ro
n
g
d

TÀI LI
ỆU THAM KHẢO
100

1.2. Phát huy TTC học tập của HS là một phương diện cơ bản của lý
luận đổi mới dạy học. Đây là nguyên tắc dạy học xuyên suốt, làm cơ sở cho
việc tổ chức các hoạt động dạy học cũng như huy động phương pháp, biện
pháp dạy học. Mặt khác trong hoạt động dạy học, TTC học tập không chỉ tồn
tại như một trạng thái, một điều kiện mà nó còn là kết quả của hoạt động học
tập, là mục đích của quá trình dạy học. Tính tích cực học tập là một phẩm
chất nhân cách, một thuộc tính của quá trình nhận thức giúp cho quá trình
nhận thức luôn luôn đạt kết quả cao, giúp cho con người có khả năng học tập
không ngừng.
1.3. Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát
triển nhân cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp
sau này. Là những chủ nhân tương lai của đất nước, HS không chỉ cần có vốn
kiến thức cơ bản, kĩ năng phổ thông cần thiết mà còn phải có một ý thức học
tập tích cực. Đây là một thói quen tốt nếu rèn luyện được sẽ rất hữu ích cho
quá trình học tập lâu dài sau này của các em. 2 1.4. Nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học nhằm trang bị cho HS
những kiến thức về hệ thống tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt, rèn cho HS kĩ năng
sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp.
M
ôn Tiếng
V
iệt tập t
r
ung thể hiện ở bốn kỹ
năng

ng cấp cho HS những kiến thức
s
ơ giản về tiếng
V
iệt bằng con đường
qui nạp và
r
èn luyện k

năng dùng từ đặt câu
(
nói – viết
)
, bên cạnh đó còn
cu
n
g cấp những hiểu biết
s
ơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn
hoá, văn học của
V
iệt
N
am và nước ngoài.
N
goài
r
a phân môn LTVC còn
giúp HS bồi dưỡng tình yêu tiếng
V

3 những nguyên nhân ấy chính là do TTC, chủ động, sáng tạo trong học tập của
HS chưa được cao, chưa được khuyến khích, phát huy, nuôi dưỡng.
Xuất phát từ các lý do trên, tôi chọn đề tài : Phát huy tính tích cực học tập
của học sinh trong dạy học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Về tính tích cực, tính tích cực học tập
Tính tích cực trong học tập là vấn đề đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà
tâm lý, giáo dục học. Trong cuốn “Dạy trẻ học”, Robert Fisher đã trình bày
10 chiến lược dạy học. Xuất phát từ quan điểm “những người học thành công
không chỉ giàu kiến thức mà họ còn biết phải học thế nào”; mục đích của tác
giả là làm cho người học có tư duy để học tập có hiệu quả.Tác giả đã trình
bày khung hình cho một chính sách học tập tích cực cho HS. Đó là “1.Tư duy
để học; 2.Đặt câu hỏi; 3.Lập kế hoạch; 4.Thảo luận; 5.Vẽ sơ đồ nhận thức;
6.Tư duy đa hướng; 7.Học tập hợp tác; 8.Kèm cặp; 9.Kiểm điểm; 10.Tạo nên
một cộng đồng học tập”. Tác giả đã nêu lên các cách thức học tập hiệu quả và
một hệ thống bài tập để HS bộc lộ, hình thành, phát triển các cách thức học
tập đó, một thành phần của hoạt động học tập, đó là hành động tích cực lĩnh
hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của
bản thân [31].
Carrol.E.Jzard trong tác phẩm “những cảm xúc của người” đã công bố
công trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người – thành phần không
thể thiếu của TTC của con người, bởi “có thể phán đoán vị trí xã hội trên bậc
thang văn minh theo mức độ phổ biến tính tò mò trong các thành viên của nó,
rằng sự phát triển và sự sụp đổ của các nền văn minh có liên quan ở mức độ
nào đó, đến những bộ óc vĩ đại của những nền văn minh này theo đuổi khát
vọng khái quát lý luận và tìm kiếm cái mới, chứ không phải là suy ngẫm
những thành tựu của quá khứ” [5] . Tác giả đã trình bày ảnh hưởng chi phối


5 Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng “hoạt động bao giờ cũng do chủ
thể tiến hành. Đó chính là con người đang hoạt động. Tính chủ thể bao hàm
trước hết TTC. Đây cũng là đặc tính chung của sự sống và đến con người tính
tích cực phát triển tới đỉnh cao thành tính chủ động, say mê, nhiệt tình. Con
người là chủ thể hoạt động, đồng thời con người càng tích cực hoạt động tính
chủ thể càng phát triển cao và do đó con người sẽ dần dần hoàn thiện”. Như
vậy tác giả đã vạch ra được mối liên hệ chặt chẽ giữa TTC với hoạt động của
con người [44].
Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc khi nghiên cứu thực trạng
thái độ học tập của HS cũng đã nêu ra các chỉ số như chú ý, hăng hái tham gia
vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hoàn thành mọi nhiệm vụ được
giao, đọc thêm và làm các bài tập khác, vận dụng hay chuyển tải những gì đã
học vào thực tế, hình thành và phát triển các quan hệ với thầy, với bạn nhằm
mục đích giúp bản thân học tập tốt hơn. Có thể nói các tác giả đã thành công
trong quá trình nghiên cứu thái độ học tập – một thành phần không thể thiếu của
TTC học tập của HS - bởi khi HS có thái độ học tập đúng đắn thì các em mới
tích cực tìm ra các cách thức tối ưu để lĩnh hội tri thức từ đó mới chuyển thành
tâm lý, ý thức của bản thân một cách có hiệu quả [27].
Nguyễn Ngọc Bảo khi công bố các công trình nghiên cứu của mình về
“khái niệm tính tích cực, tính độc lập nhận thức và mối liên hệ giữa chúng”
cũng đã đề cập tới TTC và TTC nhận thức dưới góc độ Triết học và Tâm lý
học [1], [2] , [3]. Theo tác giả, TTC nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể
đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao của các chức năng tâm
lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức. Nó vừa là mục đích học tập vừa
là phương tiện vừa là điều kiện để đạt mục đích, vừa là kết quả của học tập.
Nó là sản phẩm hoạt động cá nhân.

trên lớp, mỗi tiết học tác giả đưa ra mục đích, yêu cầu, hình thức luyện tập

7 của từng bài tập trong SGV, mức độ cần rèn luyện , cách thức hướng dẫn HS
làm bài tập để giúp HS học tập ở nhà tốt hơn [14].
Ở cuốn Vở Bài tập nâng cao Từ và Câu 4, GS.TS Lê Phương Nga và
TS. Lê Hữu Tỉnh giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức về Từ ngữ, Ngữ
pháp đã học, mặt khác giúp các em hình thành phát triển các kĩ năng sử dụng
tiếng Việt. Các bài tập này vừa có tính chất cơ bản, phù hợp với đa số trình độ
HS lớp 4, lại vừa mang tính chất nâng cao nhằm giúp các em mở rộng sự hiểu
biết về các đơn vị kiến thưc trong từng bài học. Đây là một tài liệu học tập bổ
ích cho các em HS tiểu học [26].
Tuy vậy, chưa có tác giả nào nghiên cứu TTC học tập phân môn LTVC
và phát huy TTC học tập phân môn này của HS lớp 4 một cách sâu sắc, đầy
đủ các thành phần của nó. Đặc biệt việc đi sâu tìm hiểu các thành phần cơ bản
của TTC để từ đó kích thích HS tích cực học tập phân môn LTVC ở lớp 4 cho
một địa bàn cụ thể là huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong đề tài nghiên cứu này, một mặt, chúng tôi tiếp tục kế thừa kết
quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, mặt khác, trên cơ sở đó đề xuất
các biện pháp cụ thể để phát huy TTC học tập của HS trong dạy học phân môn
LTVC lớp 4.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục tiêu nghiên cứu là góp phần làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận về TTC học tập của HS tiểu học, đồng thời đề xuất các biện pháp
phát huy TTC học tập của các em trong phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4.
Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn này ở các trường
Tiểu học, nhất là ở tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

trường tiểu học, trong đó có trường Tiểu học Gia Khánh chưa cao. Nếu áp
dụng thành công các biện pháp dạy học theo quan điểm phát huy TTC trong
học tập của HS thì chẳng những có thể cải thiện chất lượng dạy học phân môn

9 “Luyện từ và câu” lớp 4 mà còn góp phần nâng cao chất lượng học tập môn
Tiếng Việt tiểu học nói chung.
8. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm các phần:
- Mở đầu
- Nội dung
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy TTC học tập
của học sinh trong dạy học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4.
+ Chương 2: Biện pháp phát huy TTC học tập của học sinh trong dạy
học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4.
+ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục

10

chức của nó. HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình
mà còn cho người khác, do đó ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, đúng đắn, dễ
hiểu. Đồng thời, vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động
giao tiếp làm phương tiện để dạy và học Tiếng Việt.
Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, “Ngôn ngữ là hiện
thực trực tiếp của tư tưởng” (C.Mác).Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức
lôgíc, lí tính. Chính trong các đơn vị và dạng thức ngôn ngữ có sự khái quát
hóa, trừu tượng hóa. Tư duy của con người không thể phát triển nếu thiếu
ngôn ngữ. Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề để phát triển
tư duy. Từ đây người ta rút ra những kết luận có tính chất phương pháp: kiến
thức, kĩ xảo ngôn ngữ phải được xem xét như là những yếu tố của phát triển
tư duy, các hệ thống dạy học Tiếng Việt cần bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói
và tư duy. Phải thường xuyên luyện tập cho HS khả năng diễn đạt tư tưởng
của mình bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau.Lời nói cần có nội dung,
đó chính là tư duy.Trong dạy tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ, ví dụ từ
một ý viết thành những câu khác nhau.Phương pháp dạy học không dựa vào
sự phát triển tương hỗ giữa lời nói và tư duy là phương pháp sai lầm về
phương diện triết học của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy.
Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng: Con đường
biện chứng của nhận thức chân lí đi qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và
nhận thức lí tính, đồng thời cũng chỉ ra thực tiễn là cội nguồn, động lực của
nhận thức, cũng là tiêu chuẩn của chân lí, là đỉnh cao và mục đích cuối cùng
của nhận thức. Đây là cơ sở của nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng và cũng
là cơ sở để đề cao nguyên tắc phải tính đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ của HS
trong quá trình dạy học Tiếng Việt.Khi nói về sự cần thiết của việc trẻ em
nắm kiến thức ngôn ngữ một cách có ý thức, chúng ta không quên ý nghĩa của
việc nhận thức các hiện tượng ngôn ngữ một cách cảm tính của chúng. Đứa



13 Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều kết quả của Tâm lí
học. Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Thầy giáo
cần biết, sản phẩm lời nói được sản sinh ra như thế nào, quá trình học được
thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp được hình thành ở trẻ em ra
sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy ra sao, kĩ năng nói, viết
được hình thành như thế nào…? Tâm lí học đưa ra cho phương pháp những
số liệu cụ thể về quá trình nắm lời nói, về việc nắm ngữ pháp.Những nghiên
cứu tâm lí học cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập.
Mặt khác, Tâm lí ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về
lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các
giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả sự tác động của lời nói trong giao tiếp
giữa cá thể với nhiều người.
Xét về mặt Tâm lý học theo quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách -
giao tiếp ta có thể hiểu khái quát về TTC của cá nhân có nội dung tâm lý cơ
bản là:
+ Tính tích cực gắn liền với hoạt động, hay nói khác đi TTC phải thể
hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hành động,
hành vi cụ thể của con người.
+ Tính tích cực để chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với
hoạt động. Yếu tố nhu cầu có mối liên hệ chặt chẽ vớ TTC i– đây chính là
nguồn gốc của TTC.
+ Tính tích cực để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức,
theo chủ ý của chủ thể để đối lập với sự bị động, thụ động.
Từ sự phân tích trên tôi cho rằng TTC của cá nhân gắn liền với trạng
thái hoạt động của chủ thể. Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo,
tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động. Tính tích cực của cá nhân là một

học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức,
nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lí thuyết với

15 thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong
dạy học…
Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này tuỳ
theo những đặc trưng riêng của mình. Ví dụ nguyên tắc gắn liền lí thuyết với
thực hành trong phương pháp dạy học Tiếng Việt đòi hỏi một hoạt động lời
nói thường xuyên, biểu hiện ý nghĩa bằng lời nói, viết, cùng với việc thường
xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết vào giải bài tập. Nhiệm vụ phát triển
lời nói đã quy định việc xây dựng chương trình Tiếng Việt mà tất cả các phân
môn đều có mục đích phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Thực hiện
nguyên tắc trực quan trong giờ tiếng Việt không chỉ là việc chỉ sử dụng sơ đồ,
bảng biểu, dùng chữ viết sẵn, phim ảnh mà còn là “trực quan lời nói”, bao
gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa vào bài khóa trong khi
nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp. Tài liệu trực quan cơ bản
trong giờ học Tiếng Việt là Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt trong những mẫu
tốt nhất của nó: văn học dân gian, tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới.
Phương pháp dạy học Tiếng Việt chọn ở giáo dục học các hình thức tổ
chức dạy học như bài học và các hình thức khác. Các phương pháp dạy học
cơ bản – phương pháp bằng lời, phương pháp bài tập, phương pháp dạy học
nêu vấn đề… đều có mặt trong giờ Tiếng Việt.
Để quá trình dạy học đạt hiệu quả cao nhất, chúng ta phải đảm bảo cho
hoạt động của thầy và hoạt động của trò thống nhất với nhau. Vì vậy, một mặt
phải phát huy đúng mức vai trò tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt
động nhận thức của trò. Chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liên hệ qua lại chặt
chẽ giữa những tác động bên ngoài của GV, biểu lộ trong việc trình bày tài liệu

hoạt động của HS luôn song song tồn tại, nếu thiếu một trong hai thì không
còn gọi là dạy học, không còn gọi là quá trình dạy học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status