tóm tắt luận án truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến nay (qua nghiên cứu trường hợp phật giáo và công giáo) - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với 24 triệu người có đạo, chiếm 27% dân
số cả nước. Dưới thời ký đất nước đổi mới, chính sách, pháp luật tôn giáo có
yêu cầu đối với công tác truyền thông tôn giáo cao hơn và nhiều hơn các thời
kỳ trước, nhằm tạo ra những biến đổi cả về nhận thức và hành vi trong đời sống
tôn giáo, đóng góp cho sự phát triển đất nước. Công tác truyền thông nói chung,
truyền thông tôn giáo nói riêng được Đảng, Nhà nước quan tâm, thể hiện ở
nhiều phương diện, từ việc thành lập các tờ báo viết, báo nói, báo hình, tạp chí
và phát triển phương tiện truyền thông, cho đến đa dạng hóa nội dung truyền
thông tôn giáo. Nhờ vậy, đời sống tôn giáo Việt Nam đã đóng góp không nhỏ
cho sự phát triển đất nước thời kỳ đổi mới.
Công tác truyền thông tôn giáo nói chung và truyền thông về chính sách,
pháp luật tôn giáo nói riêng của hệ thống chính trị đã và đang đặt ra nhiều vấn
đề cần phải được quan tâm giải quyết cả về trước mắt cũng như lâu dài. Nó có
nhu cầu phải được đổi mới cả về nội dung và phương thức, sao cho phù hợp với
sự phát triển của trình độ công nghệ thông tin đương đại và phù hợp với sự biến
đổi mau lẹ của đời sống tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Từ đó, nó đặt ra yêu cầu đối với Đảng và Nhà nước ta là phải nghiên cứu thấu
đáo vấn đề truyền thông tôn giáo, để làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định và
thực thi chính sách tôn giáo, nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và
không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Những vấn đề đặt ra đối với truyền thông tôn giáo của hệ thống chính trị
đã thực sự là những vấn đề cấp bách cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.
Nhận thức nghiêm túc về điều đó, nghiên cứu sinh, vốn là cán bộ nghiên cứu
và giảng dạy của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đã triển khai đề tài:
“Truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến nay (qua nghiên cứu trường hợp
Phật giáo và Công giáo)”, làm luận án tiến sĩ chuyên ngành tôn giáo học.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích của luận án
Làm rõ về truyền thông tôn giáo và thực trạng truyền thông tôn giáo của

Cơ sở lý luận của luận án, đó là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và những thành quả nghiên cứu lý luận đã đạt
được trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu, là sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành tôn giáo học và liên ngành, như xã hội học, sử học, văn hóa học
và chính trị học
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án xây dựng và phân tích khái niệm truyền thông tôn giáo dưới góc
độ của khoa học liên ngành, đó là truyền thông học và tôn giáo học.
- Luận án thông qua việc khảo sát xã hội học tín đồ, chức sắc đạo Công giáo
và Phật giáo để làm sáng tỏ chất lượng và hiệu quả của truyền thông tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta.
- Luận án đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án là một đóng góp đáng kể, khi được sử dụng trong công tác tôn
giáo nói chung và công tác truyền thông tôn giáo nói riêng ở Việt Nam.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và
giảng dạy bộ môn tôn giáo học và truyền thông học về tôn giáo tại các học viện,
các trường đại học khoa học xã hội ở nước ta.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tư liệu, tài liệu về truyền thông tôn giáo
Gồm các tư liệu, tài liệu liên quan gián tiếp và trực tiếp đến đề tài luận án.
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2.1. Những vấn đề lý luận chung về truyền thông
Lý luận cơ bản về truyền thông đã được nhiều công trình nghiên cứu, trở
thành nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu về truyền thông tôn giáo. Bàn về

hướng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
1.3.1. Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Các công trình nghiên cứu đã làm rõ về lý luận truyền thông, nội hàm và
ngoại diên khái niệm này. Đây là cơ sở lý luận để nghiên cứu sinh định nghĩa
và làm rõ khái niệm “truyền thông tôn giáo”.
3
- Vấn đề truyền thông tôn giáo nói chung được Đảng ta chỉ đạo về mục tiêu,
phương hướng hoạt động phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước. Đây là cơ sở
định hướng cho tác giả khi nghiên cứu về truyền thông tôn giáo Việt Nam hiện nay.
- Vấn đề truyền thông Công giáo và Phật giáo có nội dung lý luận và thực
tiễn quan trọng. Đây là tư liệu quý để nghiên cứu sinh làm đậm nét thêm về
truyền thông tôn giáo ở nước ta hiện nay.
- Vấn đề thực trạng truyền thông tôn giáo ở Việt Nam được đồng bào Công
giáo và Phật giáo nhận thức, đánh giá, là tư liệu thực tế có nhiều giá trị để tác
giả luận án khai thác và khái quát lý luận.
1.3.2. Về những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo cần phải tiếp
tục nghiên cứu
- Các công trình còn chưa đưa ra được những nhận thức lý luận mới - khác
nhau về truyền thông tôn giáo. Đó là chưa nói, trên lập trường duy tâm, các tôn
giáo đã có những phân tích về truyền thông tôn giáo chưa phù hợp với thực tại
khách quan.
- Về thực trạng truyền thông tôn giáo ở Việt Nam, các công trình mới chỉ
nêu ra một số số liệu về tình hình, dưới dạng rất chung, hoặc dừng lại là những
thông tin của chính tôn giáo của mình. .
- Các công trình của Phật giáo và Công giáo, chưa đề cập tới vấn đề cơ cấu
nội dung thông tin truyền thông của tôn giáo mình đối với lĩnh vực chính sách,
pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
- Các công trình còn thiếu vắng việc đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm phát
triển truyền thông tôn giáo Việt Nam.
1.3.1.3. Định hướng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án

Xuất phát từ quan điểm Mác Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh về tôn giáo và
bám sát thực tiễn đời sống tôn giáo của Việt Nam và thế giới, từ tôn trọng và
đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Đảng và Nhà nước đã
cụ thể bằng việc ban hành quan điểm, chính sách, pháp luật đối với tôn giáo và
khẳng định đồng bào các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc. Chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo có mục tiêu tăng
cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì thế, việc làm tiên
quyết của Đảng và Nhà nước các cấp là phải thông qua mọi kênh truyền thông
để phổ biến rộng rãi chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đến nhân dân
cả nước và bạn bè quốc tế.
2.2. Truyền thông tôn giáo – khái niệm, kết cấu và chức năng
2.2.1. Khái niệm truyền thông tôn giáo
2.2.1.1. Khái niệm truyền thông
Trong từ điển Hán Việt, truyền là “chuyển đi, trao cho’’; thông có nghĩa “ đi
suốt qua, hai bên hiểu nhau’’. Trong tiếng Anh, truyền thông (communication)
cũng gần với ý nghĩa trên, là “quá trình truyền đạt thông tin từ một chủ thể phát
tin đến các đối tượng khác. Đó là sự tác động hoặc trao đổi ý tưởng, quan điểm,
thông tin bằng lời nói, chữ viết, ký hiệu ”.
Theo TS. Phạm Minh Sơn và PGS.TS. Nguyễn Thị Quế, truyền thông là:
quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã
hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ,
điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực hóa đời sống thực tiễn.
Còn Truyền thông đại chúng, đó là hệ thống các phương tiện truyền thông
hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả
nước, khu vực hay toàn bộ thế giới) nhằm thông tin, chia sẻ, nhằm lôi kéo và
tập hợp, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết
các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra

và thực tiễn của chủ thể được sâu sắc hơn, có hiệu quả cao hơn, khi phải giành
quan tâm đặc biệt tới truyền thông từ góc độ cái toàn thể hay cái bộ phận.
Trong định nghĩa này, chúng tôi cũng chú ý nhiều đến tính tự giác của cả
chủ thể và đối tượng. Bởi vì, lĩnh vực tôn giáo là một lĩnh vực nhạy cảm và khó
nhận thức, nắm bắt, do liên quan tới nhiều ngành học, như triết học, xã hội học,
tâm lý học, sử học và chính trị học; còn trong đời sống, nó liên quan tới mọi
lĩnh vực, từ kinh tế, văn hóa, xã hội cho đến chính trị.
2.2.2. Cấu trúc của truyền thông tôn giáo
Cấu trúc của truyền thông tôn giáo có thể được xem xét từ một số góc độ
khác nhau. Ở đây, bàn đến cấu trúc của nó từ góc độ là một quá trình hoạt động,
nhờ sự tương tác qua lại lẫn nhau của các yếu tố bộ phận là:
- Chủ thể truyền thông tôn giáo: đó là những cá nhân và tổ chức, xây dựng,
phụ trách nguồn phát, không chỉ là người “có và của tôn giáo”, mà còn là người
“ngoài tôn giáo”. Hệ thống truyền thông của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và
của các đoàn thể thuộc hệ thống chính trị Việt Nam là chủ thể truyền thông tôn
giáo, khi đã tổ chức mọi quá trình truyền thông tin, thông điệp về các nội dung
tôn giáo nói chung và các tôn giáo cụ thể nói riêng; cũng như về quan điểm,
chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
6
- Phương tiện truyền thông tôn giáo: đó là một hệ thống các phương tiện từ
thô sơ đến hiện đại. Mỗi loại hình phương tiện truyền thông ra đời đều phản ánh
trình độ phát triển của thời đại và đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi về giao tiếp xã
hội trong thời kỳ lịch sử đó. Khoa học kỹ thuật càng phát triển càng tạo ra
những phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn, có sức mạnh hơn cho hoạt động
truyền thông đại chúng, trở thành lợi thế của truyền thông tôn giáo đương đại,
làm cho chủ thể đã thay đổi căn bản phương thức hoạt động.
- Đối tượng truyền thông tôn giáo: là mục tiêu tác động tới của chủ thể
truyền thông. Nếu chủ thể là giáo sĩ, chức sắc tôn giáo thì đối tượng chủ yếu là
tín đồ của tôn giáo. Chủ thể truyền thông nếu là con người, tổ chức Đảng Nhà
nước thì đối tượng chủ yếu là chức sắc, tín đồ các tôn giáo. Đối tượng truyền

CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA QUA KHẢO SÁT THỰC TẾ
PHẬT GIÁO VÀ CÔNG GIÁO
3.1. Những kết quả đạt được trong công tác truyền thông tôn giáo từ
phương diện chủ thể là cơ quan truyền thông của Đảng và Nhà nước
3.1.1. Truyền thông tôn giáo đã góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ
và chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt quan điểm, chính sách, pháp
luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Thông qua các cơ quan truyền thông, các địa phương, đã chuyển tải quan
điểm, chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước, thể hiện trong các
văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Nghị quyết 25 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa IX); Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định 22/2005/NĐ-
CP, Nghị định 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ và Chỉ thị 01/2005/CT-TTg của
Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành
Trên các phương tiện truyền thông, nhất là các tạp chí, đã có không ít những
bài viết chuyên sâu về các vấn đề tôn giáo, trong đó đề cập sâu sắc đến chính
sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam. Đây là những bài viết có tính lý luận sắc
bén cả về chính trị và thực tiễn.
Những nơi đồng bào tôn giáo sinh sống tập trung thường là vùng chiến lược
của đất nước, kẻ thù luôn tìm mọi cách tuyên truyền, lôi kéo quần chúng gây
mất ổn định chính trị, xã hội. Vì vậy, nhiều báo -đài thường xuyên có bài về các
địa bàn trọng điểm, làm cho tín đồ, chức sắc các tôn giáo có hiểu biết đúng đắn
và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; hoạt động tôn
giáo phù hợp pháp luật, gắn bó với dân tộc.
Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh, Đài Truyền
hình Huế và các đài Phát thanh-Truyền hình: Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ
An…luôn quan tâm đến việc tuyên truyền các quan điểm của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về tôn giáo đến với hơn 20 triệu đồng bào có đạo.
Trong chương trình VTV2 và một số chuyên đề của chương trình VTV1 và
nhiều kênh truyền hình khác, đã dành một thời lượng nhất định chuyển tải
thông tin về đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Một số chương trình thời sự, trong

sóng cho mọi người học tập. Các đài đã đầu tư xây dựng Chương trình truyền
hình: “Nhịp cầu Nhân ái”, “Lục lạc vàng”,nội dung được đề cập nhiều nhất là:
Kính Chúa yêu Nước; Dân số và phát triển; Đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa khu dân cư có đạo, về Phật giáo Nam tông Khmer
Qua tuyên truyền của các báo chí, đài phát thanh-truyền hình, đã giúp chức
sắc, chức việc và đồng bào tôn giáo hiểu đầy đủ hơn về chính sách tự do tín
ngưỡng, tôn giáo. Từ nhận thức đó, giúp tín đồ yên tâm giữ đạo và sống đạo,
phấn khởi cùng với các tầng lớp nhân dân xây dựng và phát triển quê hương,
đất nước. Thông qua việc tuyên truyền trên báo điện tử làm cho cán bộ làm
công tác tôn giáo hiểu, gần gũi hơn tín đồ, chức sắc tôn giáo.
Thông qua các bài, tin trên báo chí còn giúp cho cán bộ, công chức làm công
tác tôn giáo nâng cao kỹ năng giải quyết các vụ việc tôn giáo phức tạp, nâng
cao trình độ vận động quần chúng là đồng bào có đạo. Đồng thời, giúp họ có
thêm kinh nghiệm trong phối kết hợp với các cơ quan chức năng trong công tác
tham mưu, xử lý những vấn đề phức tạp.
3.1.3. Truyền thông tôn giáo tích cực cổ vũ đồng bào các tôn giáo đóng
góp sức người sức của xây dựng quê hương đất nước, xây dựng đời sống văn
hóa ở khu dân cư, làm tốt công tác từ thiện - xã hội
Trong số các báo, tạp chí, đài phát thanh- truyền hình ở cả trung ương và địa
phương hiện nay, nhiều báo, đài đã chủ định tập trung tin, bài để cổ vũ các
phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các tôn giáo. Trong đó, biểu dương
nhiều tấm gương điển hình trong đồng bào tôn giáo trên các lĩnh vực: kinh tế,
xã hội, y tế, giáo dục, động viên chức sắc, tín đồ sống “Tốt đời, đẹp đạo”, xây
dựng gia đình văn hóa, làng, thôn, ấp, bản văn hóa và các phong trào thi đua
như “Người giáo dân tiêu biểu”, “Xây dựng chùa cảnh tiên tiến”. “Giáo xứ tiên
9
tiến, gia đình Công giáo gương mẫu, người giáo dân tiêu biểu, ông bà mẫu mực,
con cháu thảo hiền ” Biểu dương việc xây dựng và thực hiện tốt các quy
ước, hương ước, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, trong
lễ hội, phòng chống các tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy,

tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia - những vấn đề lý luân và thực tiễn” tại
Thái Bình ngày 13-9-2011 và TP. Hồ Chí Minh ngày 21-10-2011. Từ những
cuộc Hội thảo này, Tạp chí Công an Nhân dân có thêm ngân hàng bài để tuyên
truyền đăng tải trên các số tạp chí.
Tất cả những điều đó đã tạo niềm tin của các chức sắc, tín đồ đối với đường
lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo.
3.2. Hiệu quả truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước từ phương
diện đối tượng là tín đồ, chức sắc Phật giáo, Công giáo ở Hà Nội và TP. Hồ
Chí Minh
3.2.1. Thông tin về triển khai khảo sát
10
Triển khai luận án, nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo sát bằng phương pháp
xã hội học đối với tín đồ, chức sắc Phật giáo và Công giáo ở TP. Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh, với 826 phiếu. Trong đó, nam 378 và nữ 448 người; Hà Nội 343
người, chiếm 41,5%, TP. Hồ Chí Minh 413 người, chiếm 50% và nơi khác 70
người, chiếm 8,5 %. Phật giáo 330 người chiếm 40%, Công giáo 287 người
chiếm 34,7% và không tôn giáo 207 người chiếm 25,1%.
3.2.2. Thông tin về người Việt với truyền thông tôn giáo
3.2.2.1. Về phương tiện truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Cuộc sống nơi thành phố văn minh hiện đại, phương tiện truyền hình chiếm
một số lớn nhưng các gia đình vẫn sử dụng hệ thống đài phát thanh (radio) với số
lượng lớn: 96%; tiếp sau là đầu đĩa: 90%, điện thoại: 82%, tivi: 79%, vi tính: 80%.
Như vậy, để truyền thông tôn giáo có hiệu quả thì phải dựa chính trên các
phương tiện này.
3.2.2.2. Người Việt sử dụng Internet trong truyền thông tôn giáo
Truyền thông qua Internet là truyền thông mở; bởi ở đó con người bộc lộ hết
tâm can của mình, thoải mái trình bày quan điểm mà không sợ bị kiểm duyệt
như những hình thái in ấn truyền thống. Các tôn giáo cũng nắm được thế mạnh
này và đã ra đời hàng loạt các trang mạng và các trang Website của các giáo hội
góp phần lớn vào truyền thông, chuyển tải một lượng thông tin khổng lồ giúp

có tới 64% công chúng tiếp nhận thông tin qua họ; tiếp sau là chức sắc tôn giáo
giảng: 33%; hoạt động cộng đồng: 9%; các tổ chức không chính thống, bạn bè,
người thân, đồng nghiệp vận đông: đều chỉ 1%.
Về tiếp cận báo in, tỷ lệ thường xuyên đọc chiếm 47%; hiếm khi hoặc không
đọc: 43%; thỉnh thoảng đọc: 10% và không đoc: 4%. Vậy, truyền thông tôn
giáo qua kênh báo in có thể chưa hiệu quả, vậy muốn hiệu quả hơn, thì cần có
khảo sát sâu nhằm tìm hiểu và khắc phục lý do công chúng chưa tiếp cận thông
tin nhiều trên kênh này.
Về thời điểm tiếp cận với báo in, khoảng 9h – 11h có tỷ lệ tiếp cận cao nhất:
28% - 30%; buổi tối 19h – 21h công chúng đọc báo nhiều: 21% - 15%; thấp
hơn là 5- 7h, 15 – 17h: đều 10%; thấp nhất là từ 23h – 4h59: 2%.
Khi đọc báo, thông tin về chủ trương, chính sách và kiến thức về tôn giáo
được công chúng quan tâm với tỷ lệ cao nhất: 36% và 31%; sau đến sự kiện
thời sự tôn giáo trong ngoài nước: 22%.
3.2.3. Thông tin tôn giáo với người Công giáo
Sự kiện tôn giáo trong và ngoài nước được mọi người quan tâm nhất: 40%;
chủ trương, chính sách tôn giáo: 30%; kiến thức vê tôn giáo: 25 %; hoạt động
tôn giáo bất hợp pháp được quan tâm chỉ 4%.
Ở kênh báo in, khi tiếp cận thông tin về tôn giáo, người Công giáo yêu thích
hai thể loại thông điệp, là tin tức/hình ảnh: 49% và gương người tốt việc tốt:
46%. Còn phỏng vấn, phóng sự, tổng hợp, tỷ lệ yêu thích là 34 – 25 và 32%.
Còn xã luận, điều tra, phóng sự ảnh ít thu hút công chúng: 12 – 15%.
Công chúng tiếp cận kênh báo in, tỷ lệ đánh giá về sự đáp ứng nhu cầu
thông tin là: Phù hợp: 38%, hấp dẫn: 36%,tin tức trung thực: 33%, tin dễ hiểu
15%, ngôn ngữ dễ hiểu: 8%, phản ánh ý kiến của tôi: 9%.
Tiếp cận thông tin tôn giáo qua truyền hình,thì chủ trương, chính sách về
tôn giáo và kiến thức về tôn giáo được công chúng quan tâm nhất: 36% và 31%;
rồi đến sự kiện tôn giáo trong – ngoài nước: 22%; sinh hoạt tôn giáo của dân và
giáo hội: 16% và thấp nhất, hoạt động tôn giáo bất hợp pháp: 7%.
Công chúng xem truyền hình, các thể loại/hình thức thông điệp về Công

khi đó, tính sơ sài, sai, thiếu thực tế của thông tin lại còn cao hơn thế.
3.2.5.2. Đánh giá về đáp ứng nhu cầu thông tin của người Công giáo
Sự kiện tôn giáo trong và ngoài nước: 22,9%; Chủ trương, chính sách về tôn
giáo: 29,7%; Kiến thức chung về tôn giáo: 36%; Sinh hoạt tôn giáo của nhân
dân và giáo hội: 45,1%; Tin bài về hoạt động tôn giáo trái phép: 34,4%.
Vậy, chủ thể truyền thông cần điều chỉnh cả về chất lượng và số lượng
thông tin truyền thông tôn giáo trong cơ cấu này, để người dân có điều kiện
nắm vững chính sách, pháp luật tôn giáo.
3.2.5.3. Đánh giá về việc đáp ứng nhu cầu thông tin về Công giáo trên báo
và tạp chí ở địa phương
Trong đó, về: (1) Chủ trương, chính sách tôn giáo: thông tin tốt, đáp ứng kịp
thời: 31,2%; thông tin tốt nhưng chưa nhanh: 40,8%; thông tin nhanh nhưng sơ
sài thiếu thực tế: 24,4% và thông tin sai, thiếu thực tế: 3,6%; (2) về Hoạt động
tôn giáo trái pháp luật: thông tin tốt, đáp ứng kịp thời: 8%; thông tin tốt nhưng
chưa nhanh: 38,7%; thông tin nhanh nhưng sơ sài thiếu thực tế: 37,8% và thông
tin sai, thiếu thực tế: 15,5%.
Vậy, thông tin về chính sách tôn giáo cũng chưa đáp ứng cao, đặc biệt quan
ngại ở tính sơ sài, sai, thiếu thực tế còn nhiều; thông tin hoạt động tôn giáo trái
pháp luật có độ sơ sài, sai, thiếu thực tế còn cao hơn thế: 37,8% và 15,5%. Tình
trạng này đòi hỏi phải chấn chỉnh kịp thời, bởi lẽ sẽ là nguy hại cho Đảng lãnh
đạo xã hội, khi tôn giáo là lĩnh vực rất nhạy cảm, phức tạp và rất dễ bị các thế
lực xấu lợi dụng. Tuy nhiên, nắm vững vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo đòi
hỏi kiến thức phải sâu và đa ngành, nên người làm công tác truyền thông tôn
13
giáo khó có thể một sớm, một chiều thâu thái được và đây là một mâu thuẫn
phải được giải quyết với cả tính cấp bách và lâu dài.
3.2.5.4. Đánh giá về thể loại thông điệp được yêu thích trên báo và tạp chí ở
địa phương
Các thể loại thông điệp được công chúng yêu thích nhất, là tin tức, hình ảnh:
54%, phóng sự: 39 và tổng hợp: 34. Các thể loại như gương người tốt việc tốt,

ngoài nước: 18%; các hoạt động tôn giáo không hợp pháp: 19%.
Như vậy, vấn đề chủ trương, đường lối, chính sách về tôn giáo rất cần phải
ưu tiên tuyên truyền. Còn về các hoạt động tôn giáo bất hợp pháp, không nên từ
tỷ lệ trên mà giảm đi, ngược lại phải tăng hơn, coi trọng nhiều hơn nội dung,
hình thức tin. Thậm chí, con người cụ thể đưa tin và bình luận cũng phải được
chú trọng, tránh tình trạng để chức sắc, tín đồ tôn giáo phản ứng găy gắt với
một vài phóng viên, từ đó đòi ra báo chí tư nhân, như vừa qua.
14
- Thông tin mà công chúng Công giáo quan tâm: Nhiều nhất là chủ trương,
đường lối, chính sách tôn giáo: 36%; kiến thức về tôn giáo: 31%. Các thông tin
khác không thu hút bằng, như các sự kiên tôn giáo trong và ngoài nước: 22%;
các hoạt động tôn giáo không hợp pháp: 7%; vấn đề sinh hoạt tôn giáo của dân
và hoạt động hội của giáo hội: 16%.
- Thông tin mà công chúng Phật giáo quan tâm: Nhiều nhất là sự kiên tôn
giáo trong và ngoài nước: 44,8%; thấp hơn là chủ trương, đường lối, chính sách
tôn giáo: 27%. Các thông tin khác không thu hút bằng: kiến thức về tôn giáo:
17%các; các hoạt động tôn giáo không hợp pháp: 12%; vấn đề sinh hoạt tôn
giáo của dân và hoạt động hội của giáo hội: 16%.
Như vậy, đối tượng truyền thông là người các tôn giáo khác nhau cũng có
nhu cầu thông tin tôn giáo khác nhau. Vậy cần phải chú trọng đáp ứng cho mỗi
cái riêng, từ quan điểm lịch sử cụ thể. Tuy nhiên phải chú ý tính cân đối, vì ở
nước ta, đạo Công giáo và Phật giáo dù là 2 tôn giáo lớn nhất cần phải quan
tâm, nhưng cũng luôn thấy là có tới 13 tôn giáo khác nhau. Đảm bảo từ phương
diện này sẽ góp phần bảo đảm quan điểm, nguyên tắc bình đẳng các tôn giáo
Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
3.2.6.3. Đánh giá truyền hình đưa tin về tôn giáo
- Đưa tin về tôn giáo nói chung: Chủ trương, chính sách tôn giáo: thông tin
tốt, đáp ứng kịp thời: 38%; thông tin tốt nhưng chưa nhanh: 10%; thông tin
nhanh nhưng sơ sài thiếu thực tế: 28% và thông tin sai, thiếu thực tế: 25%. Về
hoạt động tôn giáo trái pháp luật: thông tin tốt, đáp ứng kịp thời: 41%; thông tin

13%; ngôn ngữ dễ hiểu: 11%; phản ánh ý kiến công chúng: 6%.
Vậy nhìn chung chưa thể hài lòng về chất lượng thông tin tôn giáo của truyền
hình hiện nay, khi mà trình độ của cả người có tôn giáo và không có tôn giáo ngày
một cao, nhu cầu dân chủ trong thông tin ngày càng lớn. Vì thế, thông tin chính
xác, toàn diện, khách quan về vấn đề tôn giáo và có thái độ tôn trọng công chúng
là yêu cầu vô cùng quan trọng hiện nay đối với truyền thông đại chúng tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta. Qua đó đóng góp vào việc thành công công tác tôn giáo
và nâng cao niềm tin của dân vào chế độ và củng cố uy tín cho Đảng.
3.3. Những khó khăn tồn tại trong công tác truyền thông tôn giáo của
Đảng, Nhà nước
3.3.1. Những mặt tồn tại
Một là, khi có vụ việc phức tạp về tôn giáo xảy ra thì không ít tờ báo, tạp
chí, đài phát thanh - truyền hình thụ động trong việc đưa tin, viết bài. Sự chủ
động phối, kết hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc lấy thông tin về các
vụ việc phức tạp về tôn giáo chưa chặt chẽ. Vì vậy, chất lượng bài viết về tôn
giáo và công tác tôn giáo trên báo điện tử còn thấp.
Hai là, các phóng viên chủ yếu là viết tin hoặc các bài về gương người tốt
việc tốt, ít bài viết có tính phản biện sắc sảo, phân tích có lý, thuyết phục người
đọc. Ở không ít báo, số tin bài về lĩnh vực tôn giáo rất ít.
Ba là, tình trạng thông tin sơ sài, thiếu thực tế khá nghiêm trọng. Kết quả
điều tra như đã phân tích, là rất đáng lưu tâm đối với những người làm báo
chuyên mục về tôn giáo.
Bốn là, hầu hết các báo, tạp chí,phát thanh, truyền hình không có chuyên
mục cũng như không có phóng viên chuyên trách về lĩnh vực tôn giáo và công
tác tôn giáo. Quỹ nhuận bút, nhất là quỹ nhuận bút ở báo điện tử, đặc biệt là ở
báo ở địa phương rất thấp, nên không khuyết khích được người viết về lĩnh vực
nhạy cảm này
1
.
Năm là, ở một số nơi xảy ra điểm nóng về tôn giáo, nhưng các loại báo chí

Công tác truyền thông tôn giáo về chính sách, pháp luật tôn giáo và công tác
tôn giáo đã đạt được những kết quả tích cực. Kết quả điều tra khảo sát đối
tượng là người theo tôn giáo ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã cho những đánh
giá về hiệu quả của truyền thông tôn giáo được toàn diện và khách quan hơn.
Những hạn chế, yếu kém và bất cập của truyền thông tôn giáo liên quan trực
tiếp và chủ yếu từ yếu tố con người chỉ đạo, quản lý truyền thông; từ năng lực
chuyên môn và phẩm chất của người xây dựng nguồn phát, đên nguồn lực đầu
tư cho con người và phương tiện…
Bài học về nhận thức và phương pháp ở đây là: nghiên cứu và khảo sát về
truyền thông tôn giáo, không được dừng lại ở một mặt, một chiều; mà phải toàn
diện, nhiều chiều, không áp đặt chủ quan. Truyền thông tôn giáo không chỉ là
sự phản ánh khách quan về đời sống thực tiễn tôn giáo vốn luôn là một hệ thống
cấu trúc đa dạng đến phức tạp, mà còn phản ảnh về mức độ và trình độ dân chủ
của xã hội Việt Nam.
Chương 4
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
17
4.1. Những vấn đề đặt ra đối với truyền thông tôn giáo
ở nước ta hiện nay
4.1.1. Chủ thể truyền thông tôn giáo của hệ thống chính trị cần nâng cao
trách nhiệm trong nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về
tôn giáo phù hợp với tình hình trong nước, quốc tế và đúng với quan điểm
của Đảng
Công việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo trước hết
và chủ yếu thuộc về các cấp của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là ở cấp Trung
ương. Đóng góp đắc lực vào đó đòi hỏi trách nhiệm rất cao cả của chủ thể
truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước, trong việc đảm bảo mối quan hệ
hữu cơ giữa chủ thể truyền thông tôn giáo với phương tiện truyền thông và với
đối tượng truyền thông.

- Trước hết cần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về
tôn giáo, công tác tôn giáo và truyền thông tôn giáo.
- Phát triển một hệ thống truyền thông đại chúng hiện đại, đủ mạnh là điều
kiện để mở rộng khả năng hợp tác, trao đổi, tiếp thu những giá trị văn hoá tích
cực của nhân loại, mở mang dân trí và tăng cường ảnh hưởng cũng như vị thế
của đất nước trên trường quốc tế. Đây là điều kiện cho hệ thống truyền thông
tôn giáo, phát huy sức mạnh của mình, đóng góp tích cực nhất cho sự nghiệp
cách mạng của Đảng, của dân tộc ta. Việc phát triển truyền thông ở nước ta
không thể dừng lại ở bề rộng, mà cần có chiến lược phát triển về chiều sâu, gắn
liền với phát triển và làm chủ các công nghệ, phương tiện truyền thông hiện đại
hiện nay.
- Các phương tiện truyền thông đại chúng; vai trò của báo in, báo hình, báo
nói… trong truyền thông tôn giáo phải bảo đảm nhu cầu thông tin, định hướng
và giáo dục của truyền thông. Các báo này phải có sự quản lý, định hướng chặt
chẽ từ Nhà nước.
- Đẩy mạnh truyền thông tôn giáo tới đối tượng là bạn bè quốc tế, thông qua
các phương tiện truyền thông, bằng các thứ tiếng nước ngoài khác nhau như
tiếng Anh, Pháp, Trung Quốc, Tây Ban Nha… Qua đó, giúp người nước ngoài
và đồng bào Việt kiều hiểu về chủ trương, chính sách, pháp luật tôn giáo và tình
hình tôn giáo ở Việt Nam. Truyền thông tôn giáo sẽ có vai trò như một chiếc
cầu nối, làm tăng thêm hiểu biết, thiết lập quan hệ báo chí- truyền thông ra bên
ngoài, đưa hình ảnh đất nước Việt Nam ra thế giới.
- Tổ chức nghiên cứu truyền thông tôn giáo, tiến tới xây dựng chuyên ngành
truyền thông tôn giáo trong ngành tôn giáo học; đồng thời phối hợp giữa tôn
giáo học và truyền thông học cũng như các ngành khoa học khác để nghiên cứu
về truyền thông tôn giáo, cả trong nước và trên thế giới.
4.2.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với
truyền thông tôn giáo
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về truyền thông tôn giáo nhất thiết và
trước hết phải gắn với quá trình Đảng và Nhà nước chăm lo đến sự phát triển kinh

pháp và các chế định pháp lý, tạo ra các chuẩn mực hợp lý, tích cực cho cả hai
người quản lý và người bị quản lý.
- Để quản lý tốt truyền thông tôn giáo, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật cho hoạt động truyền thông tôn giáo. Đó không chỉ là phương
tiện bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, bảo vệ các hoạt động, mà còn để đấu tranh,
ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo của các thế lực xấu. Xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật trên một số mặt sau.
- Tăng cường quản lý nhà nước gắn liền với công tác kiểm tra việc tổ chức
thực hiện các văn bản pháp luật, chương trình kế hoạch đối với công tác truyền
thông tôn giáo đã được Chính phủ phê duyệt. Tổng kết rút kinh nghiệm, tiếp tục
hoàn thiện bổ sung lại các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với thực tế.
4.2.3. Đổi mới nội dung và hình thức truyền thông tôn giáo
- Truyền thông tôn giáo cần đổi mới mạnh mẽ phương thức truyền thông, để
truyền thông tôn giáo mang tính ẩn dụ, nhưng gắn với cuộc sống và phù hợp
với trình độ nhận thức của nhân dân; truyền thông tôn giáo phải thề hiện được
giá trị đích thực của tôn giáo, không gói gọn trong bất cứ hình thức diễn đạt
theo nghĩa đen nào và truyền thông cần phải phong phú, đa dạng với mọi hình
thức truyền thông.
- Các cơ quan chức năng truyền thông cần định hướng cho báo - đài, nhất là
báo chí chuyên ngành tôn giáo tuyên truyền một cách hiệu quả, kịp thời các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. Đặt ra những đòi hỏi
mới và ở tầm cao hơn cho truyền thông tôn giáo; người làm công tác này phải
được trang bị lý luận chính trị vững vàng, có kiến thức và kinh nghiệm thực tế
đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của lĩnh vực thông tin, truyền thông và tôn
giáo trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.
- Nội dung tuyên truyền cần tập trung đề cập các chủ trương, chính sách
mới nhất về tôn giáo do Đảng và Nhà nước ban hành; làm rõ những điểm mới
trong các Nghị quyết, các quy định, các văn bản pháp luật liên quan đến tôn
20

Nâng cao trách nhiệm của cơ quan tuyên truyền các cấp, cần:
- Nắm chắc tình hình, diễn biến của đời sống tôn giáo trong đồng bào có
đạo, đặc biệt những nơi có tỷ lệ đồng bào có đạo cao, để xây dựng định hướng
nội dung công tác tuyên truyền, góp phần đưa đồng bào tôn giáo gắn bó đồng
hành cùng dân tộc.
- Sự phối hợp giữa các cơ quan tuyên truyền, ở các cấp các ngành là một yêu
cầu rất cần thiết nhằm đảm bảo tính đa dạng, phong phú, nhiều chiều của thông
tin, giúp các tầng lớp nhân dân nói chung và đồng bào có đạo nói riêng hiểu
đúng các nội dung thông tin và chấp hành tốt các quy định, chính sách, pháp
luật về tôn giáo.
- Mỗi khi có các chủ trương, chính sách, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết,
hay các vụ việc liên quan đến tôn giáo, các cơ quan chức năng như Ban tuyên
giáo Trung ương, Bộ Thông tin Truyền thông, Ban Tôn giáo Chính phủ…cần tổ
chức họp báo để thông tin và định hướng công tác truyền thông. Tổ chức hội
21
nghị định kỳ nhằm kiểm điểm, đánh giá, rút kinh nghiệm về công tác truyền
thông theo khu vực, vùng miền nơi đông đồng bào tôn giáo.
Truyền thông các “điểm nóng” liên quan đến tôn giáo.
Việc đấu tranh để làm rõ sự việc, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế
lực thù đich là rất cần thiết, nhưng báo chí cũng như công tác tuyên truyền của
ta thường phản ứng chậm. Để khắc phục tình trạng này rất cần có sự chủ động
từ phía cơ quan quản lý báo chí, cơ quan tuyên giáo có ngay chủ trương trước
những vụ việc liên quan đến tôn giáo, có được phép thông tin không, và thông
tin đến đâu, mức độ nào, để các báo không bị động chờ đợi. Trong thông tin cần
làm rõ bản chất của vụ việc, khách quan, trung thực, chỉ rõ những sai trái, vi
phạm, trách nhiệm thuộc về đâu, đề xuất các hình thức giải quyết xử lý có lý có
tình, tạo ra sự đồng thuận trong dư luận.
4.2.4. Bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, cộng tác viên, tuyên truyền viên
làm công tác truyền thông tôn giáo
- Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác

cho thấy những thành công đáng kể, song cũng có không ít những lo ngại, phân
vân. Trong đó vấn đề nhận thức về tôn giáo và truyền thông tôn giáo còn bất
cập, lạc hậu đã là lực cản lớn đối với hiệu quả công tác truyền thông tôn giáo.
Công tác truyền thông tôn giáo của hệ thống chính trị hiện nay luôn có yêu cầu
phát huy những thành tích, khắc phục những hạn chế yếu kém. Về việc này
thiết nghĩ phải được nhận thức và giải quyết từ cả những vấn đề đặt ra cấp thiết
trước mắt và ở lâu dài, tầm chiến lược.
KẾT LUẬN
1. Từ khi đất nước đổi mới, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
cũng đã được đổi mới "căn bản và mạnh mẽ", dựa trên căn bản đời sống tôn
giáo trong nước và quốc tế và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của nhân dân
ta, vốn đã và đang được mở rộng, phát triển hơn hẳn các thời kỳ trước đây. Tình
hình đó khẳng định, quan điểm, chính sách đối với tôn giáo chỉ luôn đúng đắn,
khi nó luôn phải xuất phát từ bản thân đời sống xã hội nói chung và tình hình
tôn giáo nói riêng, của Việt Nam và thế giới thời đương đại; đồng thời phải biết
đổi mới nhận thức về tôn giáo sao cho đúng nghĩa là, chủ nghĩa Mác - Lênin là
kim chỉ nam, phương pháp luận chứ không phải là áp đặt và giáo điều.
2. Truyền thông tôn giáo ở Việt Nam, với tính cách là một lĩnh vực khoa
học, cho đến nay vẫn là điều khá mới mẻ. Với tính cách là một hoạt động của
đời sống xã hội, truyền thông tôn giáo ở nước ta đã có nhiều hoạt động tích cực,
song cũng khá rõ ràng để nhận ra rằng, nó còn thiếu sự dẫn dắt của lý luận, nên
đã không tránh khỏi hoạt động dựa vào cảm tính và ít hiệu quả. Phát triển
truyền thông học ở nước ta do đó có yêu cầu cấp thiết là phải quan tâm đến
truyền thông tôn giáo, xem nó là một bộ phận không thể thiếu của truyền thông
nói chung trên cả phương diện nhận thức cũng như thực tiễn. Đáp ứng về việc
đó, tác giả đã dành sự công phu và đam mê để tiếp cận tới vấn đề truyền thông
tôn giáo từ phương diện truyền thông học, triết học và nhất là của tôn giáo học.
Song đó chỉ là dấu ấn đầu tiên, là mấy nhận thức ban đầu, còn ở phía trước,
theo tác giả, nó đang và sẽ đặt ra rất nhiều vấn đề cho những nghiên cứu cơ bản
và chuyên sâu, trước hết là ngành tôn giáo học.

Việt Nam hiện nay. Đó chính là những mâu thuẫn biện chứng, mà không giải
quyết thì không thể hy vọng truyền thông tôn giáo Việt Nam phát triển tương
xứng với thời đại mới. Nhận thức được vấn đề đã là vô cùng quan trọng, song
nó cũng mới chỉ là khâu ban đầu, là tiền đề mà thôi. Tiếp theo, chủ thể cần
tạo ra môi trường, cách thức thực hiện và các điều kiện cần và đủ cho quá
trình triển khai trên thực tế. Tuy nhiên ở đây, như chúng tôi đã từng khẳng
định: yếu tố quyết định thành công vẫn là yếu tố con người, đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức của hệ thống truyền thông tôn giáo Việt Nam có đủ tầm
- đáp ứng cho những yêu cầu phát triển hiện nay hay không. Về điều này, tác
giả tự thấy bản thân mình và đội ngũ làm tôn giáo học nước nhà là những
người trong cuộc.
Hy vọng đó là những đóng góp nhỏ của tác giả luận án trong việc xây
dựng và phát triển chuyên ngành truyền thông tôn giáo và tôn giáo học ở
nước ta hiện nay./.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status