VIN HN LM
KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
NGUYN THY H
truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến
nay
(qua khảo sát trờng hợp phật giáo và
công giáo)
Chuyờn ngnh : Tụn giỏo hc
Mó s : 62.22.90.01
LUN N TIN S TễN GIO HC
Ngi hng dn khoa hc: 1. TS. NGUYN QUC TUN
2. PGS.TS PHM MINH SN
H NI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của
riêng tôi; Các số liệu nêu trong luận án tiến sĩ là trung
thực. Những kết luận khoa học luận án tiến sĩ của tôi chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ
Nguyễn Thúy Hà
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1. Tổng quan tư liệu, tài liệu về truyền thông tôn giáo 6
1.1.1. Các tư liệu, tài liệu liên quan gần đến đề tài luận án 6
1.1.2. Nguồn tư liệu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án 8
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.2.1. Những vấn đề lý luận chung về truyền thông 9
phương diện chủ thể là cơ quan truyền thông của Đảng và Nhà nước
3.1.1. Truyền thông tôn giáo đã góp phần nâng cao nhận thức
cho cán bộ và chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt
quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và
Nhà nước 71
3.1.2. Truyền thông tôn giáo đã góp phần tuyên truyền về công
tác tôn giáo, về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân 74
3.1.3. Truyền thông tôn giáo tích cực cổ vũ đồng bào các tôn
giáo đóng góp sức người, sức của xây dựng quê hương
đất nước, xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư,
làm tốt công tác từ thiện - xã hội 83
3.1.4. Truyền thông tôn giáo là vũ khí sắc bén để phản bác lại
những luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính
sách tôn giáo ở Việt Nam của các thế lực thù địch 88
3.2. Hiệu quả truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước từ phương
diện đối tượng là tín đồ, chức sắc Phật giáo, Công giáo ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh 93
3.2.1. Thông tin về triển khai khảo sát 93
3.2.2. Thông tin về người Việt với truyền thông tôn giáo 94
3.2.3. Thông tin về Công giáo 97
3.2.4. Thông tin về Phật giáo 99
3.2.5. Thông tin đánh giá về báo và tạp chí đưa tin về tôn giáo 101
3.2.6. Thông tin đánh giá về truyền hình đưa tin về tôn giáo 105
3.3. Những khó khăn, hạn chế trong công tác truyền thông tôn giáo của
Đảng, Nhà nước 112
3.3.1. Những mặt hạn chế 112
3.3.2. Đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền 114
3.3.3. Nguyên nhân của yếu kém tồn tại 116
Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM
truyền viên làm công tác truyền thông tôn giáo 137
KẾT LUẬN
141
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢLIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN
ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
144
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
145
PHỤ LỤC
157
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Gia đình có các phương tiện 94
Biểu đồ 3.2: Thông tin về công giáo nói chung mà bản thân quan tâm 97
Biểu đồ 3.3: Thông tin về công giáo nói chung trên báo in mà bản
thân quan tâm 98
Biểu đồ 3.4: Thể loại/ hình thức thông điệp về Công giáo yêu thích
trong các tờ báo, tạp chí 98
Biểu đồ 3.5: Thông tin về Phật giáo nói chung mà bản thân quan tâm 99
Biểu đồ 3.6: Thể loại, hình thức thông điệp về Phật giáo yêu thích
trong các tờ báo, tạp chí 99
Biểu đồ 3.7: Thông tin về Phật giáo nói chung mà bản thân quan tâm 100
Biểu đồ 3.8: Đánh giá về việc đáp ứng nhu cầu thông tin về tôn giáo
nói chung trên báo và tạp chí phát hành ở địa phương 101
Biểu đồ 3.9: Tôn giáo nói chung: Thể loại/ hình thức thông điệp
yêu thích trong các tờ báo, tạp chí 103
Biểu đồ 3.10: Đánh giá báo Đại đoàn kết, Giác ngộ đưa tin về tôn
giáo nói chung 104
Biểu đồ 3.11: Mức độ thường xuyên xem truyền hình trong tháng
vừa rồi 105
đối tượng, trong đó có hàng triệu đồng bào tôn giáo là người Việt Nam ở
trong và ngoài nước. Chủ thể truyền thông, nhất là Đảng và Nhà nước, đã
định hướng dư luận trên lĩnh vực tôn giáo, giúp người dân có và không có tôn
giáo nhận thức đúng đắn về thực chất của tình hình tín ngưỡng, tôn giáo; về
quan điểm, chính sách tôn giáo trước sau như một của Đảng và Nhà nước.
Qua đó cũng góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh chống những luận
điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực xấu lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống
1
phá cách mạng, góp phần củng cố khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Nhờ vậy, đời
sống tôn giáo đã có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của các lĩnh vực
kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị thời kỳ đất nước đổi mới.
Tuy vậy, thực tiễn đa dạng của đời sống tôn giáo đã và đang yêu cầu
công tác truyền thông tôn giáo nói chung và truyền thông về chính sách, pháp
luật tôn giáo nói riêng của hệ thống chính trị Việt Nam đã và đang đặt ra nhiều
vấn đề cần phải được quan tâm giải quyết cả về trước mắt cũng như lâu dài. Đó
là: nhận thức về truyền thông tôn giáo hiện nay cần nâng cao hơn nữa cả về tính
khách quan khoa học và tính đảng; các vấn đề thông tin sao cho khách quan và
cập nhật hơn; các thông điệp cần chính xác, rõ ràng hơn; chất lượng nội dung và
hình thức thông tin, thông điệp phù hợp hơn, sớm đến với các tầng lớp, cộng
đồng đối tượng cụ thể; các phương tiện truyền thông cần đa dạng, hiện đại hơn
và nhất là, đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông phải có phẩm chất và năng
lực cao hơn nữa. Mặt khác, công tác quản lý nhà nước đối với truyền thông tôn
giáo của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, cũng phải được đổi mới cả về nội
dung và phương thức quản lý, sao cho phù hợp với sự phát triển của trình độ
công nghệ thông tin đương đại, cũng như phù hợp với sự biến đổi mau lẹ của đời
sống tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Tình hình đó đặt ra yêu cầu đối với chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội
nước ta là phải nghiên cứu thấu đáo vấn đề truyền thông tôn giáo, để làm cơ
sở khoa học trực tiếp cho việc hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo,
truyền thông tôn giáo để đạt hiệu quả cao.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung làm rõ về trường hợp truyền thông tôn giáo với chủ thể là:
(1) chủ yếu là các cơ quan truyền thông của Đảng và Nhà nước, (2) giáo hội
3
Công giáo và Phật giáo, qua một số báo, tạp chí, kênh truyền thông; đối tượng
tiếp nhận truyền thông là tín đồ, chức sắc tôn giáo, qua Phật giáo và Công
giáo, từ việc họ tiếp nhận, đánh giá nội dung, hiệu quả truyền thông đó là vấn
đề tôn giáo, chính sách, pháp luật tôn giáo, chất lượng, hiệu quả truyền thông
và các phương tiện truyền thông.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề hiệu quả truyền
thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, qua nhận thức của các đối tượng là
tín đồ, chức sắc Phật giáo và Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Về thời gian, nghiên cứu vấn đề truyền thông tôn giáo từ năm 1990
đến nay, khi có Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/10/1990, của Bộ Chính
trị, Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án, đó là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và những thành quả nghiên cứu lý luận đã đạt
được trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và lĩnh vực truyền thông.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trong sự vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp
nghiên cứu chuyên ngành tôn giáo học và liên ngành, như truyền thông học,
xã hội học, sử học, văn hóa học và chính trị học
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án xây dựng và phân tích khái niệm truyền thông tôn giáo dưới
hóa tôn giáo - Khái niệm, biểu hiện và vấn đề đặt ra,…
Các công trình này, bên cạnh những dự báo về những biến đổi vô
cùng to lớn của thế giới hôm nay và ngày mai, trong đó đã đưa ra những phân
tích sâu sắc, thuyết phục về tình hình tôn giáo nói chung và một số tôn giáo
lớn của thế giới, như đạo Công giáo, Hồi giáo… Đây thực sự là những khám
phá mới, có nhiều giá trị về nhận thức và thực tiễn.
Thứ hai, các tác phẩm nghiên cứu sâu về Phật giáo và Công giáo: Lưu
Bành (2002) Mười tôn giáo lớn trên thế giới; Dương Phượng Cương (2006),
Ba thị trường màu sắc tôn giáo Trung Quốc; Giác Dũng (2002), Lịch sử Phật
giáo Nhật Bản; Lê Tâm Đắc (2010), Một số nhân vật tiêu biểu trong phong
trào chấn hưng Phật giáo ở Châu Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Hoàng
Văn Chung (2011), bài Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2, Giới thiệu về tôn
6
giáo ở Hàn Quốc; Tòa Thánh Vatican (2010), Niên giám của Tòa thánh về số
lượng và chất lượng đội ngũ giáo sĩ Kitô giáo trên thế giới…
Các công trình đó đã đi sâu nghiên cứu về Phật giáo và Công giáo trên
thế giới và ở Việt Nam thời hiện đại. Trong đó khẳng định: Công giáo có xu
thế phát triển mạnh, thậm chí lấn át cả Phật giáo và sự thay đổi đáng kể về tổ
chức Giáo hội, trong đó cơ quan truyền thông được xem trọng. Còn Phật giáo,
nhất là ở Việt Nam, luôn được xem là gắn bó chặt chẽ với dân tộc, được coi là
những di sản văn hóa quan trọng, cần được truyền thông quảng bá rộng rãi.
Hoặc nguời Hàn Quốc, với tư duy cởi mở, khoan dung tôn giáo, đã liên tục
thu nhận tôn giáo nước ngoài và sáng tạo những tư tưởng tôn giáo cùng với
cách thực hành của riêng mình. Các tác giả đều đi đến khẳng định, tôn giáo đã
góp phần hình thành nên diện mạo văn hóa hiện nay, vừa đa dạng, vừa sống
động, rất truyền thống và cũng không kém phần hiện đại, thể hiện ở mọi hoạt
động, trong đó có hoạt động truyền thông.
Thứ ba, các văn bản của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và chính sách,
pháp luật tôn giáo, Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 24-NQ/TW
về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới; Đảng Cộng sản Việt
Nguyễn Đức Lữ, chủ biên (2008), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo
ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Đỗ Quang Hưng (2008), Vấn đề tôn giáo
trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Ngô
Hữu Thảo (2012), Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin đến thực tiễn
Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội; Nguyễn Quốc Tuấn, chủ
nhiệm, (2012), Đặc điểm và vai trò của phật giáo Việt Nam ở thế kỷ 20, đề tài
nghiên cứu khoa học.
Thứ tư, những tài liệu liên quan đến truyền thông tôn giáo của Phật
giáo và Công giáo ở Việt Nam: Lại Trọng Bình (1996), Thử tìm hiểu những
tờ báo Công giáo hiện nay; Phạm Minh Đức (1997), Hiện trạng tình hình
8
Đạo Công giáo Việt Nam hiện nay trên báo chính nghĩa và người Công giáo
Việt Nam; Lê Đình Bảng (2009), Hành trình 100 năm báo chí Công giáo Việt
Nam, Hà Nội, Nxb Tôn Giáo; Hòa thượng Thích Gia Quang (2/2013), Truyền
thông - phương tiện hữu hiệu nhất truyền tải Chính pháp, Vietnamnet.vn;
Ngọc Lan (2009), Luân Lý Mạng, Báo Hiệp Thông (Bản tin của Hội đồng
Giám mục Việt Nam) số 51, 2008 và số 52; Hội đồng Toà thánh về Truyền
thông xã hội, Đạo đức trong Truyền thông, Roma, 2002, Số 1; Minh Thạch
(2010), Diện mạo phiến diện của truyền thông Phật giáo Việt Nam hiện đại,
Tập san Pháp luân 74; An Thư (2/2013), Truyền thông - "Phép nhiệm màu"
để Phật pháp đến với đại chúng, Vietnamnet.vn; Phạm Nhật Vũ (2010),
Truyền thông Phật giáo Việt Nam sẽ làm gì?, website Kienthuc.net.vn;
Các công trình trên đã đưa ra quan niệm về truyền thông, truyền thông
đại chúng nói chung và vai trò của truyền thông trong xã hội hiện đại. Nó
cũng đề cập tới truyền thông tôn giáo với chủ thể là các tổ chức tôn giáo Việt
Nam và Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời cũng có các công trình luận bàn về
truyền thông của các tôn giáo cụ thể, song chủ yếu là của Phật giáo và đạo
Công giáo. Một số tài liệu đó đã có những đánh giá về hiện trạng truyền thông
xã hội và truyền thông tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
1.2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
đời sống tâm lý, các chuẩn mực văn hóa và những thói quen của con người.
Từ đó, tác giả nhấn mạnh đến việc sử dụng các phương tiện truyền
thông phải đạt tới mục đích cao cả, khi đã dẫn ra tư tưởng của Giáo hoàng
Bênêđictô XVI: "Những công nghệ kỹ thuật như thế là một ân huệ đích thực
cho nhân loại. Bởi thế, chúng ta phải làm sao để những thuận lợi mà chúng mang
lại được phục vụ hết thảy mọi người và mọi cộng đồng, đặc biệt là những người
nghèo túng và những người dễ bị thương tổn nhất." Tuy nhiên, phương tiện
10
truyền thông cũng đặt ra rất nhiều thách đố cho con người. Một thế giới ảo
đầy hấp dẫn đang đan xen với thế giới thực, gây nên những ảo tưởng dẫn đến
nhiều đổ vỡ và các vấn đề chưa từng có trước đây. Tác giả khẳng định: kỹ thuật
công nghệ tốt hoặc xấu, hoàn toàn tuỳ thuộc vào con người sử dụng. Vậy,
người sử dụng chúng phải tránh đưa ra những lời nói và hình ảnh làm mất phẩm
giá con người, và loại trừ những gì đang nuôi dưỡng lòng hận thù và sự bất
bao dung, những gì làm giảm giá vẻ đẹp và sự sâu kín của giới tính con người,
những gì khai thác những người yếu đuối và những người dễ bị thương tổn.
- TS. Phạm Minh Sơn và PGS.TS Nguyễn Thị Quế (2010), Truyền
thông đại chúng trong công tác Thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay,
Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Công trình quan niệm "truyền thông" là
một hiện tượng xã hội phổ biến, một dạng hoạt động đặc thù của con người,
tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội. Truyền thông có rất nhiều quan
niệm và định nghĩa khác nhau, tùy theo mỗi một góc nhìn. Tác giả dẫn ra một
số quan niệm tương đối phổ biến, định nghĩa về truyền thông như sau:
+ Theo John R. Hober (1954): truyền thông là quá trình trao đổi tư
duy hoặc ý tưởng bằng lời.
+ Martin P.Adelsm: truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta
hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Đó là một
quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống.
+ Quan niệm của Dean C.Barnlund (1964): truyền thông là quá trình
liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn.
cho chúng nếu không được hướng dẫn, giúp phân biệt, lựa chọn cách khôn
ngoan và hữu ích các chương trình muôn mặt của phương tiện truyền thông.
Tác giả đã phân loại các loại hình phương tiện truyền thông dựa theo
tính chất và hình thức của nó. Đó là: có nhiều loại hiện đại, với chất lượng và
12
số lượng vô cùng phong phú; có loại truyền thông đơn giản, có loại phức tạp,
có loại bằng lời nói, có loại bằng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, diễn cảm, bằng biểu
tượng, qui định, qui ước với nhau; loại nghe, nhìn, xem cực nhanh, cực tốt;
loại phổ biến, thông dụng, đáp ứng được mọi đối tượng, mọi trình độ; loại đặc
biệt được mọi người ưa thích, cách riêng các bạn trẻ, đang yêu, đó là điện
thoại cố định hay di động.
Như vậy, đáng chú ý là, bàn về truyền thông nói chung không chỉ có
các học giả của "đời", mà còn có các nghiên cứu của chức sắc, tu sĩ tôn giáo.
1.2.2. Những vấn đề về truyền thông tôn giáo nói chung
1.2.2.1. Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về truyền thông
tôn giáo
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 37/ CT-TW của Bộ Chính
trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, về công tác tôn giáo, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
- Ủy ban thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh số 21/2004/PL-
UBTVQH11, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nhà nước, coi đó là một nội dung quan trọng của quá trình lãnh đạo, quản lý
xã hội của Đảng và Nhà nước.
Tất nhiên ở đây, vấn đề truyền thông tôn giáo chưa được các công
trình luận giải với tính cách như là lý luận về truyền thông tôn giáo, mà chủ
yếu là từ góc độ vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, của chức
năng các cơ quan tuyên truyền, vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo
của hệ thống chính trị ở nước ta.
- Nguyễn Ngọc Sơn (2005), Vài nét về hiện trạng truyền thông xã hội
Việt Nam, Niên Giám Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
Là một linh mục Công giáo, tác giả đã có cái nhìn duy tâm về nguồn gốc của
truyền thông, khi cho rằng, truyền thông không chỉ là một nhu cầu tự nhiên
của con người mà còn là một mầu nhiệm siêu việt của người tín hữu muốn
bước theo Đức Giêsu Kitô. Chính Ngài là nhà truyền thông đầu tiên và gương
mẫu đã trao ban cả con người như một thông điệp để thắt chặt mối tương
quan giữa Thiên Chúa với con người và vũ trụ vật chất. Ngài đón nhận tất cả
những gì của con người và vũ trụ vật chất tiềm ẩn trong đó, chỉ trừ tội lỗi, để
cho ta được tháp nhập vào thiên tính và trở nên một với Ngài.
- Hoàng Thị Thùy Dương (2010), Luận văn "Hoạt động truyền thông
về vấn đề tôn giáo trên báo in Việt Nam hiện nay". Tác giả cho thấy mối quan
hệ giữa báo chí và đời sống tôn giáo ở nước ta. Mối quan hệ này được thể
hiện rõ trong việc tác giả phân tích hai tờ báo: báo Nhân dân và Tuổi trẻ, đã
đưa lại một cách nhìn toàn diện và mới mẻ về vấn đề tôn giáo. Từ đó làm cho
mỗi người nhận thức rõ ràng hơn về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của báo chí
trong việc phản ánh chân thực và sinh động đời sống của cộng đồng tín đồ,
chức sắc các tôn giáo ở Việt Nam. Tác giả yêu cầu những người có trách
nhiệm trong các tôn giáo nên ý thức được tầm quan trọng của truyền thông và
ảnh hưởng của nó trong đời sống cộng đoàn cũng như cá nhân tín hữu.
15
- Nguyễn Văn Đệ (2011), Giới trẻ và truyền thông Công giáo -
Truyền thông báo chí và Intemid, bài thuyết trình tại Đại hội Giới Trẻ Giáo
truyền thông Công giáo theo Sắc lệnh này. Như: Từ xưa đến nay, tại nhiều
nơi những người Công giáo hoạt động trong lãnh vực truyền thông xã hội
không những không được nâng đỡ, mà còn bị coi là những người mạo hiểm
và bê bối nữa. Từ đó, Sắc lệnh này khẳng định: Bây giờ não trạng này phải
được thay đổi hoàn toàn.
- Hoàng Mạch Đoàn (2002), Công tác vận động giáo dân của tổ chức
cơ sở Đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay, luận án Tiến sỹ
khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đưa ra
quan niệm về nội dung, chất lượng công tác vận động đồng bào Công giáo.
Nội dung cơ bản của công tác vận động giáo dân là: Tuyên truyền, giáo dục
về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tổ chức, hướng
dẫn đồng bào Công giáo nâng cao nhận thức, trình độ văn hóa, khoa học; vận
động giáo dân tham gia tích cực các phong trào, xây dựng đời sống mới ở khu
dân cư, phòng chống các tệ nạn xã hội; cảnh giác phác hiện và chủ động đấu
tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù
địch, bảo vệ lợi ích chính đáng của đồng bào Công giáo. Như vậy, tác giả đã
xem vấn đề truyền thông Công giáo như là một bộ phận rất quan trọng của
công tác vận động tín đồ Công giáo hiện nay.
- Nguyễn Vinh Giang (05/11/2010), Linh mục và vấn đề truyền thông
hiện nay, http://tonggiaophanhue.net/home/index. Tác giả, một linh mục, từ
việc nhận thức rằng, những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 và đầu thế ky
21 là sân khấu của những sự tân kỳ trong lĩnh vực kỹ thuật truyền thông, tới
việc đặt ra nhu cầu khai thác các phương tiện truyền thông trong hoạt động
Công giáo. Theo tác giả, các phương tiện truyền thông mới mẻ khai sinh
những gì mà người ta gọi là "những ngôn ngữ mới" và khơi nguồn cho Giáo
hội nhiều khả năng trong việc loan báo Tin Mừng, cũng như làm nảy sinh
17
những vấn đề mục vụ mới đối với Giáo hội. Và đây cũng chính là chủ trương
của Giáo hội Công giáo. Đó là: tuy có mặt trái của internet, Giáo hội vẫn
muốn chúng ta dấn thân vào internet. Toàn thể Giáo hội, từ hàng giáo phẩm
hưởng tiêu cực và gia tăng tối đa những khía cạnh tích cực của truyền thông,
cần phải có giáo dục truyền thông.
Tác giả hướng tới việc vận dụng truyền thông trong việc giải quyết
các mâu thuẫn của cộng đoàn Công giáo. Ở đây, bài học truyền thông là: hãy
học biết diễn tả ý kiến hoặc sự phản đối trong một cách thức mang tính xây
dựng nhiều hơn và đối đầu ít hơn; hãy tìm thêm thông tin để làm cho quyết
định được thực hiện tốt hơn. Tác giả dẫn ra ý kiến của nhà khoa học xã hội
Boulding về các cách giải quyết mâu thuẫn bằng truyền thông: (1) Không truyền
thông = tránh; (2) Truyền thông kiểu quyền bính = chinh phục; (3) Truyền
thông đối thoại = giải pháp từng bước, bao gồm việc hòa giải và/hoặc dàn xếp
và/hoặc thưởng phạt. Ông ca ngợi cách giải quyết theo kiểu thứ ba.
1.2.3.2. Những vấn đề về truyền thông Phật giáo
- Minh Thạnh (2010), Truyền thông và sự phát triển tư tưởng Phật
giáo, Bài viết giới thiệu những đóng góp của truyền thông hiện đại đối với
hoạt động hoằng pháp, hỗ trợ tụ tập… của đạo Phật; đã làm rõ được vai trò
của truyền thông hiện đại để đưa Phật pháp đến với đông đảo Tăng Ni Phật tử
và nhân sanh.
- Minh Thạnh (2010), Diện mạo phiến diện của truyền thông Phật giáo
Việt Nam hiện đại, Tập san Pháp luân 74. Qua đây, diện mạo Phật giáo Việt
Nam phản ánh thông qua phương tiện truyền thông Phật giáo và tác động
mạnh mẽ nhất hiện nay là đĩa VCD, DVD, ngày càng khác xa với thực tế Phật
giáo Việt Nam, khi mà những giảng sư nổi tiếng từ dĩa VCD có độ tuổi
khoảng 40 - 50 tuổi, mà hiếm thấy dĩa thuyết pháp của các vị hòa thượng cao
tuổi. Ghi nhận hiện trạng đó, tác giả mong điều chỉnh tình trạng này bằng việc
19