5
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo là một sự nghiệp cách mạng to lớn, toàn diện và sâu sắc nhằm thực hiện
mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh tiến
bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới đã và đang làm biến
đổi mạnh mẽ và toàn diện các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
đất nước, làm chuyển biến nước ta từ một nền nông nghiệp kém phát triển
sang trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Chính nền kinh tế thị trường đã mang đến những biến đổi tích cực về văn
hóa - xã hội, khai thác và phát huy được các tiềm năng sản xuất trong xã hội, làm
bật dậy sức sáng tạo to lớn của hàng chục triệu người lao động, là nền tảng bảo
đảm thực hiện quyền làm chủ về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân
dân, trên cơ sở đó mở rộng và phát huy dân chủ trong tất cả các lĩnh vực khác của
đời sống xã hội. Song, thực tế cũng cho thấy bản thân nền kinh tế thị trường
không phải là liều thuốc vạn năng. Cùng với sự kích thích sản xuất phát triển,
kinh tế thị trường cũng chính là môi trường thuận lợi để nảy sinh và phát triển
nhiều tệ nạn xã hội, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, thương mại hóa các
lĩnh vực văn hóa - xã hội, làm suy thoái tư tưởng, đạo đức lối sống, phai nhạt các
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tuy nhiên cho đến nay Công tác
nghiên cứu lý luận v thực tiễn chưa làm rõ nhiều vấn đề có liên quan đến văn
hóa trong quá trình đổi mới [19, tr.52]. Thực tiễn phát triển văn hóa ở nước ta
trong thời kỳ đổi mới đã và đang đòi hỏi cấp thiết phải có sự nghiên cứu, tổng
kết về những biến đổi về văn hóa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần gìn giữ và phát huy những giá
trị văn hóa truyền thống dân tộc cũng như xây dựng và hoàn thiện nhân cách
con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ công
7
và đưa ra giải pháp cho sự phát triển văn hoá làng nghề ở châu thổ sông Hồng
trong thời gian tới.
2. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của văn hóa làng nghề ở châu
thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới qua nghiên cứu 3 làng nghề Sơn Đồng
(Hoài Đức, Hà Tây cũ), Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) và Đồng Xâm (Kiến
Xương, Thái Bình).
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của
các làng nghề, nhằm góp phần phát triển bền vững các làng nghề trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập quốc tế.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một cách kết hợp và linh hoạt các phương pháp nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó tuỳ theo nhiệm vụ giải quyết vấn đề ở
từng mục, từng chương, mà áp dụng từng phương pháp cụ thể với cách tiếp
cận chủ đạo, bên cạnh sự hỗ trợ của các phương pháp khác mang tính liên
ngành. Có 4 loại phương pháp được sử dụng như sau:
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian
- Phương pháp nghiên cứu dân tộc học, nhân học
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu xã hội học
3.2. Thao tác nghiên cứu
- Tổng hợp và phân tích văn bản.
- Quan sát tham dự.
- Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu cá nhân tại 3 làng nghề Sơn Đồng
(Hà Tây cũ), Đồng Xâm (Thái Bình) và Bát Tràng (Hà Nội).
- Phỏng vấn bằng bảng hỏi:
Luận án tập trung nghiên cứu sự biến đổi các thành tố cơ bản trong văn
hóa làng nghề ở vùng châu thổ sông Hồng.
9
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian:
Trong công trình Làng nghề Việt Nam và môi trường, các tác giả có đưa
ra con số thống kê về số lượng làng nghề năm 2005 như sau: Việt Nam có
1450 làng nghề với miền Bắc là 976 làng (làng nghề thuộc châu thổ sông
Hồng là 856 làng), miền Trung là 297 làng và miền Nam là 177 làng nghề
[16, tr.55-56]. Số liệu trên cho thấy, làng nghề ở miền Bắc nhiều gấp 3 lần so
với miền Trung và gấp 5 lần so với miền Nam. Theo báo cáo của Trung tâm
phát triển quốc tế Nhật Bản (JICA) trong dự án nghiên cứu về quy hạch phát
triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn ở nước
CHXHCN Việt Nam và báo cáo 4 năm thực hiện Quyết định số 132/2000QĐ-TTg do BNN&PTNT ban hành, Việt Nam có 2017 làng nghề với 1,4 triệu
hộ gia đình tham gia sản xuất. Theo tiêu chí của BNN&PTNT, Việt Nam có
11 nghề thủ công chính: Nhóm ngành nghề gốm sứ thuỷ tinh; nghề cói; nghề
sơn mài; nghề mây tre giang đan; nghề thêu ren; nghề dệt; nghề gỗ; nghề
chạm khắc đá; nghề giấy thủ công; nghề tranh in khuôn gỗ; nghề kim khí đúc
đồng, chạm bạc... Trong đó làng nghề mây tre đan là 713 làng (35,24%), làng
có nghề dệt là 432 làng (21,41%), làng sản xuất đồ gỗ là 342 làng (16,95%),
làng thêu ren là 341 làng (16,90%) còn 189 làng thuộc các ngành nghề khác.
Đây thực sự là những con số minh chứng cho vị trí của làng nghề đối với nền
kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Châu thổ sông Hồng là nơi tập trung nhiều làng nghề thủ công nhất
trong cả nước, còn các làng nghề ở Trung và Nam Bộ hình thành và phát triển
là do một bộ phận dân cư đã đưa nghề thủ công theo trong quá trình Nam tiến.
Trong cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ học giả P.Gourou đã dẫn ra số
liệu thống kê với 108 nghề thủ công khác nhau ở vùng đất này: ở Bắc Kỳ có
công, sản phẩm gốm Bát Tràng đã và đang chiếm lĩnh được thị trường trong và
ngoài nước.
- Địa bàn Thái Bình, đề tài chọn làng nghề chạm bạc Đồng Xâm với lý
do:
11
+ Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm có những bước thăng trầm riêng,
được hình thành từ lâu đời với những quy ước và luật tục rất chặt chẽ (Phúc
Lộc phường). Trước những năm đổi mới, nghề chạm bạc so với các nghề khác
ở châu thổ sông Hồng khá phát triển (mở rộng về quy mô, sản phẩm sản xuất
ra phục vụ xuất khẩu đi các nước Liên Xô và Đông Âu). Sau đổi mới, quy mô
của làng nghề không chỉ giới hạn trong xã mà còn lan rộng ra cả vùng. Nhưng
cho đến thời điểm hiện nay, tốc độ tăng trưởng của làng nghề gần như chững
lại, các sản phẩm chạm bạc truyền thống không còn là thế mạnh của làng
nghề mà thay thế vào đó là các loại sản phẩm mới phù hợp với thị trường.
Đề tài của luận án đặt ra là nghiên cứu trường hợp nhưng vẫn phải đặt
sự biến đổi văn hoá làng nghề của 3 làng trong bối cảnh chung các làng nghề
vùng châu thổ sông Hồng. Vì vậy, ngoài nghiên cứu trường hợp, chúng tôi còn
nghiên cứu mở rộng tới 61 làng nghề tại 3 huyện Hoài Đức, Gia Lâm, Kiến
Xương để thấy được sự biến đổi văn hóa làng nghề mang tính tổng thể.
Về thời gian: Luận án tiến hành khảo sát, nghiên cứu và đánh giá sự
biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (từ
năm 1986 đến nay).
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu (7 trang), kết luận (2 trang), tài liệu tham khảo (10
trang), phụ lục (107 trang), nội dung của luận án được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (25 trang)
Chương 2. Biến đổi các thành tố trong văn hoá làng nghề ở làng Sơn
làng xã nói chung và làng nghề nói riêng.
Khi khảo cứu các tài liệu liên quan đến đề tài Sự biến đổi văn hóa làng
nghề ở châu thổ sông Hồng từ năm 1986 đến nay, tác giả xin trân trọng tiếp
thu những ý kiến, cũng như các quan điểm của các học giả đi trước và phân
định các công trình nghiên cứu trước đây thành 3 nhóm:
13
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về làng nghề và văn hoá làng
nghề ở châu thổ sông Hồng
Thời kỳ phong kiến đã có những ghi chép về làng nghề hay nghề truyền
thống, nhưng các ghi chép này thường gắn liền với sự kiện lịch sử và chỉ điểm
xuyết tên một số nghề hay làng nghề nhất định. Theo số liệu thống kê, trong
cuốn Đại Việt sử ký toàn thư [18], thì chỉ có 2 lần các sử gia nhắc đến tên làng
nghề như: làng nghề làm nón Ma Lôi và thợ làng Cao Liệt với nghề làm mũ
cỏ, có 20 ghi chép về các nghề như dệt gấm, đúc đồng, luyện sắt, trồng dâu
nuôi tằm, dệt gai, làm keo, làm sơn hay diêm tiêu... và chỉ có 2 ghi chép về
việc quy định cho các thợ thủ công làm việc trong các công trình của triều
đình. Trong Đại Nam thực lục [87] có rất nhiều ghi chép về làng nghề và nghề
cổ ở nước ta: 27 ghi chép về làng nghề, 117 ghi chép về nghề thủ công, 65 ghi
chép về quy định và việc thợ thủ công làm việc cho triều đình. Nhìn vào số
liệu trên, chúng ta thấy được sự hình thành của làng nghề thủ công trong lòng
chế độ phong kiến với sự quản lý chặt chẽ của chính quyền nhà nước và sự
phát triển mang tính rộng khắp của làng nghề trong cả nước. Điều này cũng
khẳng định rằng:
- Làng nghề trong lịch sử là một trong những công cụ phục vụ đắc lực
cho chính quyền nhà nước phong kiến.
- Nghề thủ công góp phần làm tăng thêm mối quan hệ Làng Nước.
Một nguồn tài liệu khác vô cùng phong phú về làng nghề đó chính là
truyền thuyết và ca dao dân ca. Trong công trình Kho tàng ca dao dân ca
và làng ven biển nhưng lại dành cả một phần viết về phương tiện sống của
nông dân Bắc kỳ. Trong chương 2 của phần này, tác giả đã viết về công
nghiệp làng xã và phân chia công nghiệp làng xã thành ba loại chính: công
nghiệp dệt, đan lát, công nghiệp gỗ còn tất cả các loại hình khác tác giả xếp
chung vào loại công nghiệp khác Đây là một công trình có giá trị khoa học
cao, đúng như tác giả Lê Hồng Lý nhận định trong công trình Nhìn lại quá
trình nghiên cứu nghề và làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam: Bằng
những con số thống kê chi tiết, những nghiên cứu tỉ mỉ, Gourou đã dựng nên
15
một bức tranh sinh động và khá đầy đủ của nghề thủ công mỹ nghệ ở đồng
bằng Bắc Bộ [67, tr.63].
Trong cuốn Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, tác
giả Phan Gia Bền đã chỉ ra tác dụng của thủ công nghiệp, phân tích một số
chính sách đối với làng nghề trong thời kỳ Pháp thuộc, đặc điểm của nghề thủ
công Việt Nam, đặc biệt là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Với công
trình này, tác giả đã nghiên cứu khá công phu, cung cấp cho người đọc những
tri thức cơ bản về sự phát triển thủ công nghiệp trong một giai đoạn lịch sử
khá dài. Tuy nhiên, do hướng tới một mục đích nhất định nên công trình này
chỉ đi sâu vào phân tích tiểu thủ công nghiệp và mô tả một số nghề gắn liền
với làng nghề nhất định chứ không đề cập chuyên sâu đến làng nghề hay vai
trò quan trọng của làng nghề trong sự phát triển chung của cả nền công nghiệp
Việt Nam thời bấy giờ [10, tr.80, 112, 113]. Về mặt lý thuyết, tác giả đã đóng
góp một phần không nhỏ vào việc đưa ra những định nghĩa về thủ công
nghiệp, thợ thủ công mà cho đến hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn đang sử
dụng hoặc đưa ra làm tiền đề cho những nghiên cứu của mình.
Sau năm 1975, các công trình nghiên cứu về làng nghề của các tác giả
Việt Nam nghiên cứu tương đối muộn so với những công trình nghiên cứu về
làng xã (kinh tế, xã hội, văn hoá), và thường chủ yếu sử dụng phương pháp
quả nhất. Theo các tác giả, sản xuất nhỏ sẽ dẫn đến số vốn đầu tư cho sản sản
xuất không nhiều, người thợ thủ công có thể tự đứng ra vay vốn nhà nước và
như vậy làng nghề sẽ từng bước phát triển.
+ Khi nói về thị trường, các tác giả nêu ra một loạt những khó khăn và
thách thức trong nền kinh tế thị trường mà chưa tìm được hướng đi cho đầu ra
của sản phẩm thủ công.
+ Hoàn thiện hệ thống luật và chính sách, tạo lập môi trường thể chế
cho phát triển làng nghề là một vấn đề cấp bách cần thiết phải thực hiện sớm,
đồng thời khai thác tiềm năng du lịch thì mới có thể khôi phục, phát triển các
làng nghề. Đặc biệt, cần phải đưa ra những giải pháp để phát triển đi đôi với
việc bảo vệ môi trường tại các làng nghề: vấn đề xử lý rác thải công nghiệp,
17
tách khu sản xuất ra khỏi khu dân cư, tuyên truyền giáo dục người dân về ý
thức bảo vệ môi trường... [117].
Qua đây, chúng ta thấy rằng, quan điểm phát triển làng nghề của các
chuyên gia đầu ngành đều dựa trên nền tảng cơ bản là bản chất tư hữu nhỏ,
đặc tính tiểu nông của người nông dân để phát triển làng nghề theo mô hình
hộ gia đình. Điều này càng minh chứng rõ nét hơn, người thợ thủ công trong
các làng nghề về bản chất vẫn là người nông dân. Như vậy, để tìm được hướng
đi cho các làng nghề trong nền kinh tế thị trường là một bài toán khá nan giải.
Tác giả Chu Quang Trứ đi sâu Tìm hiểu các nghề thủ công điêu khắc
cổ truyền đã viết về 3 nghề, đó là nghề đúc đồng, nghề chạm khắc gỗ và nghề
chạm đá (thành tựu của các nghề trong lịch sử, tín ngưỡng thờ tổ nghề, kỹ
thuật làm nghề) [107], Jamieson.N.L với Làng nghề truyền thống Việt
Nam, in trong Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước
và Việt Nam (2000) đã khái quát các loại nghề truyền thống của Việt Nam
dưới con mắt của người nước ngoài.
Các công trình như Nghề cổ nước Việt (khảo cứu) của Vũ Từ Trang
- Sự thay đổi về không gian xã hội, những mục tiêu tập thể được xác lập
khi bước vào thời kỳ quá độ.
Gần đây, cuốn Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ
của tác giả Phillippe Papin - Ollivier Tessier (chủ biên) đã nghiên cứu tương
đối toàn diện về tổ chức không gian làng, con người và xã hội, các hoạt động
kinh tế, vấn đề dân cư của 4 làng thuộc vùng châu thổ sông Hồng: Tả Thanh
Oai (Thanh Trì, Hà Nội), Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội), Mộ Trạch (Hải
Dương), Hay (Thanh Ba, Phú Thọ) từ năm 1996 đến năm 1999[79]. Một số
công trình nghiên cứu quan trọng m luận án đã tham khảo về phương pháp
nghiên cứu là Tâm lý cộng đồng làng xã và di sản của Đỗ Long, Trần Hiệp
[64], tác giả Mai Văn Hai Phan Đại Doãn với công trình Quan hệ dòng họ ở
châu thổ sông Hồng [32], Sự biến đổi của làng xã Việt Nam hiện nay, Tô Duy
Hợp (chủ biên) và cuốn sách Đời sống văn hoá ở nông thôn đồng bằng sông
19
Hồng và sông Cửu Long của tác giả Phan Hồng Giang (chủ biên)... [46], [28].
Các công trình trên đây đã dựa trên số liệu thống kê, điều tra xã hội học của
rất nhiều làng xã đã cho chúng ta thấy được sự chuyển đổi về cơ cấu kinh tế
trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trường. Từ sự chuyển đổi này kéo theo hàng loạt hệ lụy đó là sự
biến đổi của xã hội nông thôn cổ truyền trong đó có cơ cấu tổ chức (bên trong
đó là các quan hệ sở hữu, quan hệ huyết thống và những quan hệ xã hội
khác), đời sống văn hóa xã hội, phong tục tập quán Đồng thời, diện mạo
của đời sống văn hóa xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay được các công trình
phác họa tương đối toàn diện. Đây thực sự là những công trình có giá trị khoa
học nhiều mặt, giúp ích cho tác giả của luận án tiếp cận, kế thừa và học hỏi,
nhất là về mặt phương pháp nghiên cứu liên ngành để áp dụng vào nghiên cứu
đề tài.
Tác giả Dương Bá Phượng với công trình Bảo tồn và phát triển các làng
đổi làng nghề của huyện Thanh Oai, tìm ra được nguyên nhân khách quan,
chủ quan dẫn đến sự biến đổi, chỉ ra được vấn đề phát sinh trong quá trình đổi
mới của đất nước [23]. Đây là một công trình có giá trị tham khảo liên quan
trực tiếp đến đề tài của luận án.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về 3 làng nghề Sơn Đồng, Bát
Tràng và Đồng Xâm
1.1.3.1. Các công trình nghiên cứu về làng nghề gỗ (tạc tượng) Sơn
Đồng, Hoài Đức, Hà Nội
Làng Sơn Đồng chuyên nghề tạc tượng thờ với quan điểm dĩ nhân định
vi cốt tượng có nghĩa là lấy con người thật làm chuẩn cho pho tượng. Tượng
thờ do những người thợ Sơn Đồng tạo tác hiện vẫn còn được lưu giữ khá nhiều
ở các đình chùa Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Thái Bình Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu, bài viết về làng nghề Sơn Đồng không nhiều.
Công trình phải kể đến đầu tiên đó là Tượng Sơn Đồng (Hà Nội) in trong kỷ
yếu Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1979 của tác giả Nguyễn Duy
Hinh, sau đó là bài viết Từ một vài trò diễn trong lễ hội làng... của học
giả Trần Từ in trong Tạp chí NCVHNT số (3) năm 1991 [110]. Hai công
21
trình này viết về 2 khía cạnh khác nhau của làng nghề Sơn Đồng đó là tượng
thờ và tục múa mo trong lễ hội. Học giả Trần Từ đã so sánh và phân tích tục
múa mo ở xã Sơn Đồng với tục đánh phết ở Bích Đại, Thượng Lạp (Vĩnh Phú)
và đưa ra một số nhận xét về tục thờ sinh thực khí, tín ngưỡng phồn thực trong
trò diễn của một số làng vùng châu thổ sông Hồng. Năm 2005, tác giả Nguyễn
Xuân Nghị đã công bố bài viết Làng nghề Sơn Đồng với sản phẩm đồ thờ
truyền thống trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian số (1) [72]. Ngoài việc giới
thiệu làng cổ Sơn Đồng và lễ hội làng với tục giằng bông, tác giả còn cho
chúng ta thấy được kỹ thuật chế tác sản phẩm như: tượng thờ, ngai thờ, khám
thờ, hoành phi, câu đối Năm 2008, tác giả Vũ Thị Thanh Tâm đã công bố tư
học năm 1978, Một mô hình nhà hai tầng bằng gốm men in trong Những
phát hiện mới về khảo cổ học năm 1985, Thông tin mới về đồ gốm men Bát
Tràng thế kỷ XVI XVII Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1986,
Nhóm đồ gốm men có niên đại thế kỷ XVI in trong Những phát hiện mới về
khảo cổ học năm 1986.
Đến năm 1989, tác giả Đỗ Thị Hảo cho ra đời chuyên khảo Quê gốm
Bát Tràng với những nghiên cứu mang tính toàn diện về nghề, văn hóa làng
nghề với những dấu tích xưa như: Văn chỉ, đình, chùa, phương châm xử thế, lệ
làng phép họ, tục kết chạ, ma chay, cưới xin, quy định đối với dân ngụ cư, các
trò diễn trong hội làng... [34]. Năm 1994, tác giả Diệp Đình Hoa công bố bài
viết Gốm Bát Tràng và sức sống mới của tranh dân gian trên Tạp chí Văn
hoá Nghệ thuật [42]. Bài viết Bát Tràng làng nghề truyền thống xưa và nay
của tác giả Đinh Văn Khiêm đang trên Tạp chí Dân tộc và thời đại cũng đưa
ra những số liệu cụ thể về tổng sản phẩm, số lượng lò, tổng thu nhập của làng
Bát Tràng và cảnh báo vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng ở Bát Tràng vào những
năm này [58].
Năm 1995, tác giả Phan Huy Lê, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Đình
Chiến cho ra mắt bạn đọc cuốn sách dịch 2 thứ tiếng Gốm Bát Tràng thế kỷ
XIV XIX (Bat Trang ceramics 14th 19th centuries) được các nhà khoa học
trong nước và hội nghiên cứu gốm cổ Nhật Bản đánh giá rất cao [63].
23
Năm 1996, trong chuyên khảo về làng nghề truyền thống của Tạp chí
Văn hoá Nghệ thuật, tác giả Nguyễn Văn Can là nghệ nhân làng gốm đã công
bố bài viết Gốm Bát Tràng nói về sự chuyển đổi của mô hình hợp tác xã và
phương thức truyền nghề ở Bát Tràng [14].
Năm 2000, Thạc sĩ Nguyễn Sĩ Toản đã bảo vệ thành công luận văn
Tìm hiểu làng gốm Bát Tràng thuộc chuyên ngành Văn hoá học tại trường
Đại học Văn hoá Hà Nội. Luận văn đã cho người đọc thấy được sự hình thành
(số 3) đã phân tích chuyên sâu về hoạt động của làng nghề xưa và nay, việc
truyền dạy nghề ở Đồng Xâm, các mặt hàng truyền thống và đặc trưng của
mỗi thể loại: từ đề tài, đồ án trang trí và thủ pháp nghệ thuật trên mỗi sản
phẩm [37]. Cùng năm 1993, hai tác giả Vũ Oanh và Phạm Quốc Sử đã đăng
bài viết trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế (số 4) về Sản xuất hàng hóa tiểu thủ
công nghiệp Thái Bình. Đây là bài viết khá sắc nét với việc cần thiết phải xác
định mục tiêu và cách thức sản xuất ở làng nghề Đồng Xâm trong thời kỳ đổi
mới. Ngoài ra còn có các bài viết, bài tham luận tại một số hội thảo như Làng
nghề chạm bạc Đồng Xâm của Phạm Đức Duật, Chạm bạc Thái Bình của
Nguyễn Thị Ngọc Thơ, Đền Đồng Xâm quy mô kiến trúc và lễ hội của tác
giả Nguyễn Thanh, Đào Hồng [98], Đền Đồng Xâm của tác giả Trương
Minh Hằng [38]...
Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Tuyết Nhung về Làng nghề chạm bạc
Đồng Sâm ở Thái Bình bảo vệ năm 2004 đã phân tích chuyên sâu về làng nghề
Đồng Xâm với quá trình hình thành, cơ cấu dân cư, kiến trúc, sinh hoạt văn
hóa dân gian, phong tục tập quán, những quy trình, bí quyết nghề và đặc biệt
đưa ra thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trong thời gian tới. Đây là
một trong những công trình có giá trị tham khảo cao, cần thiết giúp cho đề tài
của luận án sáng rõ một số luận điểm khi tiến hành nghiên cứu trên thực địa
25
tại làng Đồng Xâm [74]. Trong những năm gần đây có một số bài viết trên
báo Thái Bình cũng đề cập đến việc phát triển làng nghề chạm bạc Đồng Xâm
như thế nào, chỉ ra được những bất cập trong việc phát triển kinh tế làng nghề:
Phát triển công nghiệp thủ công nghiệp làng nghề của tác giả Ngọc
Trâm (Báo Thái Bình tháng 12/2006), Nghề và làng nghề, cơ hội và thách
thức mới của tác giả Hoàng Duy (Báo Xuân Thái Bình năm 2007).
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về 3 làng nghề Sơn Đồng, Đồng
Xâm và Bát Tràng cho đến thời điểm hiện tại khá phong phú, tập trung chủ
nhân tố tác động từ bên ngoài). Theo Từ điển Tiếng Việt, biến đổi có nghĩa là
sự đổi khác [96, tr.95]. Trong xã hội học, thuật ngữ biến đổi được gắn liền với
sự biến đổi của các lĩnh vực như: biến đổi xã hội, biến đổi công nghệ... Biến
đổi xã hội (social change) đã được định nghĩa là sự thay đổi đáng kể trong cấu
trúc hành vi văn hoá. Như vậy, quá trình biến đổi một hiện tượng xã hội diễn
ra như thế nào, xu hướng biến đổi, biến đổi nào trong chuỗi cấu trúc là nguyên
nhân chính dẫn đến sự thay đổi của một hay nhiều thành tố? Đây chính là
những câu hỏi quan trọng trong nghiên cứu của ngành khoa học xã hội và
nhân văn hiện nay.
Có rất nhiều quan điểm lý thuyết liên quan đến vấn đề biến đổi xã hội
như: Thuyết tiến hoá, thuyết duy chức năng, thuyết duy xung đột...
Những học giả theo thuyết tiến hóa quan niệm rằng: xã hội đã tiến bộ từ
những dạng tổ chức xã hội đơn giản đến phức tạp. Theo thuyết tiến hóa đơn
tuyến tính (unilinear evolutionary theory) của August Comte và émile
Durkheim: xã hội sẽ trải qua những giai đoạn kế tiếp nhau và tất yếu là đi đến
cùng đích như nhau còn thuyết tiến hóa đa tuyến tính (multilinear
evolutionary theory) của Gerhard Lenski thì coi biến đổi xã hội có thể xảy ra
theo nhiều cách và không nhất thiết cứ phải dẫn đến cùng một hướng [93].
Thuyết duy chức năng coi xã hội luôn có khuynh hướng tiến đến một
trạng thái ổn định và quân bình. Khi có những thay đổi diễn ra ở một phần của
27
xã hội, phải có những điều chỉnh trong các phần khác. Nếu chuyện này không
xảy ra, sự cân bằng của xã hội sẽ bị đe dọa và các căng thẳng xã hội sẽ xảy ra.
Học giả Parsons người chủ xướng hàng đầu cho thuyết duy chức năng cho
rằng có bốn tiến trình biến đổi xã hội:
- Vi phân (differentiation): tính phức tạp ngày càng tăng của tổ chức xã
hội.
- Sự nâng cấp thích nghi (adaptive upgrading): các định chế xã hội sẽ
Malinowski), công trình này còn nhắc đến tác giả Louise S.Spindler với
quan điểm nghiên cứu biến đổi văn hóa ở ba cấp độ phân tích (văn hóa, xã
hội, cá nhân) trong quá trình biến đổi đa dạng, trong đó quan tâm đến những
tác nhân gây ra sự biến đổi nhìn từ trong và ngoài hệ thống Tính biến đổi
song hành cùng với tính bền bỉ của văn hóa [15, tr.19].
Trong công trình Hiện đại hoá, biến đổi văn hoá và duy trì giá trị
truyền thống của hai tác giả Ronald Inglehart và Wayne E.Baker [Đại học
Michigan, Mỹ], (Bản dịch Bùi Lưu Phi Khanh, 2000, Viện Văn hoá Nghệ
thuật Việt Nam) đã phân tích những quan điểm lý thuyết về hiện đại hoá của
các học giả đương thời, đồng thời đưa ra luận điểm về sự biến đổi văn hoá xã
hội như sau:
+ Hiện đại hoá (biến đổi văn hoá) không diễn ra theo một đường thẳng.
+ Việc chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp làm
giảm tầm quan trọng của các tôn giáo, nhưng điều này lại được làm cân bằng
bởi sự tăng lên của ý nghĩa và mục đích cuộc sống. Tuy nhiên, niềm tin tôn
giáo vẫn được duy trì, những vấn đề về tinh thần được xác định rõ ràng.
+ Biến đổi văn hoá dường như là độc lập.
+ Biến đổi kinh tế có xu hướng biến đổi xã hội theo một hướng có thể
dự đoán được, nhưng điều này không phải là tất yếu, bởi còn có nhiều yếu tố
khác liên hệ với nó và phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định [6].
Các học giả Trung Quốc và Nhật Bản cho rằng biến đổi văn hóa là một
vấn đề mang tính toàn cầu với nhiều cấp độ rộng hẹp khác nhau: có tác giả chỉ
ra những vấn đề cơ bản giữa nông thôn - đô thị, ý nghĩa sự chuyển đổi, tương
lai của cộng đồng làng (Joel M.Halpern), có tác giả lại nhận thức làng là một
cấu trúc xã hội đặc thù và nghiên cứu nhiều chiều cạnh của sự biến đổi như
29
cuộc sống cá nhân và gia đình, cấu trúc và phân tầng xã hội, chức năng của
làng, niềm tin, tôn giáo, tín ngưỡng của dân làng, những định hướng giá trị