BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM
ĐỀ TÀI:
HÃY TÌM HIỂU VÀ GIỚI THIỆU VỀ BHXH, NÊU THỰC TRẠNG
BHXH TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2012
GVHD : LÊ ĐỨC THIỆN
SVTTH : NHÓM 01
LỚP : DHKT5LTTH
THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2013
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
DANH SÁCH NHÓM 01
HỌ VÀ TÊN MSSV GHI CHÚ
Lê Thị Dung 11034543
Vũ Thị Hiền 11034683
Đinh Thị Hiên 11030893
Trần Thị Huệ 11030933
Mai Thị Hường 11030903 Tổ Phó
Nguyễn Thị Năm 11030973
Lê Thị Ngọc 11035513 Tổ Trưởng
Lê Thị Thu Nương 11030913
Trần Thị Hoài Phương 11027573
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
lại cơm no, áo mặc, hạnh phúc cho nhân dân đặc biệt là
người lao động làm nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ đổi
mới. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào sự cống
hiến đông đảo của người lao động. Họ xứng đáng được hưởng một cuộc sống ổn
định, đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính
sách thể hiện sự quan tâm tới đời sống của người lao động trong đó có chính
sách bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội là một hợp phần quan trọng nhất trong hệ
thống an sinh xã hội của quốc gia. Bởi bảo hiểm xã hội hoạt động dựa trên
nguyên tắc “có thu có chi” nên đóng vai trò như là một chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước. Nó góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người lao
động trong trường hợp: ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết do tai nạn, bệnh
nghề nghiệp, rủi ro và khó khăn khác. Mặt khác, bảo hiểm xã hội cũng là một
chính sách tài chính nhằm huy động sự đóng góp của người lao động đang làm
việc để hình thành một quỹ tài chính tập trung được bảo hiểm xã hội toàn và
tăng trưởng để thực hiện các chính sách đối với người lao động. Với mục đích
tìm hiểu và nâng cao kiến thức về một chính sách lớn có vai trò quan trọng trong
hệ thống an sinh xã hội của nước ta nên nhóm chúng em chọn đề tài: “Hãy tìm
hiểu và giới thiệu về BHXH, nêu thực trạng BHXH tại Việt Nam giai đoạn
2010 - 2012”. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham
khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Nhóm chúng em rất mong
các thầy cô đóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần
viết sau có điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:6
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Cuối cùng nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Đức
Thiện đã tận tình giúp đỡ chúng em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời
em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng
dạy để có thể hoàn thành bài viết này.
Đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Giới thiệu
thốn nên chưa đầy đủ chỉ đảm bảo được mức sống tối thiểu cho công nhân viên
chức Nhà nước. Mức hưởng mang tính bình quân, đồng cam cộng khổ, chưa có
tính lâu dài. Các khoản chi còn lẫn lộn với tiền lương, chính sách BHXH chưa có
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:8
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
quỹ riêng để thực hiện. Tuy nhiên, chính sách BHXH có ý nghĩa giải quyết khó
khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc mất sức lao động.
1.2. Giai đoạn từ năm 1961 đến 1994
Trong giai đoạn này kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đòi hỏi số đông lực lượng
lao động. Vì vậy, ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời theo
nghị định số 218/Chính phủ về các chế độ BHXH cho công nhân viên chức nhà
nước. Đối tượng tham gia BHXH là công nhân viên chức lực lượng vũ trang. Đã
hình thành nguồn để chi trả các chế độ BHXH trong ngân sách nhà nước trên cơ
sở đóng góp của xí nghiệp (4,7% so với tổng quỹ lương) và nhà nước cấp. Áp
dụng 6 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức. Ngày
18/9/1985 Hội đồng bộ trưởng ban hành nghị định 236/HĐBT về việc bổ xung,
sửa đổi chế độ BHXH.
Như vậy qua hơn 35 năm thực hiện hnàg triệu người đã được hưởng lương
hưu và trợ cấp BHXH, nên đã có tác dụng làm cho đội ngũ công nhân viên chức
gắn bó với cách mạng với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong lao động sản xuất xây dựng đất
nước. Chính sách BHXH này đã đảm bảo điều kiện thiết yếu về vật chất và tinh
thần cho người lao động trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được góp
phần đảm bảo an toàn xã hội. Tuy nhiên, các chính sách BHXH đã ban hành
cũng bộc lộ một số mặt tồn tại như: phạm vi đối tượng tham gia BHXH chỉ giới
hạn chưa thể hiện rõ sự công bằng đối với người lao động làm việc trong và
ngoài khu vực nhà nước, quyền lợi trách nhiệm các bên tham gia chưa được
thiết lập đầy đủ
1.3. Giai đoạn từ năm 1995 đến nay
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam. Trong đó
khẳng định BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức
năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT (gọi chung là BHXH) và quản
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:10
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
lí Quỹ BHXH theo quy định của pháp luật. Đến tháng 1/2010 Thủ tướng Chính
phủ tiếp tục ra Quyết định số 02/2010/QĐ- TTg ban hành về quy chế quản lí tài
chính đối với BHXH Việt Nam. Kèm theo đó là Quy chế quản lí tài chính đối
với BHXH Việt Nam bao gồm những quy định chung áp dụng trong quản lí tài
chính.
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:11
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 2 :BẢO HIỂM XÃ HỘI (BHXH)
2.1. LÝ THUYẾT
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước
góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự
nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc
Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng
trong chính sách kinh tế và xã hội của Nhà nước, là
những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã
hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn đề kích
thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ. Trong mỗi giai đoạn phát triển khinh tế
khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với
mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn.
2.1.1. Khái niệm về BHXH
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập
cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên
cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo
nghiệp hoặc tuổi già làm mất, giảm khả năng lao động, từ đó giúp ổn định cuộc
sống của bản thân người lao động và gia đình họ. BHXH hiện nay được coi là
một chính sách xã hội lớn của mỗi quốc gia, được nhà nước quan tâm và quản lí
chặt chẽ. BHXH xét về bản chất bao gồm những nội dung sau đây:
- BHXH là sự cần thiết tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế. Đặc biệt đối với nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị
trường, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày càng
phát triển. Do vậy trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến sự đa dạng
và tính hoàn thiện của BHXH. Vì vậy có thể nói kinh tế là yếu tố quan trọng
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:13
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
quyết định tới hệ thống BHXH của mỗi nước.
- BHXH, bên tham gia BHXH, bên được BHXH là ba chủ thể trong mối
quan hệ của BHXH. Bên tham gia BHXH gồm người lao động và người sử dụng
lao động (bên đóng góp), bên BHXH là bên nhận nhiệm vụ BHXH, thông
thường thì do cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ, bên được
BHXH chính là người lao động và gia đình họ khi có đủ điều kiện cần thiết. Từ
đó họ được đảm bảo những nhu cầu thiết yếu, giúp họ ổn định cuộc sống, góp
phần ổn đình xã hội.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của người lao động
có thể là những rủi ro ngẫu nhiên( tai nạn, ốm đau, bệnh nghề nghiệp ), cũng có
thể là các rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên( tuổi già, thai sản, ). Đồng thời
các biến cố này có thể xảy ra trong quá trình lao động hoặc ngoài lao động. Phần
thu nhập của người lao động bị giảm hay mất đi từ các rủi ro trên sẽ được thay
thế hoặc bù đắp từ nguồn quỹ tập trung được tồn tích lại do bên tham gia BHXH
đóng góp và có thêm sự hỗ trợ của NSNN.
2.1.3.2. Chức năng của BHXH.
- Chức năng cơ bản nhất của BHXH là thay thế, bù đắp phần thu nhập của
người lao động khi họ gặp những rủi ro làm mất thu nhập do mất khả năng lao
động hay mất việc làm. Rủi ro này có thể làm mất khả năng lao động tam thời
của người đang làm việc bù đắp cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH. Đây là
nguyên tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ góp chung của số đông
bù cho số ít là những người thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong cuộc
sống, trong lao động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà nước là
việc rủi ro trong BHXH không chỉ là những rủi ro thuần tuý như trong bảo hiểm
thương mại mà còn có cả những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên như: tuổi
già, thai sản,
- Thứ hai là mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH,
nhưng phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người hưởng khoản trợ cấp
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:15
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
đó. Việc quy định trên là hoàn toàn hợp lí và cũng là quy định chung cho tất cả
các nước, song thấp bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã
hội của mỗi nước trong mỗi thời kì khác nhau.
- Thứ ba là phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong
chính sách BHXH của các nước. Nếu chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân sách
Nhà nước (NSNN) giống như giai đoạn trước cải cách năm 1995 của nước ta thì
đây thực sự là một gánh nặng lớn của đất nước. Việc thành lập quỹ BHXH do
các bên tham gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nước là hoàn toàn
phù hợp. Quỹ này có thể quản lí theo các cách thức khác nhau song độc lập với
NSNN , NSNN chỉ bù thiếu hoặc tài trợ một phần tuỳ thuộc vào quy định của
mỗi nước khác nhau.
2.1.5. Các chế độ của BHXH.
Đối với mỗi nước có những hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau
nên BHXH được tổ chức thực hiện theo những quy định riêng khác nhau.
BHXH được xây dựng dựa vào các nguyên tắc trên một cách thống nhất trên
toàn thế giới và phải tuân thủ các quy định sau của tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) về hệ thống chính sách BHXH. Trong Công ước 102 được ILO thông qua
ngày 4/6/1952 có quy định những quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội đã đưa
ra 9 chế độ sau:
tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
+ Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kì để phản ánh hết
sự thay đổi của điều kiện kinh tế -xã hội.
2.1.6.Phân loại BHXH
Được chia thành 3 loại
2.1.6.1. BHXH bắt buộc
Đối tượng tham gia:
Người lao động là công dân Việt Nam, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên
chức theo quy định về cán bộ, công chức; công nhân quốc phòng, công an nhân
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:17
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
dân; sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan
nghiệp vụ, sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân và hạ sỹ
quan, chiến sỹ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; người làm việc có thời
hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm bắt buộc; người lao động làm
việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên hoặc hợp đồng không xác
định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động, làm việc trong các cơ
quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị , tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan tổ chức nước
ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác
xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử
dụng và trả công cho người lao động
Mức đóng BHXH:
- Đối với người lao động: Mức đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng của
người lao động tính trên mức tiền lương, tiền công tháng với tỷ lệ như sau:
+ Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 bằng 6%
+ Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 bằng 7%;
Đối với người sử dụng lao động: Mức đóng BHXH hàng tháng của người
sử dụng lao động tính trên tổng quỹ lương tiền công tháng với tỷ lệ như sau:
+ Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 bằng 16%
độ bảo hiểm xã hội; thực hiện cấp sổ bảo hiểm xã hội, thu bảo hiểm xã hội, giải
quyết các chế độ bảo hiểm xã hội và chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;
quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định và giải quyết khiếu nại, tố
cáo về bảo hiểm xã hội.
Quyền lợi hưởng bảo hiểm xã hội.
Người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng quyền lợi theo các
chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử
tuất (người lao động thuộc lực lượng vũ trang có quy định riêng). Các chế độ cụ
thể:
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:19
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
a. Chế độ ốm đau:
Điều kiện hưởng:
Người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội được hưởng trợ cấp ốm đau
khi:
- Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế (trừ
trường hợp tự hủy hoại sức khỏe do say ruợu hoặc sử dụng ma túy, chất gây
nghiện khác);
- Có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc và có xác nhận
của cơ sở y tế.
Quyền lợi được hưởng:
Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau: Người lao động được hưởng
trợ cấp ốm đau do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả cho thời gian nghỉ (không kể
ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần) như sau:
- Làm việc trong điều kiện bình thường thì được nghỉ tối đa 30 ngày một
năm nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày một năm nếu đã đóng
bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 60 ngày một năm nếu đã đóng
bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên.
- Làm công việc nặng nhọc, độc hại, hoặc làm việc ở nơi có hệ số phụ cấp
khu vực 0,7 trở lên thì được nghỉ tối đa 40 ngày một năm nếu đã đóng bảo hiểm
ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại gia đình và bằng 40%
mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại cơ sở tập trung.
b. Chế độ thai sản:
Điều kiện hưởng:
Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường
hợp sau:
- Lao động nữ mang thai;
- Lao động nữ sinh con;
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:21
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
- Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi;
- Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.
Đối với lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4
tháng tuổi phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong
thời gian 12 tháng trước
khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Quyền lợi được hưởng:
Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản: Người lao động được nghỉ
việc hưởng trợ cấp thai sản do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả cho thời gian nghỉ (kể
cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần) như sau:
- Sinh con được nghỉ 4 tháng nếu làm việc ở điều kiện bình thường; 5 tháng
nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm kể cả lao động làm
nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm việc theo chế
độ 3 ca, làm việc từ đủ 6 tháng trở lên ở nơi có phụ cấp khu vực 0,7 trở lên trong
thời gian 12 hai tháng trước khi sinh con; 6 tháng đối với lao động nữ là người
tàn tật. Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ nêu trên thì tính từ con
thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm 30 ngày;
- Sau khi sinh, nếu con dưới 60 ngày tuổi chết thì mẹ được nghỉ việc 90
ngày kể từ ngày sinh con; nếu con từ 60 ngày tuổi trở lên chết thì mẹ được nghỉ
30 ngày kể từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản
chế độ do sinh con, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu mà sức khỏe còn yếu thì
được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 đến 10 ngày một năm tùy thuộc
vào tình trạng sức khỏe;mức hưởng cho một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu
chung nếu nghỉ tại gia đình và bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại
cơ sở tập trung.
- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo
hiểm xã hội, thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải
đóng bảo hiểm xã hội.
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:23
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
c. Chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp:
Điều kiện hưởng:
Chế độ tai nạn lao động: Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội bị tai
nạn lao động trong các trường hợp dưới đây dẫn đến suy giảm khả năng lao
động từ 5% trở lên thì được hưởng trợ cấp tai nạn lao động do quỹ bảo hiểm xã
hội chi trả:
- Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;
- Bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công
việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
- Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong
khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
Chế độ bệnh nghề nghiệp: Người lao động được hưởng trợ cấp bệnh nghề
nghiệp do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả khi bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề
nghiệp do làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại dẫn đến suy
giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.
Quyền lợi được hưởng:
Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau thời gian điều trị
ổn định thương tật, bệnh tật được giám định mức suy giảm khả năng lao động để
làm căn cứ xác định mức trợ cấp được hưởng, cụ thể như sau:
Trợ cấp một lần: Áp dụng cho người lao động bị suy giảm khả năng lao
- Người lao động hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng
tháng được hưởng các quyền lợi sau:
+ Nếu không còn làm việc thì được cấp thẻ bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm
xã hội đảm bảo;
+ Nếu tiếp tục làm việc và tham gia đóng bảo hiểm xã hội, ngoài hưởng trợ
cấp tai nạn lao động hàng tháng theo quy định, khi đủ điều kiện hưởng chế độ
hưu trí thì được hưởng đồng thời cả lương hưu.
- Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật do tai nạn lao
GV: Lê Đúc Thiện SVTH: Nhóm 1- Lớp DHKT5LT Trang:25