HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
BÁO CÁO KIẾN TẬP SƯ PHẠM
Địa điểm kiến tập: Trường Chính Trị Tỉnh Bắc Giang
Thời gian kiến tập: Từ 27/12/2010 đến 14/01/2011
Sinh viên thực hiện: TÔ VĂN ĐỨC
Lớp : CNXHKH K28
Bắc Giang, tháng 01 năm 2011
1
MỞ ĐẦU
Bắc Giang là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, giáp với
nhiều tỉnh thành, phía Bắc giáp Lạng Sơn, phía đông giáp Quảng Ninh, phía tây
giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương. Tỉnh lỵ:
thành phố Bắc Giang, cách thủ đô Hà Nội 51 km.
Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự
nhiên của Việt Nam. Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của
Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm
28,9%; còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác.
Uớc điều tra dân số 01/04/2009, dân số Bắc Giang có 1.555.720 người,
với mật độ dân số 407 người/km², gấp 1,7 lần mật độ dân số bình quân của cả
nước. Trên địa bàn Bắc Giang có 26 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất
là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm
4,5%; người Tày 2,6%; người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%;
người Hoa 1,2%; người Dao 0,5%.
Danh nhân:Thánh Hùng Linh Công, Đoàn Xuân Lôi, Trịnh Ngô
Dụng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Đình Tuân, Nguyễn Khắc Nhu, Cô Giang
tức Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc tức Nguyễn Thị Bắc, Thân Nhân Trung.
• Du lịch: Chùa Bổ Đà, Làng nghề Thổ Hà, ATK2 - An toàn
khu dự bị của Trung ương và Xứ ủy Bắc kỳ, Bảo tàng Hoàng Hoa Thám
Chính trị tỉnh Bắc Giang đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để hoàn thành
nhiệm vụ, vươn lên và ngày càng phát triển.
1. Chức năng của trường Chính trị tỉnh Bắc Giang
Theo quyết định 184 của Ban Bí thư trung ương, trường Chính trị tỉnh
Bắc Giang là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy, ủy ban nhân dân, đặt
dưới sự lãnh đạo trực tiếp thường xuyên của Ban thường vụ tỉnh ủy. Về chuyên
môn, trường chịu sự chỉ đạo của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia.
Trường có chức năng đào tạo cán bộ, công chức địa phương về chuyên môn,
nghiệp vụ, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn
3
thể… Chức năng của trường được thay đổi để phù hợp với từng thời kì lịch sử
của đất nước.
Trường có chức năng sau: “Giúp ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức huấn
luyện, bồi dưỡng cho các ủy viên ủy ban nhân dân xã, thị trấn và các ủy viên
ban đại diện hành chính tiểu khu; huấn luyện cho các cán bộ làm công tác văn
phòng của ủy ban nhân dân xã, thị trấn và cán bộ các tiểu ban chuyên môn của
ban đại diện hành chính tiểu khu; giúp ủy ban nhân dân các huyện, thành phố
trong việc biên soạn tài liệu, bồi dưỡng báo cáo viên, đồng thời hướng dẫn về
nội dung phương pháp để ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và thị trấn tự tổ
chức bồi dưỡng cho đại biểu ủy ban nhân dân huyện, xã, thị trấn…”
Chức năng của nhà trường là bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ chốt của
Đảng ở cơ sở, bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật
và nghiệp vụ công tác đoàn thể quần chúng để nâng cao năng lực công tác cho
cán bộ làm công tác Đảng, cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ đoàn thể quần
chúng; bồi dưỡng cho giảng viên ở các trung tâm giáo dục lý luận ở các huyện
và thị xã, thành phố trong tỉnh”.
Qua 60 năm xây dựng và phát triển, trường Chính trị tỉnh Bắc Giang đã
vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt chức năng bồi dưỡng cán bộ,
đảng viên của mình.
2. Nhiệm vụ của trường Chính trị tỉnh Bắc Giang
thành nhiệm vụ của Đảng giao phó, hàng năm trường nhận được nhiều danh
hiệu thi đua của tỉnh ủy, của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia.
3. Hoạt động chung của trường Chính trị tỉnh Bắc Giang
a. Tổ chức bộ máy của nhà trường
5
Qua năm xây dựng và phát triển, tổ chức bộ máy của nhà trường có nhiều
biến động. Năm 2010, trường có 50 cán bộ, công nhân viên chức, trong đó có
24 nam và 26 nữ.
• Ban giám hiệu của trường gồm 3 đồng chí:
Hiệu trưởng: Nguyễn Minh Chiến
Phó Hiệu trưởng: Đỗ Thị Minh
Phó Hiệu trưởng: Thân Văn Hà
• Cơ cấu chuyên môn của trường bao gồm 4 khoa:
- Khoa Nhà nước – pháp luật;
- Khoa Dân vận;
- Khoa Lý Luận cơ sở
- Khoa Xây dựng Đảng – Lịch sử Đảng
• Về cơ cấu tổ chức gồm 3 phòng:
- Phòng tổ chức - Hành chính
- Phòng Đào tạo
- Phòng Khoa học - Thông Tin - tư liệu
Lực lượng giảng viên của trường có 32 đồng chí, trong đó có 12 giảng
viên chính. Về tổ chức Đảng, trường có 46 đảng viên. Về tổ chức đoàn thể,
trường có công đoàn gồm 51 hội viên, đoàn thanh niên gồm 19 đoàn viên, hội
cựu chiến binh gồm 13 hội viên, hội khuyến học gồm 51 hội viên…
Về cơ sở vật chất, hiện nay trường có 1 giảng đường lớn (200 chỗ) và 6
giảng đường nhỏ (50 – 90 chỗ). Trường đang có những hoạt động xây dựng và
đầu tư thêm về cơ sở vật chất như xây dựng thêm giảng đường, phòng làm việc
cho các phòng ban, trang bị các thiết bị giảng dạy hiện đại…
6
cùng mở ra như nan quạt, rộng ở hướng Đông Bắc, chụm ở phía Tây Nam (tại
vùng trung tâm tỉnh), là: cánh cung Đông Triều và cánh cung Bắc Sơn, phần
giữa phía Đông tỉnh có địa hình đồi núi thấp là thung lũng giữa hai dãy núi này.
Phía Đông và Đông Nam tỉnh là cánh cung Đông Triều với ngọn núi Yên Tử
nổi tiếng, cao trung bình 300-900 m so với mặt biển, trong đó đỉnh cao nhất là
1.068 m; phía Tây Bắc là dãy núi cánh cung Bắc Sơn ăn lan vào tới huyện Yên
Thế, cao trung bình 300-500 m, chủ yếu là những đồi đất tròn trĩnh và thoải dần
về phía đông nam. Tại vùng núi phía đông bắc tỉnh, giáp với Quảng Ninh có
khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ rộng 7153 ha với hệ động vật và thực vật phong
phú, bao gồm 236 loài cây thân gỗ, 255 loài cây dược liệu, 37 loài thú, 73 loài
chim và 18 loài bò sát. Trên địa bàn Bắc Giang có 374 km sông suối, trong đó
ba sông lớn là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu. Sông Lục Nam chảy
qua vùng núi đá vôi nên quanh năm nước trong xanh. Sông Thương bắt nguồn
từ hai vùng có địa hình và địa chất khác nhau nên nước chảy đôi dòng: bên đục,
bên trong.
2. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang
a. Tình hình xã hội
Về dân cư – lao động, Bắc Giang có 66,1% số người trong độ tuổi lao
động, trong đó lao động nông nghiệp chiếm gần 80%. với mật độ dân số 407
người/km², gấp 1,7 lần mật độ dân số bình quân của cả nước.
Về dân tộc, Bắc Giang có 7 dân tộc sinh sống ổn định, lâu đời: Kinh, Tày,
Nùng, Dao, Sán Dìu, Hoa. Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán khác nhau nhưng
đều sống gắn bó, đoàn kết.
Về tôn giáo, ở Bắc Giang có Công giáo và Phật giáo. Trong đó, việc thờ
tự của Phật giáo còn mang tính tự phát, nhiều chùa do các tín đồi tự quản. Còn
giáo dân chủ yếu là các đồng bào miền xuôi di cư tới. Mặc dù vậy, các tín đồ
vẫn sống hòa hợp, thống nhất trong khối đại đoàn kết dân tộc.
8
• Về văn hóa, Bắc Giang có nền văn hóa nhiều dân tộc. Vì Bắc
Giang nằm của khu vực miền núi phía Bắc, nên Bắc Giang là điểm hội tụ
Thêm vào đó, Bắc Giang có nguồn nhân lực dồi dào, lao động trong độ tuổi
chiếm 65% dân số, trình độ dân trí đang được nâng lên đáng kể. Trong công
cuộc đổi mới, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là những thuận lợi
để Bắc Giang phát triển về kinh tế.
Về khó khăn và hạn chế, thách thức lớn nhất của Bắc Giang là nền kinh tế
còn ở trình độ thấp, chậm phát triển, thu ngân sách chưa đủ chi, kinh tế phát
triển không đều và chưa vững chắc, thiếu vốn đầu tư, công nghệ và thiết bị sản
xuất còn lạc hậu.
Ở Bắc Giang, lực lượng lao động có trình độ cao phân bố không đều,
phần lớn tập trung ở thành phố, thị xã. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân
còn mang nặng nếp nghĩ, cách làm của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp và
tập quán lạc hậu, chưa theo kịp những đòi hỏi của thời kỳ đổi mới.
Thêm vào đó, môi trường pháp lý vừa thiếu chặt chẽ, vừa thực hiện chưa
nghiêm minh, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, tạo kẽ hở làm sa sút phẩm chất
một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Với những thuận lợi và khó khăn trên, những năm qua nền kinh tế Bắc
Giang đã có tốc độ phát triển khá nhanh. đã thoát khỏi tình trạng trì trệ và đã có
bước phát triển khá. Hoạt động thương mại với sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế, đảm bảo cung ứng hàng hóa phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư phát triển. Với trên
40 chính sách thu hút đầu tư của tỉnh, bình quân mỗi năm Bắc Giang đã huy
động trên 1000 tỷ đồng cho đầu tư phát triển. Tỉnh đã chuyển hơn 100 ha đất
nông nghiệp thành đất công nghiệp, xây dựng mới một khu công nghiệp tập
trung và hình thành các cụm công nghiệp nhỏ. Hệ thống giao thông tiếp tục
được đầu tư phát triển ở Bắc Giang. Kết cấu hạ tầng phục vụ cho thương mại
được củng cố, toàn tỉnh đã xây dựng được 46 chợ và 11 trung tâm cụm xã…
10
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế Bắc Giang vẫn còn
thực tiễn.
- Tên bài giảng: Phép Biện Chứng Duy Vật
- Nội dung bài giảng:
I. Hai nguyên lí của phép biện chứng duy vật
1. Một vài vấn đề chung của phép biện chứng
2. Hai nguyên lí của phép biện chứng
II. Một số cặp phạm trù nhỏ của phép biện chứng duy vật
1. Cái chung và cái riêng
2. Nguyên nhân và kết quả
3. Tất nhiên và ngẫu nhiên
4. Bản chất và hiện tượng
5. Nội dung và hình thức
6. Hiện thực và khả năng
12
Buổi 2 (Chiều tiếp buổi sáng 29/12/2010):
III. Những quy luật của phép biện chứng duy vật
1. Quy luật lượng chất
2. Quy luật mâu thuẫn
3. Quy luật phủ định của phủ định
• Buổi 3 (sáng 30/12/2010): Bộ môn Triết.
- Giảng viên: Nguyễn Thị Dung
- Tại lớp: Trung cấp lí luận chính trị hành chính khóa 2010 - 2012
- Địa điểm: Huyện Hiệp Hòa
- Đối tượng học viên: Cán bộ, công chức xã, phường, giáo viên…
- Phương pháp giảng: khoa học: có sử dụng phần mềm hỗ trợ giảng
dạy trình chiếu slides, kết hợp hỏi đáp. Nhiều hình ảnh thực tiễn mang lại sự lí
thú cho người học.
- Tên bài giảng: Lý luận nhận thức
- Nội dung bài giảng:
I. Những nguyên lí cơ bản của lí luận nhận thức
1. Những ưu thế trong phát triển lực lượng sản xuất do bùng nổ cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ
2. Sự thích ứng của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trước sự bùng
nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ
3. Những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện nay
14
• Buổi 5 (Chiều,10/01/2011): bộ môn kinh tế chính trị
- Giảng viên: Nguyễn Thị Huệ
- Tại lớp: k24 tập trung
- Địa điểm: Hội trường H6
- Đối tượng học viên: Cán bộ, công chức xã, phường…
- Phương pháp giảng: diễn giảng, hỏi đáp, thảo luận…
- Tên bài giảng:
Chuyên đề 5: Đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH
I. Quan điểm của Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ
quá độ lên CNXH
1. Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
2. Dự báo về khả năng quá độ lên CNXH không qua chế độ TBCN
3. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH
ở Việt Nam
II. Tính tất yếu khách quan và thực chất của quá độ lên CNXH, bỏ qua
chế độ TBCN ở Việt Nam
1. Tính tất yếu khách quan và những điều kiện trong nước và quốc tế
để quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam
2. Thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN
III. Ý nghĩa của thời kỳ quá độ lên CNXH
• Buổi 6 (Sáng, 11/01/2011): Bộ môn kinh tế chính trị
- Giảng viên : Lê Chí Trung
- Tại lớp: k24 tập trung
15
Trong thời gian kiến tập tại trường chính trị tỉnh Thái Nguyên, tìm hiểu
về tình hình thực tế của trường và địa phương, em xin có một số ý kiến sau:
- Trường cần tăng cường đội ngũ giảng viên, củng cố kiến thức
chuyên môn, tiếp cận, làm quen với các phương pháp giảng dạy mới cho đội
ngũ cán bộ, giảng viên để hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ đào tạo, trang bị lý
luận chính trị cho cán bộ, đảng viên của địa phương.
- Trường cần có kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết
bị cho việc dạy và học, tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên và học viên được
tiếp cận với khoa học – công nghệ, giúp cho chất lượng học viên được đào tạo
tốt hơn.
- Trường cần mở rộng hơn nữa trung tâm thông tin – thư viện để đáp
ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu của học viên, giảng viên.
2. Đối với Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Sau thời gian kiến tập, em thấy rằng bản thân còn thiếu về kỹ năng giảng
dạy, do đó em xin đề xuất đối với Học viện cần trang bị cho sinh viên kiến thức
về lý luận dạy học để sinh viên có thể thực hiện hiệu quả hơn việc kiến tập của
mình.
Thêm vào đó, Học viện cần tổ chức cho sinh viên những buổi đi thực tế
về các tỉnh, địa phương để nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên bằng sự va
chạm thực tế.
17
KẾT LUẬN
Sau ba tuần kiến tập tại trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, với sự cố
gắng của bản thân và đặc biệt là sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáo,
bản thân em được trang bị thêm những kiến thức bổ ích làm cơ sở cho việc
thực tập cuối khóa cũng như công việc sau khi tốt nghiệp ra trường.
18
Em đã nhận thức được rằng: Đối với một giảng viên, ngoài việc nắm bắt
nội dung kiến thức cần truyền thụ thì phải không ngừng trau dồi những phương
pháp giảng dạy, bố cục trình bày, tác phong, thậm chí cả hình thức của một