Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VŨ MINH ĐỨC
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ
LOẠI VI KHUẨN TRONG BỆNH VIÊM TỬ CUNG
Ở LỢN NÁI NGOẠI SINH SẢN NUÔI TẠI THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. LƯU THỊ KIM THANH
2. TS. PHẠM ĐỨC CHƯƠNG THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc. Tác giả
Vũ Minh Đức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn cái 4
1.1.1. Buồng trứng (Ovarium) 4
1.1.2. Ống dẫn trứng (Oviductus) 5
1.1.3. Tử cung (Uterus) 5
1.1.4. Âm đạo (Vagina) 6
1.1.5. Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis) 7
1.1.6. Âm vật (Clitoris) 7
1.1.7. Âm hộ (Vulva) 7
1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái 7
1.2.1. Sự thành thục về tính 7
1.2.2. Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp 8
1.2.3. Sinh lý đẻ 11
1.3. Sơ lược về Bệnh viêm tử cung (Metritis) 14
1.3.1. Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung 14
1.3.2. Hậu quả của bệnh viêm tử cung 16
1.3.3. Các thể viêm tử cung 17
1.3.4. Chẩn đoán viêm tử cung 19
1.3.5. Phòng và điều trị bệnh viêm tử cung 20
sản của lợn nái 41
2.4.6. Khảo nghiệm mối quan hệ giữa tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử
cung và tỷ lệ lợn con phân trắng 41
2.4.7. Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh 41
2.5. Phương pháp nghiên cứu 41
2.5.1. Phương pháp điều tra số lợn, mắc bệnh viêm đường sinh dục tại
các trang trại chăn nuôi lợn ngoại tập trung tại TP Thái Nguyên. 41
2.5.2. Phương pháp lấy mẫu 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn v
2.5.3. Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn 42
2.5.4. Phương pháp làm kháng sinh đồ và xác định tính mẫn cảm với
một số loại kháng sinh của các loại vi khuẩn 42
2.5.5. Phương pháp xử lý số liệu 43
2.6. Bố trí thí nghiệm 44
2.6.1. Thí nghiệm xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các vi
khuẩn phân lập được 44
2.6.2. Thí nghiệm ứng dụng điều trị bệnh viêm tử cung lợn nái theo
các phác đồ điều trị 45
2.6.3. Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến
năng suất sinh sản của lợn nái 45
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1. Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại được nuôi ở một số
trang trại tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến
năm 2010 46
3.1.1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại tại một số trại
chăn nuôi lợn tập trung của thành phố Thái Nguyên trong 3
viêm tử cung 69
3.5. Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái
mắc bệnh viêm tử cung 71
3.6. Kết quả theo dõi ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất
sinh sản của lợn nái 72
3.7. Kết quả khảo nghiệm mối quan hệ giữa tỷ lệ lợn nái mắc bệnh
viêm tử cung và tỷ lệ lợn con phân trắng 74
3.8. Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh 76
Chƣơng 4 . KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
4.1. Kết luận 80
4.2. Đề nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CS: Cộng sự
M.M.A: Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa
KS: Kháng sinh
TBVK: Tế bào vi khuẩn
VK: Vi khuẩn
VTC: Viêm tử cung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Cơ chế điều khiển quá trình sinh đẻ 13
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tính mẫn cảm kháng sinh 44
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại được nuôi
tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 47
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của lợn nái theo tuổi sinh sản 49
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo mùa vụ 52
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ các loại vi khuẩn có trong chất tiết đường sinh dục
của lợn không bị bệnh 53
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ các loại vi khuẩn có trong dịch rỉ viêm tử cung của
lợn nái bị mắc bệnh 55
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus 59
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Salmonella 62
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E.coli 64
Hình 3.9. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus 66
Hình 3.10. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas 68
Hình 3.11. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của tập đoàn vi khuẩn gây
bệnh viêm tử cung ở lợn nái 70
Hình 3.12. Biểu đồ tỷ lệ lợn con của lợn nái khỏe và nái mắc bệnh viêm tử
cung bị bệnh lợn con phân trắng 75
Hình 3.13. Biểu đồ kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại tại
các trang trại theo các phác đồ điều trị 77
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2
Tuy vậy, trong chăn nuôi dịch bệnh luôn là mối đe dọa thường xuyên
và nó có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi. Đặc biệt là
bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại sinh sản luôn chiếm tỷ lệ cao và là một
trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất sinh sản của đàn lợn.
Bệnh chủ yếu do các loại vi khẩn gây nên. Trong chăn nuôi lợn bệnh thường
xảy quanh năm với diễn biến phức tạp, hiệu quả điều trị bệnh không cao và
chi phí cho việc điều trị bệnh chiếm tỷ lệ không nhỏ trong chi phí cho chăm
sóc lợn nái.
Vì vậy, để có những nghiên cứu về căn nguyên gây bệnh từ đó tạo
định hướng cho việc sử dụng kháng sinh một cách hợp lý trong phòng và
điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản, đồng thời hạn chế thiệt
hại kinh tế cho người chăn nuôi và đảm bảo sức khoẻ của con người, chúng
tôi tiên hành nghiên cứu đề tài “Xác định thành phần và tỷ lệ một số loại
vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản nuôi tại thành phố
Thái Nguyên và biện pháp điều trị”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản của một số trang
trại chăn nuôi lợn ngoại tập trung tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ
năm 2008 đến năm 2010.
- Xác định thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh.
- Xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các loại vi
khuẩn gây bệnh phân lập được.
- Đánh giá hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định chính xác thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh, đề
hoocmon: Estrogen, Progesteron và Inhibin. Các hoocmon này tham gia vào
việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái. Estrogen cần thiết cho sự phát
triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú. Progesteron do thể vàng
tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để
nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của
tuyến vú. Oxytocin được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng
được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi thú gần sinh, nó làm co thắt cơ tử
cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa.
Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử
cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi lợn sắp sinh. Inhibin có tác dụng ức
chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển
noãn nang theo chu kỳ Trần Thị Dân, (2004) [6].
Cấu tạo buồng trứng gồm hai phần: Miền vỏ và miền tủy. Phần tủy của
buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
mô liên kết. miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tác dụng về
sinh dục vì nó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng có
từ 70.000 -100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là
những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào
thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng.
1.1.2. Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống đãn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Phễu
mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp
xúc với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng
chiếm khoảng ½ chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và
mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo tiếp nối
lớp tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung.
Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông, khi lông rung động thì gạt những
chất nhày được tiết ra về phía tử cổ tử cung.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp
phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển
đến ống dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát
triển từ lớp màng nhày và cuộn lại. Tuy nhiên các tuyến chỉ đạt được khả
năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone. Sự phân tiết của tuyến
tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳ động dục.
1.1.4. Âm đạo (Vagina)
Theo Đặng Đình Tín (1986) [43], âm đạo lợn có chiều dài 10 -12cm.
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu
sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là
màng trinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng
thời là bộ phận cho thai đi qua trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất
dịch từ tử cung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: Lớp tổ chức liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn
có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm đạo liên kết với các
lớp cơ tử cung.
1.1.5. Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm: Màng trinh và
hành tiền đình. Sau màng trinh là lỗ niệu đạo.
1.1.6. Âm vật (Clitoris)
Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm
tính và ngược lại.
- Điều kiện ngoại cảnh
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn
cái hậu bị. Nếu ta để một con lợn đực đã thành thục về tính gần ô chuồng
của những con lợn cái hậu bị thì sẽ đẩy nhanh sự thành thục về tính của
chúng. Theo một số tác giả nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2
lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (trên 90kg) động dục
lúc 165 ngày tuổi.
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm
hơn tuổi thành thục về thể vóc. Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát
triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ
sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo
giống. Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì sẽ ảnh
hưởng tới năng suất sinh sản của một nái đồng thời cũng ảnh hưởng tới thế hệ
sau của chúng.
1.2.2. Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
- Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn
ra liên tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn
dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf. Khi nang
Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9
những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng rụng có tính chất chu
kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ.
Một chu kỳ tính của lợn giao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung
bình là 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục, giai
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ
quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường. Trên buồng
trứng thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8mm và bắt đầu
tiết Progesterone. Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều
hòa ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh,
con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, cảm giác ăn uống được tăng
cường trở lại, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ
quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại.
+ Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi
rụng trứng mà trứng không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy.
Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu
kỳ sinh dục tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai
đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi
dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó
góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái.
- Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng
45 - 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu
quả là rất ngắn, do vậy phải tiến hành phối giống đúng lúc. Thời điểm phối
giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực.
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có
hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang
ngày thứ tư kể từ khi bắt đầu động dục.
Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày
thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12
xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chăt mạch máu và đám rối
thần kinh hông - khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều
tiết hoocmon gây đẻ. Mặt khác thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích
thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số,
dẫn đến tử cung mở và thai thoát ra ngoài.
- Nội tiết: Trong thời gian mang thai thể vàng và nhau thai cùng tiết ra
Progesterone, hàm lượng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an
thai. Đến chửa kỳ cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng Progesterone
giảm (chỉ còn 0,22mg%). Đồng thời tuyến yên tiết Oxytocin, nhau thai tăng
tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết
Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ.
- Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: Khi bào thai đã thành
thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc
này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra
ngoài bằng động tác đẻ.
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ
2 - 6 giờ, được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối
cùng ra ngoài.
Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [42],
Cơ chế điều khiển quá trình đẻ được mô tả tại hình 1.1: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13
Oxytocin
ACTH
Vỏ trên thận
Corticosteroi
Nhau thai
Relaxin
Oestrogen
PGF2α
Thể vàng
Progesteron
e
Tử cung
Thai
Đẻ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14
1.3. Sơ lƣợc về Bệnh viêm tử cung (Metritis)
1.3.1. Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái xảy ra ở nái sau khi đẻ, có thể xảy ra ở nái
sau khi phối giống và ít xảy ra ở lợn nái hậu bị.
Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung:
- Do lợn là loài sinh sản đa thai, đẻ nhiều con, thời gian sinh sản kéo
dài làm cho cơ quan sinh dục hoạt động liên tục tạo điều kiện thuận lợi cho vi
khuẩn xâm nhập và gây bệnh.
- Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [17], bệnh viêm tử cung do vi
khuẩn Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang
lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng