ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------
ĐINH VĂN THƢƠNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN
NÁI NGOẠI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
ĐINH VĂN THƢƠNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN
NÁI NGOẠI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Đinh Văn Thƣơng
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt
nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các
trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng.
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên
trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa
toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất,
từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành
công việc nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản
xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng đi lên.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự
phân công của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của lãnh đạo Trại lợn nái ngoại
xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, tôi đã về thực tập tốt nghiệp tại trại lợn
nái ngoại xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và thực hiện đề tài: “ Đánh
giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại và thử nghiệm một số phác
đồ điều trị”.
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên
môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên
trong bản khóa luận này của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tôi kính
Landrace
Y:
Yorkshire
CP:
Charoen Pokphand
Cs:
Cộng sự
Nxb:
Nhà xuất bản
PGF2α :
Prostaglandin F2α.
ĐD:
Động dục
FSH:
Follicle stimulating hormone
1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ..............................................................................................2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ...............................................................................................2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3
2.1. Cơ sở khoa học .....................................................................................................3
2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái................................................................3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái .....................................................................5
2.1.3. Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái ............................................13
2.1.3.1. Nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung ...........................................................13
2.1.3.2. Quá trình viêm tử cung ................................................................................15
2.1.3.3. Phân loa ̣i viêm tử cung .................................................................................17
2.1.3.4. Các biện pháp phòng trị viêm tử cung .........................................................20
2.1.4. Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong điều trị .....23
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................................25
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ....................................................................25
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ...................................................................26
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......29
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................29
vi
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ......................................................................29
3.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................29
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi..............................................29
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................29
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định các chỉ tiêu ...........................30
3.5. Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................................31
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................................33
4.1. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại tại trại lợn nái ngoại xã
của nông nghiệp, góp phần làm tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Chăn nuôi lợn ngoại đang được đẩy mạnh trong chăn nuôi nông hộ cũng như
ở các gia trại, trang trại quy mô công nghiệp. Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại có năng
xuất cao, tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ nạc cao, độ dày mỡ lưng thấp)
đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng đang đòi hỏi, nhất là khu thành phố và
khu công nghiệp. Cho đến nay, lợn Landrace và Yorkshire là hai giống lợn đóng vai
trò chủ yếu trong khâu sản xuất lợn giống và lợn lai nuôi thịt, trong tương lai nó sẽ
góp phần quan trọng vào các chương trình “nạc hóa” đàn lợn ở nước ta.
Thực hiện chương trình “nạc hóa” đàn lợn của tỉnh Hòa Bình, trại lợn nái xã
Đoàn Kết thuộc Tổng Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam được đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất có trên 1.200 lợn nái sinh sản, trong đó giống Landrace và
Yorkshire chiếm tỷ lệ chính. Đàn lợn nái ngoại này đang được phát triển tốt, cho
năng suất và chất lượng đàn con tốt. Tuy nhiên, để thu được hiệu quả kinh tế cao
trong chăn nuôi lợn nái sinh sản ngoài phụ thuộc vào sức sản xuất của lợn nái còn
phụ thuộc vào tình hình quản lý dịch bệnh của trang trại. Tình hình dịch bệnh có
ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chất lượng sản phẩm. Bệnh viêm
tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi
sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa
sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển. Lợn nái chậm động dục trở lại,
2
không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản. Xuất phát từ thực
tiễn nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử
cung ở lợn nái ngoại và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại
lợn xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung.
* Âm môn (vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn. Bên ngoài có hai môi,
bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết
mồ hôi.
* Âm vật (clitoris)
Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực được
thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng. Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm,
ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh.
* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh,
phía trước là âm đạo. Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại
tạo thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật.
* Âm đạo (vagina)
Âm đạo là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng
trinh. Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:
Lớp liên kết bên ngoài.
4
Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với
các cơ tử cung.
Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc.
Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống
thải các chất dịch từ trong tử cung.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm.
* Tử cung (uterus)
Tử cung của lợn có hai sừng, một thân và một cổ tử cung.
Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không
(Stromaovaris). Ở miền tủy có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng
chín và rụng trứng. Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi đã có khoảng
60.000 trứng non. Theo thời gian, buồng trứng này phát triển qua các giai đoạn khác
nhau. Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là
những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt
buồng trứng.
Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc đầu
có hình dẹt sau có hình trụ. Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và hình thành
xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã
hình thành. Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định
sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn
bào vỡ sẽ hình thành thể vàng.
Thể vàng tiết ra progesteron, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesteron
tăng nhanh từ ngày thứ 8 và tương đối ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hóa
thể vàng bắt đầu từ ngày thứ 17 - 18 và sẽ chuyển thành thể bạch nếu trứng không
được thụ tinh.
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
* Sự thành thục về tính
Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh
sản. So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói
riêng thường sớm hơn, nên người ta thường bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà
phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc và sẵn sàng
đảm nhiệm vai trò làm mẹ.
6
Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của cơ
quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh. Đầu tiên hai mép âm môn sưng đỏ và có
dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính. Tương ứng là sự biến đổi về
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh
sản của gia súc cái. Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên bao gồm thời
gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy
khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/ nái/ năm. Nhiều công trình
nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể, từ
113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi.
Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian
bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con. Nhiều công trình nghiên cứu
cho thấy rằng: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có kết quả cao thì
phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho lợn con, điều đó
tăng số con cai sữa/ nái/ năm. Để rút ngắn thời gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn
sớm từ 7 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không
cần sữa mẹ.
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày,
sau cai sữa 5 - 6 ngày lợn mẹ được phối giống lại. Như vậy khoảng cách các lứa đẻ
trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,5 lứa.
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
a. Sinh lý mang thai
Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó bắt đầu từ khi
trứng được thụ tinh đến khi đẻ xong. Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính
ngay từ ngày phối giống lần cuối. Thời gian có thai phụ thuộc vào điều kiện và các
yếu tố khác nhau. Nó dài hay ngắn tùy theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa
sinh sản, trạng thái dinh dưỡng, sức khỏe . . .
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6], ở lợn thời gian mang thai xê dịch
trung bình là 110 – 118 ngày, thời gian có thai trung bình là 114 ngày
+ Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai có thể chia làm ba thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất – thời kỳ trứng: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bào trứng
gia súc có thai thường béo hơn khi chưa có thai. Trong thời kỳ có chửa, lợn nái
tăng 15 – 25 kg (không kể các sản phẩm thai, trong đó khoảng 3 – 4 kg là
protein). Nói chung trong thời gian có chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 – 1,3 lần so với
trước khi phối giống.
9
Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6], trường hợp thiếu canxi và photpho nghiêm
trọng thì gia súc mẹ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch hay biến
dạng, dẫn đến hiện tượng đẻ khó. Canxi và photpho là 2 nguyên tố không thể thiếu
được với gia súc có thai. Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho là 0,5% so với khối lượng
vật chất khô khẩu phần.
Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay đổi nên
ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp. Nhu cầu cung cấp ôxy của
bào thai dần nâng cao ở thời gian có thai kỳ cuối nên tần số hô hấp của mẹ tăng lên
và có khi có biểu hiện trạng thái thở dốc. Dưới tác dụng chèn ép cơ học của bào thai
kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng hai
chân sau. Mặt khác số lần đại tiểu tiện của gia súc mẹ tăng lên nhưng số lượng mỗi
lần ít.
- Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục
Buồng trứng: Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau.
Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia. Trên
mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng.
Tử cung: Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về
cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích . . . dây chằng tử cung dài ra nên đầu
mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ.
Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch. Niêm
mạc tử cung hình thành nhau mẹ.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6], ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh
thời kỳ mang thai gia súc có những biểu hiện của quá trình sinh đẻ, chủ yếu là
đường sinh dục và bầu vú.
- Triệu chứng ở thời kỳ sắp đẻ
Trước thời gian đẻ 1 – 2 tuần, chất niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục
lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài. Còn 1 – 2 ngày trước khi gia súc đẻ thì cơ quan
sinh dục bên ngoài có những thay đổi: âm môn to phù, nhão ra và xung huyết nhẹ ,
đầu núm vú to, bầu vú căng to, tĩnh mạch vú nổi rõ. Nhiệt độ cơ thể thay đổi, trước
đẻ thì nhiệt độ tăng lên cao hơn bình thường. Bên ngoài gia súc cái có hiện tượng
sụt mông.
11
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6], lợn trước khi đẻ 10 – 15 ngày bầu vú
căng. Giữa bầu vú và thành bụng đã phân chia ranh giới rõ ràng.
- Triệu chứng rặn đẻ
Khi đẻ gia súc mẹ phải dùng sức đẩy thai cùng với các khí quan trọng trong
đường sinh dục để đưa thai ra ngoài. Sức rặn căn bản là do sự co bóp của tử cung,
sự co bóp này bắt đầu từ sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung, kết quả làm
mở rộng cổ tử cung. Nhưng phải nhờ vào sự co bóp của cơ ở bụng, hoành cách mô
và toàn thân để đẩy thai ra ngoài.
+ Quá trình sinh đẻ
Quá trình sinh đẻ được chia làm 3 thời kỳ:
- Thời kỳ mở cổ tử cung
Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung
mở hoàn toàn. Tùy từng giống mà biểu hiện bên ngoài không giống nhau. Ở lợn
thường hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng và có triệu chứng cắn ổ.
Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn này
yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài từ
10 – 15 phút, mỗi cơn rặn thường từ 2 – 3 phút. Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch
- Thời kỳ sổ nhau ( hay gọi là bong nhau )
Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục của gia súc mẹ một thời gian, con mẹ
trở nên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co
bóp từ 1,2 – 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này
yếu hơn.
Sau khi sổ thai khoảng 2 – 3 giờ thì tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày, trên
bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau. Cơn rặn lúc này
của gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài.
Trong thời gian này tuần hoàn của núm nhau mẹ và nhau con đã giảm nên
thai có thể tách ra được. Các nhung mao teo lại, tách núm nhau mẹ ra khỏi nhau
thai. Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ lại dần thể tích, nhưng
màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài.
Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra ngoài, do đặc tính của tử cung co bóp
từ mút sừng tử cung tới thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái,
phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng tử cung, thân tử
cung và ra ngoài.
13
Thời gian bong nhau thai của các gia súc khác nhau do đặc điểm cấu tạo của
núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6], lợn sau khi thai ra hết toàn bộ, khoảng 10
– 50 phút nhau thai mới ra. Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm
nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng tử cung.
Trong sừng tử cung lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy, mà ra
từng cái một, thai sau có thể đẩy nhau thai của thai trước ra. Nếu trong sừng tử cung
lợn có xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng ra thành
nhiều đống. Thường những thai chết khô trong sừng tử cung sẽ ra cùng với nhau thai.
số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số
bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết
lưu và viêm tử cung.
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh
hưởng đến viêm tử cung.
Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây xát.
Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm
không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung.
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu vitamin A gây
sưng niêm mạc, sót nhau.
* Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ
không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh. Do quá trình can thiệp khi lợn đẻ, thủ
thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc. Do
tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa vi khuẩn gây
viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái. Do lợn đực bị viêm niệu quản và
dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái.
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng. Vệ sinh trang trại, cơ sở
chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm giảm tỷ lệ viêm.
15
* Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn
nái bị viêm tử cung. Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái
khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung.
* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích
thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Nam, 2005)[16].
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn chủ
yếu sau:
+ Rối loạn chuyển hóa
Tại ổ viêm quá trình ôxy hóa tăng mạnh, nhu cầu ôxy tăng nhưng vì có rối
loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp ôxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa
gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit, polypeptit, và
các axit amin tại ổ viêm.
+ Tổn thương ở mô bào
Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng
thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng tạo ra các
chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm.
+ Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm được hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch
quản tại ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu tố
quan trọng nhất và các protein bị thoát ra ngoài làm tăng lượng nước ngoại vi
gây phù thũng.
+ Tăng sinh ở mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc
các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra. Trong quá trình viêm giai đoạn đầu
chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính. Sự tăng sinh và phát triển của các
loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng
phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, 1997)[10].
+ Các tế bào viêm
17
nhất trong các thể viêm tử cung.