S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRNG I HC S PHM
**********************
Nguyn Trng Nhó
XY DNG THNG HIU
TRNG TRUNG HC PH THễNG NGOI CễNG LP
TRấN A BN TNH QUNG NINH luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn THÁI NGUYÊN - 2010
LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn, tôi đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, của cơ quan nơi công tác
và các bạn bè, đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành luận văn.
Trân trọng cảm ơn các cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của các cơ
quan quản lý giáo dục, các trường học, cơ quan tôi công tác, các bậc cha mẹ và
các em học sinh trên địa bàn Thành phố Hạ Long đã giúp đỡ, tạo điều kiện giúp
tôi hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư – Tiến
sĩ Trần Quốc Thành đã tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn còn có những vấn
đề cần được góp ý, bổ sung. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân
thành của các thầy, cô giáo và đồng nghiệp.
Xin trân trọng cám ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
Tác giả luận văn
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
XHHGD: Xã hội hóa giáo dục
UBND: Ủy ban nhân dân
Web: Website
WTO: Tổ chức thương mại thế giới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG THƢƠNG
HIỆU TRƢỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP
1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.2. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Thương hiệu và vai trò của thương hiệu trong giáo dục
1.2.2. Nhà trường và Nhà trường THPT ngoài công lập
1.2.3 Chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với trường NCL
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG THƢƠNG HIỆU
TRONG GIÁO DỤC
1.4. NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ĐỂ XÂY DỰNG THƢƠNG HIỆU
NHÀ TRƢỜNG
1.4.1. Có chiến lược tổng thể xây dựng thương hiệu nhà trường
1.4.2. Chất lượng giáo dục - cốt lõi của thương hiệu nhà trường
1.4.3. Văn hóa tổ chức - chiều sâu của thương hiệu nhà trường
Kết luận chƣơng 1
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƢƠNG HIỆU Ở MỘT
SỐ TRƢỜNG THPT NCL TẠI TP HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
2.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC TRƢỜNG THPT
39
40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Quảng Ninh
2.2.2. Thực trạng các biện pháp xây dựng thương hiệu của các trường
THPT ngoài công lập
2.2.3. Vài nét về việc xây dựng thương hiệu của Trường TH,THCS &
THPT Văn Lang, TP Hạ Long
Kết luận chƣơng 2
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG THƢƠNG HIỆU
TRƢỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TỈNH QUẢNG NINH
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
3.2. Các biện pháp xây dựng thƣơng hiệu
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, tạo sự chuyển
biến thực sự để triển khai xây dựng thương hiệu nhà trường
3.2.2. Xác định các nguyên tắc và kế hoạch xây dựng thương hiệu nhà
trường (xây dựng chiến lược thương hiệu tổng thể)
3.2.3. Tổ chức thiết kế và tạo dựng các yếu tố của thương hiệu
3.2.4. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp để nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường.
3.2.5. Xây dựng môi trường văn hóa trường học để phát triển thương
hiệu nhà trường
3.2.6. Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá thương hiệu của nhà trường
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp đƣợc đề xuất
3.4. Tổ chức thẩm định tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
3.4.1. Quá trình tổ chức thẩm định
3.4.2. Kết quả thẩm định
83
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng với sự tồn tại và phát triển của toàn
nhân loại. Trong suốt lịch sử, đặc biệt là ở những nƣớc phát triển, giáo dục luôn
chiếm vị trí trung tâm trong cam kết của đất nƣớc đối với công dân. Việt Nam đã
là thành viên thứ 150 của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), chúng ta đang tiến
hành xây dựng nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, thì giáo
dục (đƣợc WTO xếp vào là một trong những lĩnh vực dịch vụ) sẽ phải tuân theo
các qui luật của kinh tế thị trƣờng. Tức là giáo dục sẽ đứng trƣớc sự cạnh tranh để
phát triển.
Sự nghiệp đổi mới Giáo dục đang tiến cùng sự nghiệp đổi mới của đất
nƣớc. Một trong những chủ trƣơng, giải pháp quan trọng để Giáo dục phát triển
là đẩy mạnh thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục (XHHGD). Chủ trƣơng này
đƣợc Đảng, Nhà nƣớc khẳng định trong các văn kiện của Đảng, trong Luật giáo
dục của Quốc hội, trong Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ và trong
nhiều văn bản từ Trung ƣơng đến các bộ, ngành, địa phƣơng. Phát triển và quản
lý các trƣờng phổ thông ngoài công lập (NCL) là một trong những nội dung thực
hiện công tác XHHGD. Với cấp học THPT, chỉ tiêu định hƣớng trong Nghị
quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ đến năm 2010 có 40% số lƣợng học sinh
học tại các trƣờng THPT NCL.
Khác với trƣờng công lập đƣợc ngân sách cấp, kinh phí hoạt động của các
trƣờng NCL là do các chủ đầu tƣ trang trải - mà thực chất là của chính ngƣời
tháng 12/2006 đã thành lập một Trung tâm thƣơng hiệu, phục vụ cho công tác
giảng dạy, nghiên cứu, thiết kế và chuyển giao các chƣơng trình tƣ vấn, quảng
cáo và truyền thông thƣơng hiệu. Đến nay, khái niệm thƣơng hiệu đã đƣợc sử
dụng trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, trong đó có giáo dục. Nhƣng khác với các
ngành kinh tế, quá trình xây dựng thƣơng hiệu trong giáo dục phức tạp, khó khăn
hơn rất nhiều bởi những đặc thù riêng của ngành này nhƣ: đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý chƣa có nhiều sự hiểu biết về việc xây dựng và quản lý thƣơng
hiệu; chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thƣơng hiệu trong lĩnh vực
giáo dục; sản phẩm của giáo dục lại là con ngƣời có trí trức (một loại sản phẩm
đặc biệt); và quan điểm không thƣơng mại hóa giáo dục…
Ngày 10/8/2009, tại Nha Trang (Khánh Hoà), Bộ GD&ĐT phối hợp với
Trung tâm SEAMEO RETRAC - VIỆT NAM, tổ chức hội thảo quốc tế với chủ
đề “Xây dựng thƣơng hiệu giáo dục đại học”. Đây là hội thảo quốc tế lớn thu
hút sự quan tâm của các trƣờng đại học hàng đầu của Việt Nam và gần 40
trƣờng đại học nổi tiếng trong khu vực và thế giới. Nội dung hội thảo cho thấy ở
Việt Nam hiện nay, hầu hết các trƣờng đại học đều chƣa bắt đầu xây dựng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
thƣơng hiệu hoặc thực hiện không bài bản, chƣa có kế hoạch và chƣa có sự đầu
tƣ thích đáng cho công tác này. GS.TS Trần Văn Hiền, công tác tại Đại học
Houston (Hoa Kỳ) cho rằng: chiến lƣợc xây dựng thƣơng hiệu đại học là một bộ
phận của chiến lƣợc phát triển, do đó mỗi trƣờng đại học đều phải xây dựng
chiến lƣợc và cách thức quản trị thƣơng hiệu cho riêng mình sao cho hiệu quả,
để có thể tạo ra danh tiếng bền vững và trở thành xung lực cạnh tranh lành mạnh
và cần thiết…
Đối với các cấp học phổ thông của chúng ta, đến nay việc xây dựng, quản
lý thƣơng hiệu lại càng ở mức thấp hơn, mặc dù danh tiếng, tín nhiệm của các
trƣờng vẫn là điều mà xã hội quan tâm. Có những trƣờng có danh tiếng trong
toàn quốc hay ở một số địa phƣơng nhƣ: THPT Chu Văn An (Hà Nội), Lê Hồng
Các biện pháp xây dựng thƣơng hiệu trƣờng THPT ngoài công lập trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hiện nay các trƣờng THPT chƣa thật quan tâm đúng mức đến thƣơng hiệu
của trƣờng mình. Có thể xây dựng đƣợc thƣơng hiệu của trƣờng THPT ngoài
công lập nếu có quan niệm đúng đắn về thƣơng hiệu và thực thi đƣợc các biện
pháp cơ bản trong xây dựng thƣơng hiệu phù hợp với điều kiện thực tế trong
phát triển nhà trƣờng với tƣ cách là một tổ chức dịch vụ.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Xác định cơ sở lý luận của việc xây dựng thƣơng hiệu của cơ sở
giáo dục phổ thông
5.2. Phân tích thực trạng việc xây dựng thƣơng hiệu trƣờng THPT ngoài
công lập tại tỉnh Quảng Ninh.
5.3. Đề xuất các biện pháp xây dựng thƣơng hiệu trƣờng ngoài công lập
tại tỉnh Quảng Ninh và tổ chức thẩm định tính khả thi của các biện pháp đó.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các tác động quản lý để nâng cao kết quả
giáo dục, tạo nên sự tín nhiệm của học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lƣợng xã
hội đối với nhà trƣờng
6.2. Địa bàn nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu, ngoài các số
liệu thống kê về giáo dục THPT ngoài công lập của toàn tỉnh, đề tài chỉ tiến
hành trên các trƣờng THPT ngoài công lập thuộc địa bàn thành phố Hạ Long và
vùng phụ cận. Các địa bàn huyện, thị xã, thành phố xa Thành phố Hạ Long đề
tài chƣa có điều kiện nghiên cứu sâu.
6.3. Khách thể khảo sát
- 04 trƣờng THPT ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hạ Long.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu: Sử dụng phƣơng pháp thống kế toán học
để xử lý số liệu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG THƢƠNG HIỆU
TRƢỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Hiện nay, vấn đề thƣơng hiệu của nhà trƣờng hay của các thầy cô giáo ở nƣớc
ta chƣa đƣợc đề cập nhiều, thậm chí còn có sự né tránh, mặc dù danh tiếng, uy tín
của nhà trƣờng và của các thầy cô giáo vẫn là điều xã hội quan tâm. Nhƣng xét về
mặt bản chất thì vấn đề thƣơng hiệu nhà trƣờng không phải là vấn đề hoàn toàn
mới.
Ta thấy câu nói rất thông dụng “ tầm sƣ học đạo” vừa thể hiện sự hiếu học,
vừa thể hiện sự coi trọng những ngƣời thầy giáo giỏi, những cơ sở dạy học uy
tín trong suốt lịch sử truyền thống hiếu học của dân tộc ta. Dƣới thời phong
kiến, thầy đồ tự mở lớp học (trƣờng tƣ) hoặc nhân dân tự tổ chức lớp mời thầy
dạy (trƣờng dân lập) là những hình thức nhà trƣờng ngoài công lập chiếm tỉ lệ
lớn trong hệ thống trƣờng học. Đã có những thầy giáo giỏi, có những cơ sở giáo
dục uy tín có đông môn sinh theo học, làm nên những làng tiến sĩ, đào tạo ra
những con ngƣời tài giỏi cho đất nƣớc. Nhà giáo Chu Văn An đƣợc nhân dân
tôn vinh là “ Thầy giáo của muôn đời” là một ví dụ điển hình về danh hiệu, uy
tín của ngƣời thầy giáo Giai đoạn sau khi đánh đuổi thực dân Pháp giành độc
lập, chúng ta bƣớc vào xây dựng một nền giáo dục cách mạng ở miền Bắc với hệ
thống trƣờng công lập thay cho các trƣờng dân lập, tƣ thục. Nền giáo dục mới đã
tạo cơ hội học tập cho toàn dân, tạo nên sự đồng đều về mọi mặt ở các trƣờng
học. Với sự bao cấp và tính kế hoạch cao nên ngƣời học nếu có điều kiện sẽ cứ
tuần tự đƣợc học tập lên cao; sự cạnh tranh, sàng lọc giữa các trƣờng không gay
300 tỷ USD. Riêng tại Mỹ, đại học là thị trƣờng xuất khẩu đem lại lợi nhuận lớn
thứ tƣ”; “ các trƣờng đại học ở Mỹ đều tồn tại dựa vào học phí. Hãy hình dung
nếu chúng tôi không xem giáo dục là thị trƣờng thì chúng tôi không thể tồn tại.
Nhƣng thị trƣờng giáo dục có những tiêu chuẩn đạo đức riêng và chúng ta nhất
thiết phải quan tâm”; “ trƣớc hết chúng ta không bán những sản phẩm hữu
hình nhƣ một chai Coca-cola. Đặc trƣng của chai Coca là màu đỏ và đấy là điều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
ngƣời ta thấy đƣợc, sờ đƣợc, cảm giác đƣợc. Còn đối với giáo dục đại học, đó là
dịch vụ vô hình, chúng ta không làm đƣợc những điều tƣơng tự nhƣ Coca-cola
khi xây dựng thƣơng hiệu. Do vậy mức độ khó của thƣơng hiệu đại học cao hơn.
Chúng ta thông thể làm thƣơng hiệu một cách nhanh chóng mà phải từ từ, phải
xây dựng nó từng bƣớc một”. [7w]
Ở nƣớc ta hiện nay, các công trình khoa học nghiên cứu trực tiếp, chuyên
sâu về vấn đề thƣơng hiệu trong lĩnh vực giáo dục còn quá ít. Còn khi nghiên
cứu báo chí, hoặc nếu có vào trang website tìm kiếm trên mạng internets, ta có
thể tìm thấy hàng trăm bài viết có đề cập đến vấn đề “thƣơng hiệu giáo dục”,
nhƣng những bài viết đó thƣờng tản mạn, mỗi bài viết mới chỉ nêu đƣợc một số
khía cạnh của vấn đề xây dựng và quản lý thƣơng hiệu trƣờng học mà thôi.
Nhƣ vậy ở nƣớc ta hiện nay, vấn đề thƣơng hiệu nhà trƣờng đang cần đƣợc
nghiên cứu và bàn bạc sâu rộng, và trong thực tế đang ngày càng trở nên quan
trọng trong chiến lƣợc phát triển của mỗi nhà trƣờng. Song vấn đề thƣơng hiệu
lại là vấn đề quan trọng trƣớc hết đối với các trƣờng NCL. Bởi vì, khác với các
trƣờng công lập đƣợc ngân sách cấp kinh phí, hoạt động của các trƣờng NCL là
do các chủ đầu tƣ trang trải - mà thực chất là của chính ngƣời học chi trả. Vì
vậy, các trƣờng NCL phải khẳng định đƣợc mình, phải cạnh tranh với nhau và
với các trƣờng công lập để thu hút học sinh vào học. Trong quá trình đó, trƣờng
NCL nào có chất lƣợng, có uy tín, có sự khác biệt ƣu việt (hay nói khác đi là có
thƣơng hiệu) mới đƣợc nhiều phụ huynh học sinh chấp nhận trả tiền cho con em
thƣơng hiệu giúp phân biệt nhãn hiệu nào là nhãn hiệu tốt và có uy tín.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, chúng ta sẽ gặp những cách tiếp cận, những
cách giải nghĩa và nhiều khái niệm kéo theo liên quan với thuật ngữ thƣơng hiệu
nhƣ:
+ Không phải bây giờ thuật ngữ thƣơng hiệu mới đƣợc sử dụng, mà ngay từ
thời Pháp thuộc, tại Điều 1 của “Qui định các nhãn hiệu”, ra ngày 01/4/1952 của
chính quyền Bảo Đại nêu rõ: “ Đƣợc coi là nhãn hiệu hay thƣơng hiệu: các danh
từ có thể phân biệt rõ rệt, các danh hiệu, biểu ngữ, dấu in, con niêm, tem nhãn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
hình nổi, chữ, số, giấy phong bì cùng các tiêu biểu khác dùng để dễ phân biệt
sản phẩm hay thƣơng phẩm”. Điều này cho thấy thƣơng hiệu lúc bấy giờ đƣợc
hiểu là nhãn hiệu hàng hoá. [22, tr.13]
+ Để tập trung vào chức năng quảng cáo sản phẩm, Hiệp hội Marketinh Mỹ
đã đƣa ra khái niệm thƣơng hiệu là “Một cái tên, từ ngữ ký hiệu, biểu tƣợng
hoặc hình vẽ kiểu thiết kế hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân
biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một ngƣời bán hoặc một nhóm ngƣời bán với
hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”. [22, tr.11]
+ Theo Patricia F.Nicolino thì: “Thƣơng hiệu là một thực thể xác định tạo
ra những cam kết nhất định về giá trị”. Nhƣ vậy, thƣơng hiệu là một thực thể
(entity) tồn tại một cách riêng biệt và rõ ràng để ta có thể nhận biết; đồng thời nó
chứa đựng những cam kết nhất định (specific promises) của nhà cung cấp về
những giá trị mà khách hàng quan tâm. [31, tr.14]
+ Một số tài liệu có nêu: từ thƣơng hiệu (Brand) có nguồn gốc từ chữ
Brandr - Theo tiếng Aixơlen cổ có nghĩa là đóng dấu - Xuất phát từ thời xƣa, khi
những chủ chăn nuôi muốn phân biệt đàn cừu của mình với những đàn cừu
khác, họ đã dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ đóng lên lƣng từng con cừu
một, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hoá và quyền sở hữu của mình. Nhƣ
vậy thƣơng hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản
tăng khả năng nhận biết và tạo nên hình ảnh của tổ chức, của doanh nghiệp trong
tâm trí ngƣời tiêu dùng, mà ngày nay thƣơng hiệu càng đƣợc sử dụng nhƣ một
hình tƣợng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá tổ chức. Hình tƣợng đó đƣợc tạo nên
bởi các yếu tố hữu hình có khả năng nhận biết (nhƣ tên gọi, lô gô, biểu tƣợng,
khẩu hiệu, đoạn nhạc, kiểu dáng công nghiệp ) và phần thứ hai quan trọng hơn
chính là chất lƣợng hàng hoá dịch vụ, cách thức ứng xử của doanh nghiệp với
khách hàng và cộng đồng, những hiệu quả và tiện ích đích thực do những hàng
hoá dịch vụ đó mang lại.
Nhƣ vậy thƣơng hiệu đã trở thành một thứ tài sản vô hình mà giá trị của nó
có thể cao hơn rất nhiều so với những tài sản hữu hình. Sự kiện Công ty
Uninever mua lại thƣơng hiệu kem đánh răng P/S với giá 5,3 triệu USD cách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
đây hơn 10 năm, gây chấn động dƣ luận lúc bấy giờ đã cho thấy giá trị về tài
chính của thứ tài sản vô hình này. Năm 2007, tạp chí Bisinessweck đã xếp hạng
10 thƣơng hiệu có giá trị đắt nhất thế giới. Trong đó thƣơng hiệu Coca-cola
đƣợc định giá cao nhất là 65,3 tỷ USD, Microsoff 58,7 tỷ USD, Toyota 32,1 tỷ
USD, Walt Disney 29,3 tỷ USD, [37, tr.20]
1.2.1.3. Thương hiệu trong giáo dục
Khi chúng ta nói đến thƣơng hiệu là phải gắn với một đối tƣợng cụ thể nào
đó. Vì vậy, từ “thƣơng hiệu” thƣờng kết hợp với những danh từ để chỉ rõ đối
tƣợng. Danh từ đó có thể là danh từ chung hoặc danh từ riêng. Thƣơng hiệu gắn
với danh từ chung nhƣ “thƣơng hiệu hàng nông sản” là nói về thƣơng hiệu của
các loại sản phẩm hàng hoá thuộc về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nhƣ lúa,
gạo, ngô, khoai Tƣơng tự nhƣ vậy, nếu nói “thƣơng hiệu giáo dục” là nói đến
thƣơng hiệu trong lĩnh vực giáo dục nói chung, chứ chƣa chỉ rõ thƣơng hiệu đó
là ở cấp học nào, trƣờng học cụ thể nào. Còn từ “thƣơng hiệu” đƣợc gắn với
danh từ riêng là để chỉ thƣơng hiệu cụ thể của đối tƣợng đƣợc nói tới. Ví dụ
“thƣơng hiệu xe ô tô TOYOTA” là nói về thƣơng hiệu các loại xe ô tô của hãng
hoạch của nhà nƣớc và đƣợc tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tƣ
thục. Dù tổ chức theo loại hình nào cũng đều chịu sự quản lý của nhà nƣớc, của
các cơ quan quản lý theo sự phân công, phân cấp. Một trong những nguyên tắc
quản lý nhà trƣờng của ta hiện nay là kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ.
Điều này sẽ chi phối công tác xây dựng thƣơng hiệu của nhà trƣờng, bởi nó tạo
ra và chấp nhận sự đổi mới, sáng tạo, tự chủ cho nhà trƣờng và địa phƣơng.
Trong nhà trƣờng hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm và quan hệ
thầy- trò là quan hệ trung tâm; học sinh là chủ thể của qúa trình giáo dục. Đồng
thời các hoạt động của nhà trƣờng, các mối quan hệ trong trƣờng đều chịu sự chi
phối tác động của môi trƣờng và đƣợc xã hội đánh giá.
Dù với bất kỳ loại hình nào, cấp học nào thì nhà trƣờng Việt Nam đều gắn
với cộng đồng, mang đậm dấu ấn xã hội. Danh tiếng của nhiều nhà trƣờng đã trở
thành niềm tự hào của nhiều thế hệ học sinh, của các cấp quản lý và nhân dân
địa phƣơng. Nhiều nhà trƣờng đã trở thành trung tâm văn hoá của địa phƣơng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Thông qua nhà trƣờng, thông qua đội ngũ giáo viên, học sinh và ngƣời thân của
họ mà nhiều chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc đƣợc đƣa vào cuộc
sống, đƣợc phổ biến tới ngƣời dân và nhận đƣợc sự đóng góp xây dựng, phản
hồi từ nhân dân.
Chúng ta đã có hơn 20 năm thực hiện chủ trƣơng XHHGD. Trở lại thời
điểm ban đầu: trong hai năm 1988- 1989, Bộ Giáo dục đã tổ chức ba hội thảo (ở
ba miền) với nội dung đi đến nhất trí: cần mở cuộc vận động rộng rãi các lực
lƣợng xã hội vào cuộc cùng với giáo dục để giữ cho đƣợc (không làm rệu rã),
củng cố, ổn định và phát triển hệ thống trƣờng học. Quan điểm trên đƣợc Đại
hội VIII (1996) của Đảng khẳng định, thuật ngữ XHHGD chính thức đƣợc sử
dụng (các nƣớc khác có nơi gọi là không phải chính phủ hay phi chính phủ). Và
quan điểm này đã đã chính thức đƣợc đƣa vào Luật giáo dục (Điều 12, Luật giáo
dục năm 2005). Theo giáo sƣ, viện sĩ Phạm Minh Hạc đánh giá: chủ trƣơng
THCS
60.124 h/s
5.500.123 h/s
khoảng hơn 1%
THPT
617.163 h/s
2.355.150 h/s
khoảng hơn 25%
GD thƣờng xuyên: khoảng 1.2 triệu ngƣời học
Dạy nghề: Hàng năm có 1.7 triệu h/s theo học ở các trung tâm dạy nghề
Cao đẳng
66.837 SV
409.884 SV
khoảng 15%
Đại học
141.566 SV
1.101.212 SV
khoảng gần 14%
(Nguồn: Bộ GD-ĐT, Bộ LĐ-TB-XH).
- Trƣờng THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông. Mục tiêu của
giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam XHCN, xây dựng tƣ
cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào
cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc (Điều 27 - Luật giáo
dục 2005). Giáo dục trung học phổ thông nhằm củng cố và phát triển những kết
quả của cấp học tiểu học và THCS, hoàn thiện thêm học vấn phổ thông và
những hiểu biết, những phẩm chất nhân cách chuẩn bị cho cuộc sống, cho việc
học tập, lao động suốt đời sau này của mỗi con ngƣời.
Học sinh đƣợc thu nhận vào trƣờng THPT có độ tuổi từ 15 tuổi và đã học
1.2.3. Chính sách của Nhà nƣớc Việt Nam đối với trƣờng ngoài công
lập hiện nay
Để có thể thực hiện đúng và đẩy mạnh đƣợc việc xây dựng thƣơng hiệu nhà
trƣờng ngoài công lập, chúng ta cần tuân thủ các chủ trƣơng, đƣờng lối chính
sách của Đảng, pháp luật của nhà nƣớc đối với trƣờng ngoài công lập.
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy hệ thống
trƣờng NCL phát triển, trong đó có thể kể đến một số văn bản quản lý, chỉ đạo
chủ yếu đối với loại hình trƣờng NCL là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
+ Luật giáo dục năm 2005 và những sửa đổi trong năm 2009.
+ Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh
các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.
+ Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách
khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn
hóa, thể thao.
+ Quyết định 39/2001/QĐ-BGD & ĐT ngày 28/8/2001 của Bộ Giáo dục và
đào tạo về việc: ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của các trƣờng NCL.
+ Bộ Tài chính có thông tƣ 18/2000 TT-BTC ngày 01/3/2000 hƣớng dẫn
một số điều của nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 về chế độ tài chính
khuyến khích đối với các cơ sở NCL trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể
thao.
+ Nghị định 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách
khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập
Ở đây xin trình bày kỹ hơn về những nội dung liên quan đến trƣờng NCL
trong Luật giáo dục hiện nay (Luật giáo dục năm 2005 đƣợc Quốc hội nƣớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI, thông qua ngày 14/6/2005, có
hiệu lực thi hành từ 01/01/2006. Và để đáp ứng kịp thời những yêu cầu đặt ra,
nâng cao hơn nữa chất lƣợng, hiệu quả của sự nghiệp giáo dục, ngày
+ Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển; Nhà nƣớc ƣu tiên đầu tƣ cho
giáo dục, đồng thời khuyến khích các nguồn lực xã hội đầu tƣ cho giáo dục;
Giáo dục là lình vực đầu tƣ có điều kiện và có sự ƣu đãi đầu tƣ.
+ Pháp luật khẳng định bảo hộ các quyền lợi hợp pháp đối với hoạt động
đầu tƣ cho giáo dục. Khẳng định quyền sở hữu tài sản, tài chính thuộc về sở hữu
của các thành viên góp vốn. Để tránh tình trạng trƣờng ngoài công lập coi giáo
dục là hình thức kinh doanh lợi nhuận cao, việc sử dụng thu nhập của trƣờng
đƣợc qui định nhƣ sau: “Thu nhập của trƣờng dân lập, trƣờng tƣ thục đƣợc dùng
để chi cho các hoạt động cần thiết của nhà trƣờng, thực hiện nghĩa vụ đối với
ngân sách nhà nƣớc, thiết lập quĩ đầu tƣ phát triển và các quĩ khác của nhà
trƣờng. Thu nhập còn lại đƣợc phân chia cho các thành viên góp vốn theo tỷ lệ