Đề tài: Làm thế nào để dạy truyện ngụ ngôn đạt hiệu quả cao? - Pdf 22

A. Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
Thiên chức của văn chơng là hớng thiện con ngời. Điều này thì ai cũng biết.
Cũng thế, khả năng của văn chơng là định hình những ý tởng mơ hồ, bồng bềnh
trong tâm trí, ám ảnh suốt bao năm mà ta cha thể cắt nghĩa hoặc khuôn nó thành
một diện mạo cụ thể. Điều này thì ai cũng biết. Lại nữa, hình thể của văn chơng
không phải bất biến, sẽ luôn thay hình đổi dạng, sẽ luôn tái sinh. Nhà văn khai
sinh ra tác phẩm, ban cho nó hình hài, khả năng tồn tại còn ngơì đọc thì giúp nó
hình thành, bộc lộ tính cách. Khả năng tồn tại của văn chơng muôn đời vẫn là
niềm tri âm, tri kỉ ấy. Điều này thì ai cũng biết.
Nhng dẫu mọi quan điểm, lí thuyết văn học đã trở nên dễ hiểu với tất thảy mọi
ngời thì tác phẩm trở nên nhàm chán, không đọc cũng biết nó nói gì. Quan niệm
nh thế thật là sai lạc. Văn chơng đích thực sẽ mãi mẫi luôn mới, tựa khóm hồng
kia chỉ bấy nhiêu sắc màu hơng vị, nhng hàng ngày, hàng giờ vẫn lay động lòng
ta, khiến ta bồi hồi day dứt. Trái đất muôn đời vẫn chỉ bấy nhiêu đất đá, sông
biển nhng diện mạo của nó huy hoàng hơn bởi các kĩ s biết biến các vật liệu vô
tri kia thành những chất liệu kết dính để dựng lên những kim tự tháp, những đền
đài miếu mạo, những toà cao ốc sừng sững vơn trời xanh. Thái độ của chúng ta
với văn bản văn chơng cần giống với thái độ của các kĩ s kia: Phải sáng tạo, phải
xử lí chất liệu văn chơng , xâm nhập vào cõi huyền diệu, dựng nên những hình
hài nghệ thuật mới của riêng mình.
Tác phẩm văn chơng, một khi đã khẳng định đợc sự tồn tại thì bao giờ cũng
phải chuẩn bị cho mình một khả năng độc đáo, một phơng diện khác biệt không
thể lẫn vào đâu đợc. Thông thờng ngời ta gọi đó là nét đặc trng hay sự cá biệt
của tác phẩm. Có tác phẩm cốt truyện rất hay, có tác phẩm thì lời kể điêu luyện,
có tác phẩm thì nhân vật độc đáo. Nhiệm vụ của chúng ta là phải phát hiện ra
đặc trng của từng thể loại, điểm sáng của từng văn bản để sau khi học xong tác
phẩm học sinh phải trả lời đợc câu hỏi: Cái còn đọng lại trong tâm hồn là gì?
Nếu học xong một kiệt tác mà chẳng thấy hay ho, chẳng nhớ đợc gì thì coi nh
việc học đã thất bại. Điều đó không chỉ dành riêng cho những văn bản hiện đại
với nhiều tình tiết hấp dẫn mà ngay cả với văn học dân gian cũng vậy. Mỗi cảnh

biết phô diễn cái đẹp ấy trên những trang giấy và trong lời nói hàng ngày.
Muốn vậy, ngời giáo viên phải đam mê đi tìm đáp số cho mỗi bài giảng và phải
tổ chức đợc lớp học, tạo đợc không khí văn chơng, hớng cho các em tự tìm đến
bến bờ của sự khám phá và sáng tạo. Nhng thực hiện nhiệm vụ này không hề đơn
giản vì thầy sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Thời gian có hạn, số lợng học sinh đông,
sự chuẩn bị của học sinh không phải lúc nào cũng chu đáo. Để giải quyết khó
khăn này, ngời thầy phải đổi mới cách soạn, cách dạy làm sao cho hiệu quả.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi xin trình bày một vài suy nghĩ của mình: Làm thế
nào để dạy truyện ngụ ngôn đạt hiệu quả cao.
B. Phần nội dung
I. Chơng I. Tổng quan
Truyện cổ tích là một thể loại tự sự tiêu biểu trong văn học dân gian. Truyện
ngụ ngôn cũng có hình thức tự sự nh truyện cổ tích, nhng mục đích chủ yếu lại
không phải là tự sự. Ngụ ngôn có nghĩa là lời nói có hàm ý. Dụng ý của ngời đặt
truyện ngụ ngôn cũng nh của ngời sử dụng là mợn câu chuyện kể để nói điều
2
muốn nói một cách bóng bẩy, kín đáo, để điều muốn nói thêm sâu sắc, thuyết
phục. Ngời ta gọi đó là cách nói bằng ngụ ngôn. Nói đến truyện ngụ ngôn, ngời
ta thờng hay nghĩ ngay đến tác giả Ê dốp, La Phông Ten ở phơng Tây hoặc Trang
Tử, Liệt Tử ở phơng Đông. Điều đó có cơ sở thực tế. Các nhà t tởng đã từ lâu
hay dùng thể văn ngụ ngôn để diễn đạt t tởng của mình. Với thể văn ấy, các ý
niệm trừu tợng có thể diễn đạt một cách cụ thể hơn và do đó dễ phổ cập hơn. La
Phông Ten cũng đã nêu rõ lí do khiến cho thể ngụ ngôn có tác dụng đặc biệt
trong việc diễn đạt t tởng nh sau: Một thứ luân lí trần trụi làm ngời ta chán nản,
truyện kể làm cho điều luân lí lọt tai cùng với nó. Vì vậy truyện ngụ ngôn đã đ-
ợc các triết gia, các nhà văn hoá đem dùng từ lâu. Nhng nguồn gốc của nó vốn từ
nhân dân mà ra và nó đã xuất hiện từ thời cha có chữ viết.
Truyện ngụ ngôn là loại truyện chứa đựng trong đó những bài học, những
kinh nghiệm sống. Và nh vậy truyện ngụ ngôn có hai phần: Phần cụ thể là truyện
kể, phần trừu tợng là phần bài học rút ra từ câu chuyện ấy. Rất nhiều truyện ngụ

đối cao của t duy loài ngời. Lúc đầu, chắc chắn nhân loại không thể sáng tác đ-
ợc truyện ngụ ngôn gồm hai phần tách bạch: sự tích cụ thể và ý niệm trừu tợng.
Phân biệt đợc phần trừu tợng với phần cụ thể là một việc mà ngời nguyên thuỷ
không làm đợc.
Con ngời nguyên thuỷ sống gần thiên nhiên hơn chúng ta ngày nay. Hơn nữa
họ cha hoàn toàn tách mình ra khỏi thiên nhiên. Vì công cụ sản xuất còn thô sơ,
trình độ sản xuất con thấp kém nên kết quả lao động còn rất ít ỏi. Con ngời phải
vận dụng toàn thể giác quan để kiếm ăn hàng ngày, cũng nh để tự vệ. Ngời ta
chăm chú quan sát hình dạng, màu sắc, hơi tiếng, cũng nh tập quán sinh hoạt
của từng con dã thú. Có thế mới săn bắt đợc nó hoặc tự vệ trớc sự tấn công của
nó. Từ sự quan sát đó, ngời ta đem gắn cho con vật những đặc tính của con ngời.
Ngời ta tởng tợng ra thế giới loài vật cũng nh thế giới loài ngời. Thần thoại phát
sinh cũng vì lí do ấy một phần.
Bên cạnh thần thoại, dần dần các truyện động vật cũng xuất hiện. Truyện kể
về các hoạt động của các con vật, những cuộc phiêu lu của chúng, những cuộc
tranh chấp của chúng. Khi xây dựng truyện nh vậy, ngời ta gán cho con vật
những suy nghĩ, cảm xúc nh con ngời và vì thế yếu tố tởng tợng đã đợc đa vào
nội dung của truyện. Song mặc dù ở những truyện này, các con vật mang tính
cách nh con ngời nhng ngời ta không có ý định xã hội hoá loài vật để nói về
loài ngời. Vì vậy truyện vẫn cha có tính chất ngụ ngôn.
Truyện ngụ ngôn là cách nói theo tỉ dụ của nhân dân. Đặc điểm của ngôn ngữ
nhân dân là cụ thể và hình tợng. Điều này không những đúng với nhân dân thời
nguyên thuỷ mà còn đúng với nhân dân thời sau. Trong ngôn ngữ hình tợng, ngời
ta hay dùng những sự vật cụ thể có đờng nét, màu sắc để diễn đạt những ý
niệm trừu tợng. So sánh, ví von là cách nói của nhân dân lao động. Trong ngôn
ngữ của nhân dân có biết bao thành ngữ có tính chất ví von nh vậy: cao nh sếu,
nhanh nh cắt, thân lừa a nặng Dần dần cách nói ví von bằng hình tợng ấy kết
hợp với truyện động vật phát triển thành truyện ngụ ngôn. Ví dụ thành ngữ
Cáo mợn oai hùm kết hợp với những truyện động vật về con cáo giảo hoạt, về
con hùm dũng mãnh mà ngu ngốc, là cơ sở sản sinh truyện ngụ ngôn cáo mợn

Nhiều khi cha không đủ làm gơng cho con, anh không thể dạy nổi em, thầy
không tận từ giáo hoá đợc học trò. Cách trực tiếp dùng đã không xong, ngời làm
cha, làm anh, làm thầy mới phải dùng đến cách gián tiếp, nghĩa là đem cái ý này
gửi vào lời kia, đem cái t tởng của mình mà mợn ngời khác, mợn loài vật, cây
cối dẫn ra cho đắc lực.
Vì thế mới nói: Ngụ ngôn chính là mợn chuyện này để nói chuyện khác. Và
đây cũng chính là tiêu chí để phân biệt truyện ngụ ngôn với các truyện khác. Bởi
trong thực tế, có những truyện khiến chúng ta khó phân loại: không biết xếp nó
vào đâu trong ba thể loại truyện ngụ ngôn, truyện cời, truyện cổ tích.
5
+Ví dụ nh truyện Thầy bói xem voi nhiều ngời cho đó là một câu chuyện cời
vì cách xem voi của năm ông thầy bói, mỗi thầy chỉ sờ một bộ phận của cơ thể
con voi nhng lại cho rằng đó là hình thể của cả con voi. Mâu thuẫn chính là ở
chỗ đó: mỗi anh đều nói đúng sự thật nhng đồng thời đều nói sai sự thật. Tiếng c-
ời càng giòn giã khi các ông thầy bói xoay ra đánh nhau toác đầu chảy máu. Tuy
vậy, nghĩ cho kĩ thì câu chuyện này nhằm phê phán những kẻ chỉ biết căn cứ vào
nhận xét chủ quan của mình mà nhận xét sự vật đồng thời đa ra bài học là khi
xem xét sự vật cần xem xét một cách toàn diện, tránh cái nhìn phiến diện, chủ
quan.
Nh vậy trong câu chuyện trên, tuy nhân vật là con ngời nhng tác giả đã mợn
chuyện này để nói chuyện kia, mợn hệ thống sự kiện tạo thành cốt truyện, nhng
mục đích là hớng đến một bài học kinh nghiệm sống. Đây là đặc trng rất riêng
của truyện ngụ ngôn. Điều này khác hẳn với các loại truyện khác.
b. Mục đích cao nhất mà truyện ngụ ngôn phải đạt đến, nh trên đã nói, là đa
ra một bài học triết lí về xã hội và loài ngời.
Truyện cổ tích kể về bản thân những mâu thuẫn của xã hội và con ngời.
Truyện ngụ ngôn không nhằm dựng lại những bức tranh về xã hội và con ngời
nh thế. Cốt truyện ngụ ngôn chỉ gồm một số sự kiện nghệ thuật đợc lựa chọn
nhằm làm sáng tỏ một bài học triết lí đã đợc định sẵn từ trớc. Chính do cả truyện
là một ẩn dụ nên bài học triết lí đợc thể hiện không phải bằng những lời lẽ khô

cũng có sự thay đổi, vì thế chúng ta luôn học tập để mở mang tầm hiểu biết của
mình.
Nh vậy, mỗi truyện ngụ ngôn đều có hai phần: Phần cốt truyện và phần bài
học rút ra. Phần cốt truyện chỉ là phơng tiện, phần bài học ra mới là mục đích
cuối cùng. Khi dạy truyện ngụ ngôn, cả ngời dạy và ngời học nhất định phải làm
đợc điều ấy.
c. Ngoài hai đặc trng trên, ta thấy truyện ngụ ngôn còn là sản phẩm của trí t-
ởng tợng.
Hơn cả truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn cũng có yếu tố tởng tợng. Nhng
không giống nh truyện cổ tích, sự tởng tợng phải chịu sự hớng dẫn của lí trí. Ng-
ời ta cũng để cho trí tởng tợng tha hồ bay bổng: cho chim biết nói, cho cây biết
đau, cho vật biết suy nghĩ. Song sự tởng tợng này cũng phải dựa trên sự quan sát
thực tế. Cái khó của truyện ngụ ngôn chính là ở chỗ này. Làm sao cho từng con
vật tiêu biểu cho một hạng ngơì nhất định. Trong ngụ ngôn của ta, con Dơi đợc
xem là tiêu biểu cho hạng ngời hai mặt, phải cũng đợc, trái cũng đợc, lợi dụng
sự nhập nhằng để trốn tránh trách nhiệm tuỳ theo từng trờng hợp. Sở dĩ nh vậy vì
con Dơi cứ bề ngoài mà xét thì là loài nửa chim, nửa thú, nhập vào loài có cánh
cũng đợc, nhập vào loài có vú cũng đợc. Hay trong truyện Thầy bói xem voi, dựa
trên thực tế những ngời mù không nhìn thấy sự việc, thờng hay dùng tay để cảm
nhận thay cho dùng mắt để quan sát. Chính vì thế cả năm thầy bói, không ai nói
đúng hình thù của con voi. Nh vậy sự tởng tợng trong truyện ngụ ngôn vẫn phải
phục tùng những điều kiện nhất định. Sự tô vẽ của óc tởng tợng chỉ làm cho bài
học, sâu sắc hơn, thấm thía hơn. Ngời nghe truyện ngụ ngôn không mong đợi
phải là một kết thúc có hậu nh truyện cổ tích mà ngời ta chờ đợi một bài học nào
đó sẽ rút ra.
Còn trong truyện cổ tích, sự tởng tợng nhiều khi có tính chất lãng mạn. Trong
cổ tích, yếu tố tởng tợng đợc thêm vào với ý nghĩa bổ trợ, bổ sung vào chỗ cuộc
7
đời không thể tiến triển theo ớc vọng của nhân dân Ví dụ nh trong truyện Tấm
Cám, nhân dân muốn kẻ ác phải bị trừng trị, ngời hiền lành sẽ đợc hởng hạnh

vạch trần bản chất giả dối, tính không thay đổi của giai cấp thống trị. Tác giả dân
gian đã khôn khéo khuyên ngời lao động hãy cảnh giác với bọn cầm quyền giả
nhân, giả nghĩa, quen thói lừa bịp nhân dân. Truyện Chèo bẻo và ác đa ra một
thái độ sống mạnh mẽ tích cực hơn: Cần tránh xa bọn thống trị gian xảo, độc ác
và khi cần, hãy đoàn kết, đánh lại chúng, đó là cách tự vệ tốt nhất của ngời dân
bị áp bức.
8
Còn về truyện cời, không phải là loại truyện đợc đặt ra để giải trí đơn thuần,
càng không phải những viên thuốc an thần khiến con ngời có khổ, quên khổ, có
thù, quên thù. Đằng sau tiếng cời là những suy nghĩa hết sức nghiêm túc, có ý
nghĩa sâu sắc. Không cần dùng lí luận đao to búa lớn, chỉ bằng những tiếng cời
đủ cung bậc, truyện cời cũng là tiếng nói khuyến khích ngời ta dám coi thờng
nền thống trị phong kiến hiện hành. Cái cời một khi đi vào quần chúng sẽ biến
thành sức mạnh vật chất thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh.
Nh vậy, nếu nói về việc phản ánh cuộc đấu tranh xã hội thì cả ba loại truyện:
truyện cổ tích, truyện cơì, truyện ngụ ngôn đều thể hiện nội dung trên. Song ở
mỗi thể loại có cách thể hiện riêng của mình.
b. Truyện ngụ ngôn nêu ra những bài học triết lí, những kinh nghiệm sống.
Nh trên đã nói, đây là mục đích cuối cùng của truyện ngụ ngôn. Những bài
học mà truyện ngụ ngôn nêu ra có liên quan đến lĩnh vực nhận thức. Truyện ngụ
ngôn thờng dẫn ngời ta đến nhận thức đúng đắn bằng cách nêu ra những tai hại
do nhận thức sai lầm gây nên. Đó là cách chứng minh bằng cách phản chứng
rất độc đáo, giúp bài học đến với ngời nghe một cách tự nhiên, ngời nghe không
có cảm giác bị áp đặt mà tự rút ra bài học cho mình.
Truyện Phù du và đom đóm đã phê phán cách nhìn sự đời một cách chủ quan,
chật hẹp, kinh nghiệm chủ nghĩa của con Phù du: Kiếp sống của nó quá ngắn, từ
lúc nở ra cho đến lúc chết cha hết một ngày, bởi vậy nó cha hề thấy Mặt Trời lặn
và bóng đêm ập xuống. Nhng nó lại lấy kinh nghiệm hạn hẹp và chủ quan ấy
thay thế chân lí khách quan và vĩnh cửu là có ngày và đêm. Con Đom Đóm bị
mắng mà cam chịu bỏ đi vì nó hiểu rằng đối với hạng ngời nhận thức hạn hẹp,

+ Các vị chức sắc đã phán thì dân chỉ có việc phục là chí lí đồng thanh ng
thuận
+ Việc nặng nhọc, khó khăn nguy hiểm nhất, đùn đẩy thế nào thì cuối cùng
vẫn rơi vào anh thấp cổ bé họng.
+ Sáng kiến đeo nhạc cho Mèo chỉ là thứ ý tởng viển vông, về lí thuyết thì có
vẻ hay ho nhng trên thực tế thì không áp dụng đợc. Nó cũng ám chỉ cả những ng-
ời chỉ có mớ lí thuyết suông, vào thực tế thì không đợc việc gì.
- Nghệ thuật nhân hoá: trong truyện ngụ ngôn, không ít các con vật, loài vật
đợc nhân hoá. Chúng có suy nghĩ, nói năng, hành động nh con ngời.
+ Ví dụ trong truyện Hơu và Rùa, thành công của nghệ thuật nhân hoá ở đây
là chọn hai con vật có những nét đối lập nhau: Hơu cao, to, khoẻ, chạy nhanh. lại
sống trên cạn; Rùa nhỏ bé, chận chạp, lại sống dới nớc. Để cho hai con vật có
những nét tơng phản ấy kết bạn với nhau thì bài học giáo dục tình ngời mới thấm
thía.
Hay trong truyện ếch ngồi đáy giếng, ếch cũng có những suy nghĩ, cảm nhận,
hành động thái độ nh con ngời. Đó còn là một hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, thái độ
nghênh ngang, kiêu ngạo của ếch chỉ có thể là thái độ của con ngời, của một kẻ
chủ quan, kiêu ngạo. Nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ ở đây có tác dụng làm cho câu
chuyện thêm sinh động và bài học triết lí về cuộc sống càng thêm sâu sắc, thấm
thía.
- Ngoài nhân hoá ra, truyện ngụ ngôn cũng sử dụng nhiều hình ảnh so sánh:
Khi bắt gặp những hình ảnh so sánh này, giáo viên nên cho học sinh phát hiện
10
và chỉ ra sự độc đáo của những hình ảnh so sánh đó, từ đó mới thấy đợc trí tởng
tợng của nhân dân ta phong phú đến nhờng nào.
+Ví dụ: Truyện Thầy bói xem voi, những hình ảnh so sánh nh :
+ sun sun nh con đỉa
+ chần chần nh cái đòn càn
+ bè bè nh cái quạt thóc
+sừng sững nh cái cột đình

hiện đúng trình tự các thao tác sau:
11
a.Tìm hiểu nghĩa đen của truyện
b. Tìm hiểu nghĩa bóng của truyện
c.Suy ngẫm về bài học ngụ trong câu chuyện
d. Nhận xét về nghệ thuật câu chuyện
Ngay trong tiết đầu của phần truyện ngụ ngôn, giáo viên cần giải thích cho
học sinh về nghĩa đen và nghĩa bóng của truyện: Nghĩa đen là nghĩa bề ngoài,
nghĩa bóng là nghĩa sâu kín. Nghĩa đen của truyện ngụ ngôn là nghĩa của chính
câu chuyện kể, đợc coi là phần xác, của truyện, nghĩa bóng là ý tứ sâu kín gửi
gắm trong đó, đợc coi là phần hồn của nó.
- ở truyện ngụ ngôn, câu chuyện kể không nhằm thuật lại cuộc đời của một
nhân vật nào đó ( nh trong cổ tích). Câu chuyện kể ở truyện ngụ ngôn chỉ gói
gọn trong một cảnh đại khái nh một màn kịch, ở đó diễn ra hoạt động ở một số
vai trong một tình huống cụ thể. Tìm hiểu nghĩa đen của câu chuyện thì học sinh
tự tìm đợc, không khó khăn gì. Giáo viên chỉ cần lu ý các em phân tích hành
động các vai trong tình huống cụ thể và kết cục câu chuyện. Nhng đến bớc tìm
hiểu nghĩa bóng thì học sing cần đợc gợi ý sát hơn. Trớc hết, cần giúp học sinh
xác định các vai trong truyện ám chỉ những hạng ngời nào trong xã hội. Từ đó
hiểu nghĩa ám chỉ của cả câu chuyện và rút ra ý tứ gửi gắm trong đó. Việc này
cũng không mấy khó khăn vì cách nói bằng ngụ ngôn chẳng qua là cách nói
bằng ẩn dụ. Có điều ở đây ẩn dụ là cả một câu chuyện, không phải là một hình
ảnh. Thêm nữa nói bằng ngụ ngôn cốt để thuyết phục ngời nghe về điều mình
muốn nói qua câu chuyện chứ không nhằm đánh đố họ.
- Tuy vậy, bài học trong truyện ngụ ngôn có thể có nhiều lớp nghĩa. Giáo viên
chỉ nên chọn lớp nghĩa dễ tiếp nhận đối với học sinh và có nghĩa thiết thực đối
với việc giáo dục t tởng và rèn luyện t duy cho các em. Cùng với việc đánh giá
bài học rút ra , giáo viên nên chú ý loại bài tập đòi hỏi học sinh nghĩ ra một vài
trờng hợp ứng dụng truyện ngụ ngôn vừa học. Đó là cách trắc nghiệm chính xác
nhất về mức độ tiếp nhận bài học về truyện ngụ ngôn của các em.

ở đây chính là cá nhân không thể tồn tại nếu tách rời cộng đồng; trong một cộng
đồng, mỗi cá nhân đều có vai trò riêng và sự hoạt động tốt hay xấu đều có ảnh
hởng đến những cá nhân khác cũng nh toàn thể cộng đồng.
- Bài học rút ra từ câu chuyện này có ý nghĩa triết lí. Giáo viên cần diễn đạt bài
học này một cách dễ hiểu. Tốt nhất là diễn giải bằng ví dụ ( chẳng hạn có thể nói
về mối quan hệ giữa cá nhân mỗi học sinh với nhau trong lớp)
c, Suy nghĩ về bài học rút ra trong truyện
Về lí chung,bài học này là đúng đắn. Bài học này cũng gần với t tởng mỗi
ngời vì mọi ngời, mọi ngời vì mỗi ngời. Hiểu thật đơn giản, nó là lời khuyên ta
không nên tị nạnh, chỉ tính đến công lao của mình mà không đánh giá đúng đến
đóng góp của ngời khác, nhất là khi đóng góp đó âm thầm khó thấy
( Tuy nhiên , nếu suy diễn, chẳng hạn, lão Miệng ví nh ông chủ, cô Mắt, cậu
Chân, cậu Tay ví nh ngời làm, thì bài học sẽ bị hiểu sai. Giáo viên nên dự phòng
trờng hợp này để giải thích, nhng không cần đặt ra cho vấn đề phức tạp.
d, Nhận xét về câu chuyện kể
Cách chọn vai, dựng truyện tơng đối khéo. Quan hệ giữa các bộ phận đợc chọn
để dựng thành các vai khá hợp lí: Chân, Tay, Tai, Mắt ngừng làm việc thì Miệng
cũng nghỉ ăn. Miệng nghỉ ăn thì các bộ phận kia cũng liệt. Cách gọi tên (cô
Mắt, cậu chân, cậu tay ) nhất là cách tả các vai khi ngừng làm việc , bị hết
13
hơi khá phù hợp. Nhờ vậy, câu chuyện hấp dẫn đợc ngời nghe và đa ra bài học
nhẹ nhàng vào tai họ.
II.6. Minh hoạ tiết dạy: Tiết 39- Văn bản ếch ngồi đáy giếng
Trên cơ sở đã tìm hiểu về nội dung, ý nghĩa, mục đích của truyện ngụ ngôn,
sau đây tôi xin minh hoạ bằng một tiết dạy cụ thể: ếch ngồi đáy giếng
**************************
Ngày soạn:
Ngày giảng: Tiết 39
ếch ngồi đáy giếng


cách đối nhân xử thế cho mọi ngời. Đó chính là truyện ngụ ngôn- một loại
truyện dân gian tiêu biểu của chúng ta.
Hoạt động của thầy và trò
? Dựa vào kiến thức sgk, hãy nêu khái
quát về tác giả, tác phẩm?
?Truyện ếch ngồi đáy giếng thuộc loại
truyện nào?Em hãy nêu hiểu biết của
mình về truyện ấy?
-Đó là những truyện mợn truyện của loài
vật, đồ vật hoặc chính con ngời để nói
bóng gió kín đáo chuyện con ngời, nhằm
khuyên nhủ, răn dạy ngời ta một bài học
Nội dung
I. Giới thiệu tác giả,tác phẩm .
1. Tác giả: Nhân dân
2. Tác phẩm: Thuộc thể loại truyện
ngụ ngôn.
14
nào đó.
- Truyện bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa
bóng. Nghĩa đen là nghĩa bề ngoài. nghĩa
bóng là ý sâu kín gửi gắm trong câu
chuyện.
? Theo em nên đọc văn bản này với một
giọng điệu nh thế nào? ( Đọc theo giọng
kể, nhấn mạnh vào các chi tiết tả hành
động,cử chỉ, lời nói của nhân vật.)
-GV đọc một lần.
- Gọi một HS đọc, nhận xét.
- Yêu cầu HS kể laị truyện-> nhận xét.

không? Vì sao?(Bầu trời, mặt đất bao la
Sở dĩ ếch có cách nhìn nhận sai nh vậy vì
ếch cha bao giờ đựơc ra khỏi giếng )
?Trong không gian ấy, ếch cảm thấy
mình nh thế nào? Theo em vì sao ếch lại
có cảm nhận nh vậy?(xung quanh ếch chỉ
3. Đọc,hiểu chú thích.
a. Đọc và kể:
b. Chú thích:sgk
II. Phân tích văn bản.
1.Kết cấu,bố cục:
-Bố cục:+ ếch khi ở trong giếng.
+ ếch khi ra khỏi giếng.
- Phơng thức biểu đạt: Tự sự
-Ngôi kể thứ 3, kể theo thứ tự tự
nhiên.
2. Phân tích.
a. ếch khi ở trong giếng.
* Hoàn cảnh sống:
- Sống lâu ngày trong một cái
giếng.
- Xung quanh chỉ có vài con vật bé
nhỏ.
- Hàng ngày, ếch cất tiếng kêu ồm
ộp khiến các con vật khác hoảng
sợ.
-> Môi trờng sống chật hẹp,đơn
giản, trì trệ.
* Suy nghĩ, cảm nhận
- Tởng bầu trời chỉ bé bằng cái

giờ )
-GV: ếch đã ru ngủ mình trong vơng quốc
đáy giếngkhông phải một ngày, hai ngày
mà là một thời gian dài. Rồi đến một ngày
ếch có cơ hội đợc ra khỏi giếng, ở không
gian mới ếch có thay đổi đợc cách nhìn
nhận của mình không->chuyển phần b.
?Nguyên nhân nào khiến ếch ra khỏi
giếng?
?Vậy việc ếch ra ngoài là do nguyên
nhân chủ quan hay khách quan?
?Lúc này môi trờng sống của ếch có gì
thay đổi?
? Thế nhng ếch có nhận ra điều đó
không? Vì sao?( không nhận ra vì ếch vẫn
có thái độ đó)
? Em đánh giá nh thế nào về thái độ của
ếch? Tại sao ếch lại có thái độ nh vậy?(vì
ếch tởng bầu trời vẫn là cái giếng của
mình, mọi vật xung quanh vẫn là những
thần dân nhỏ bé của mình. Và mình vẫn cứ
là một vị chúa tể=>nh vậy môi trờng đã
thay đổi nhng tầm nhìn của ếch vẫn không
hề thay đổi )
? Kết quả của sự chủ quan kiêu ngạo ấy
là gì?
? Em có suy nghĩ gì về kết cục trên?
? Theo em, vì sao ếch lại có kết cục nh
vậy?(coi thờng thế giới xung quanh, sống
lâu ngày trong giếng nên không có kiến

một bài học về nhân sinh quan
? Em có suy nghĩ gì về bài học ấy?
- HS tự bộc lộ: Là bài học sâu sắc với tất cả
mọi ngời, nhất là những kẻ có tính chủ
quan, kiêu ngạo
? Em hãy nêu giá trị nội dung, t tởng của
truyện?
?Truyện thành công bởi những yếu tố
nghệ thuật nào?
_ HS đọc ghi nhớ sgk.
? Em hãy tìm câu thành ngữ có liên
quan đến câu chuyện này?
- GV treo bức tranh vẽ minh hoạ cảnh ếch
khi ở trong giếng và ếch khi ra khỏi giếng-
> HS nhìn tranh kể lại câu chuyện-> Nêu
bài học cho bản thân
-> Không nhận thức rõ giới hạn của
mình sẽ thất bại thảm hại.
->Không nên kiêu ngạo, chủ quan,
coi thờng ngời khác.
->Chịu khó học hỏi để mở mang
tầm hiểu biết của mình.
III. Tổng kết.
1. Nội dung: Từ câu chuyện con
ếch, nhân dân muốn khuyên chúng
ta không kiêu ngạo,chủ quan, nên
cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của
mình.
2. Nghệ thuật:
- Trí tởng tợng phong phú.

Trong những năm công tác, đặc bịêt khi đợc nhà trờng phân công giảng dạy
bộ môn Ngữ văn 6- lớp đầu tiên của khối THCS - tôi đã cố gắng hết mình, suy
nghĩ trăn trở để tìm ra cách đi, cách khai thác một tác phẩm sao cho học sinh dễ
cảm nhận . Với những cố gắng đó tôi thấy rằng học sinh của tôi có phần hứng
thú với môn Văn hơn. Những gìơ dạy của tôi học sinh rất sôi nổi, hào hứng. Đặc
biệt các em đã phát huy đợc tính tích cực, chủ động của mình. Có những em có
những phát hiện rất mới mẻ, những những suy nghĩ rất sáng tạo, nhiều khi ngoài
cả dự kiến của giáo viên. Có thể các em cha phải là giỏi hoặc số học sinh giỏi rất
ít song ít nhất tôi nhận thấy các em đã bắt đầu yêu thích bộ môn này. Đặc biệt rất
thích những câu chuyện ngụ ngôn thấm đợm triết lí nhân gian. Chính sự yêu
thích của các em là nguồn động viên, khích lệ để tôi cố gắng hơn, say mê với
nghề hơn. Cũng từ đó mà chất lợng giảng dạy của tôi đợc nâng lên. Cụ thể là:
Lớp Giỏi Khá TB Yếu
Mặc dù đây còn là một kết quả rất khiêm tốn song đó cũng là một cố gắng rất
lớn của một giáo viên vùng sâu, vùng xa nh chúng tôi.
C. Kết luận
Nh vậy, truyện ngụ ngôn không những chứa đựng t tởng triết lí mà còn phản
ánh cả những quan niệm sống và đấu tranh của nhân dân ta. Nếu nh truyện cổ
tích nặng về nặng về phản ánh cuộc sống, truyện cời nặng về vạch trần mặt lạc
hậu, sai trái của cuộc sống, thì truyện ngụ ngôn nặng về khuyên ngời ta nên làm
gì trong cuộc sống ấy. Tất nhiên không thể phân định ranh giới tuyệt đối giữa nội
dung của ba truyện đợc, vì cả ba truyện đều phản ánh thế giới quan, nhân sinh
quan của nhân dấn, đều phản ánh cuộc sống lao động và đấu tranh giai cấp của
nhân dân. Khi nhận định về nội dung truyện ngụ ngôn có lẽ cần nhấn mạnh vào
18
đặc điểm của truyện là thiên về mặt giáo dục hơn là phản ánh hiện thực. Và đó là
chỗ khá nhau giữa truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích.
Tóm lại, đối với nhân dân thì truyện ngụ ngôn có tác dụng nhẹ nhàng mà
thấm thía. Truyện càng duyên dáng, đậm đà càng có nhiều thi vị. Vì vậy, khi
dạy truyện ngụ ngôn chúng ta không chỉ chú ý đến câu chữ, đấy chỉ là phần nổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status