Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng, khả
năng nguồn vốn còn hạn hẹp, nhu cầu công ăn việc làm là rất cấp bách. Nỗ lực
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, khai thác có
hiệu quả tiềm năng đa dạng về nông - lâm - ngư nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế hình thành các vùng tập trung chuyên canh, đưa công nghệ sinh học
và các phương pháp tiên tiến vào nông nghiệp, đảm bảo vững chắc nhu cầu
lương thực, thực phẩm cho cả thành thị và nông thôn, tạo nguồn nguyên liệu có
khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ…góp phần tăng trưởng phát triển
kinh tế nói chung và nông thôn nói riêng đang là vấn đề bức xúc.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tăng trưởng kinh tế nhanh, bền
vững cần có vốn. ở nước ta theo các đánh giá của một số chuyên gia kinh tế, vốn
đóng góp khoảng 60-70% mức tăng trưởng, còn lại 30-40% là các yếu tố khác.
Vì vậy vốn là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển, là tiền đề cho sự
tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá hiện nay khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm
trên 75% dân số và hơn 70% lao động xã hội tập trung ở địa bàn nông thôn. Để
phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách tín dụng Ngân
hàng đã được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu. Một trong những chủ trương chính
sách đổi mới quan trọng về tín dụng ở khu vực nông thôn là: “Chủ trương thí
điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân”. Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân
nói chung và quỹ tín dụng cơ sở nói riêng đã khai thác nguồn vốn tại chỗ, đáp
ứng trực tiếp, kịp thời cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống nhân dân và
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy tình trạng khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn
thiếu vốn sản xuất kinh doanh; nạn cho vay nặng lãi, đáp ứng nhu cầu vốn chưa
kịp thời. Việc huy động vốn và cho vay tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân
vừa trực tiếp góp phần khắc phục tình hình thực tế trên, vừa góp phần vào quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên điạ bàn tỉnh Thanh
kết hệ thống, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 290.
- Lê Xuân Đào (2007), Hoàn thiện quản lý QTDND trên địa bàn tỉnh Kon Tum,
Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Những quy định pháp lý và nghiên cứu trên đây đề cập một số nội dung về mô
hình tổ chức và vận hành QTDND, chưa đề cập nhiều về huy động vốn và cho
vay tín dụng QTDND cơ sở. Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá chưa có công trình
nghiên cứu nào về đề tài được tác giả lựa chọn trên đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài làm rõ huy động vốn và cho vay tín
dụng tại các QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
* Đề tài có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ nội dung cơ bản về huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ
sở, ý nghĩa đối với phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu khu vực nông nghiệp,
nông thôn.
- Phân tích thực trạng huy động vốn và cho vay tín dụng của QTDND cơ sở đối
với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động vốn và cho vay tín dụng tại các
QTDND cơ sở một cách hiệu quả góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
tỉnh Thanh Hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở.
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Tập trung nghiên cứu lý luận, thực trạng và những giải pháp về
huy động vốn và cho vay tín dụng tại các QTDND cơ sở đối với phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn tỉnh, chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
+ Về không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hoá
+ Về thời gian: Khảo sát, đánh giá thực tế huy động vốn và cho vay tín dụng tại
QTDND cơ sở trên địa bàn từ năm 1995 trở lại đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài thực hiện trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu về
nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các
thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên, giúp
nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải
thiện đời sống. Hoạt động của QTDND cơ sở là phải đảm bảo bủ đắp chi phí và
có tích luỹ để phát triển” [9].
* Bản chất của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
QTDND cơ sở là một tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động trong lĩnh vực tín dụng
ngân hàng, với mục tiêu là tương trợ giữa các thành viên. QTDND cơ sở là một
hình thức tổ chức kinh tế, một bộ phận của thành phần kinh tế Tập thể trong nền
kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế. Nó được thành lập theo nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động. Nói cách khác,
đó là một tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tín dụng.
* Đặc điểm của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
- QTDND cơ sở được xây dựng tại địa bàn xã, phường, liên xã, liên phường,
cụm kinh tế có đủ điều kiện, là một tổ chức không chỉ về kinh tế mà còn là tổ
chức xã hội gồm những người trên cùng địa bàn, có cùng tập quán, quan hệ làng
xóm gần gũi, huyết tộc, dòng họ, tự trọng cao. Mỗi quỹ là một đơn vị hạch toán
độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, là nơi trực tiếp giao dịch với khách hàng và
thành viên.
- QTDND cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động với mục tiêu hỗ
trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Điều đó được hiểu rằng,
QTDND cơ sở không phải là tổ chức hoạt động vì mục đích tương thân, tương ái
mà chỉ là phương tiện của các thành viên để hỗ trợ họ trong các lĩnh vực như
huy động, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác. Đây là mục tiêu
chủ yếu của QTDND cơ sở và là điểm khác biệt nhất giữa QTDND cơ sở dưới
tư cách pháp nhân hợp tác xã với các tổ chức tín dụng khác. QTDND cơ sở
không theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận như các tổ chức tín dụng khác mà
mục tiêu của họ là tối đa hoá lợi ích thành viên. Mặt khác chủ sở hữu, cổ đông hay
thành viên của các tổ chức tín dụng hoặc các ngân hàng khác thành lập doanh
nghiệp trước tiên là để tìm cách thu về lợi nhuận tối đa cho họ thì QTDND cơ sở
lợi hơn nhiều so với các tổ chức tín dụng khác trên cùng địa bàn.
1.1.2. Mô hình tổ chức, mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của Quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở
1.1.2.1. Mô hình tổ chức quỹ tín dụng nhân dân, chức năng, nhiệm vụ
của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Việc hình thành mô hình QTDND cơ sở phải được điều chỉnh theo pháp lệnh “ngân
hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính” đồng thời xây dựng mô hình này so
với các Hợp tác xã tín dụng trước đây có điểm khác biệt nổi trội là hoạt động kinh
doanh của các QTDND cơ sở được cấu thành một hệ thống liên kết chặt chẽ
QTDND cơ sở qua cấp trung gian là Quỹ tín dụng khu vực (trước đây) đến QTDND
Trung ương. Những năm gần đây, ở Việt Nam đưa ra ý tưởng đề án thí điểm đặt ra
một tổ chức liên kết (Hiệp hội) giống như ở các nước phát triển: Canada, Cộng hoà
liên bang Đức, Pháp. Do vậy ban chỉ đạo thí điểm thành lập QTDND đã trình chính
phủ mô hình hệ thống QTDND theo hai phương án.
* Phương án 1: Hệ thống QTDND thành lập ba cấp, gồm QTDND cơ sở ở xã,
phường, QTDND khu vực ở các tỉnh, thành phố và QTDND Trung ương.
* Phương án 2: Hệ thống QTDND thành lập hai cấp, gồm QTDND cơ sở và
QTDND Trung ương. Thực hiện phương án này QTDND Trung ương có thể mở
chi nhánh tại một số khu vực để giao dịch với QTDND cơ sở [25, tr.15].
Sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai phương án một đề án thí
điểm thành lập QTDND, Thống đốc NHNN đã ban hành quy chế tổ chức và
hoạt động QTDND cơ sở, điều lệ mẫu QTDND cơ sở, quy chế hoạt động của hệ
thống QTDND. Mô hình tổ chức QTDND, chức năng, nhiệm vụ của QTDND cơ
sở như sau:
- Thứ nhất: Mô hình tổ chức hệ thống QTDND.
Từ khi thí điểm thành lập QTDND đến tháng 06 năm 2001 mô hình hoạt động
QTDND gồm 03 cấp: Đó là QTDND Trung ương, QTDND khu vực và QTDND
cơ sở:
Mô hình như sau:
Sơ đồ 1.1: Mô hình Tổ chức hệ thống QTDND
tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá
nhân, hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo luật nhằm
mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống,
khai thác và sử dụng vốn đáp ứng nhu cầu của mọi thành viên.
Huy động vốn của QTDND cơ sở bao gồm:
. Vốn góp của các thành viên
. Huy động vốn tiết kiệm, nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế, các đoàn
thể.
. Vốn vay từ các dự án: thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối để tham
gia các dự án đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Nhận vốn điều hoà từ QTDND Trung ương (trước năm 2001 là QTDND khu
vực).
Thông qua chức năng này QTDND cơ sở đã góp phần chuyển hoá sử dụng
nguồn vốn, đáp ứng sản xuất và lưu thông hàng hoá trong dân cư.
+ Hai là: Chức năng cho vay.
Sử dụng vốn ở QTDND cơ sở chủ yếu là cho vay thành viên, đây cũng là chức
năng cơ bản của QTDND cơ sở. Với vốn huy động được từ các nguồn, QTDND
cơ sở cho vay hỗ trợ các thành viên là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, trên
địa bàn nhằm góp phần thúc đẩy việc mở rộng, khôi phục ngành nghề, đáp ứng
nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống, hạn chế cho vay nặng lãi ở vùng
nông nghiệp, nông thôn.
Ngoài hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản trên, QTDND cơ sở còn thực hiện chức
năng tư vấn chăm sóc thành viên.
Phần lớn thành viên QTDND cơ sở là hộ sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp, ở khu vực nông thôn, có nhiều hạn chế nên ngoài nhiệm vụ
huy động vốn và cho vay, thì QTDND cơ sở còn thường xuyên tư vấn cho thành
viên như: Phương án, dự án sản xuất kinh doanh để có hiệu quả, số vốn cần đầu tư,
thời gian sử dụng vốn … nhằm giúp thành viên phát triển kinh doanh và sử dụng
vốn có hiệu quả, hạn chế tối đa nhất rủi ro trong tín dụng.
Mặt khác QTDNDcơ sở quan tâm chăm sóc thành viên lúc khó khăn, hoạn nạn,
sở. Đây cũng chính là thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta.
- Thứ hai: Nguyên tắc quản lý dân chủ và bình đẳng; điều này có nghĩa là các
thành viên được tự mình toàn quyền quản lý, quyết định các vấn đề của QTDND
cơ sở trong khuôn khổ và theo các quy định của pháp luật, mà không chịu bất cứ
sự can thiệp, chi phối hay sự chỉ đạo nào từ bên ngoài. Các thành viên tự quản lý
thông qua việc tham gia và chỉ có họ duy nhất mới được quyền tham gia vào cơ
quan quyền lực cao nhất của QTDND cơ sở, đó là Đại hội thành viên hoặc là
Đại hội đại biểu thành viên; tại Đại hội, thành viên thể hiện quyền và trách
nhiệm của mình để lựa chọn, đề cử, ứng cử, bầu cử đề nghị chi nhánh ngân hàng
nhà nước tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm ban điều hành, ban kiểm soát của QTDND
cơ sở nhằm thực hiện quản lý, điều hành và giám sát hoạt động của QTDND cơ
sở. Tự quản lý ở đây được thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng, mọi
thành viên của QTDND cơ sở đều có quyền và trách nhiệm tham gia quản lý và
quyết định như nhau, không phân biệt giầu nghèo, địa vị xã hội … và đặc biệt là
không phân biệt số vốn góp vào QTDND cơ sở. Người góp nhiều cũng như
người góp ít đều chỉ có một quyền biểu quyết ngang nhau. Đây cũng là điểm
khác biệt cơ bản trong quản lý của QTDND cơ sở so với các tổ chức tín dụng
khác.
Nguyên tắc tự quản lý dân chủ, bình đẳng đã đề cao sự tham gia, vai trò cá nhân
phát huy tinh thần trách nhiệm của tất cả mọi thành viên vào tập thể để tạo sức
mạnh chung lớn hơn, giúp họ giải quyết các vấn đề đang vướng mắc. Nguyên
tắc tự quản lý, tham gia điều hành và giám sát sẽ góp phần đảm bảo cho
QTDND luôn bám sát mục tiêu tương trợ thành viên.
- Thứ ba: Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Điều này thể hiện các
chủ sở hữu là thành viên phải đóng góp đủ số vốn cần thiết, tối thiểu phải ở mức
vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước, để cho QTDND cơ sở hoạt động, tự
chịu trách nhiệm về sự tồn tại, duy trì hoạt động và kết quả hoạt động của mình,
đoàn kết thống nhất cao cùng chịu trách nhiệm với mọi hoạt động của Quỹ.
Thực hiện nghĩa vụ đối với QTDND cơ sở, sự tự chịu trách nhiệm, không phải
là vô hạn mà chỉ tự chịu trách nhiệm bằng số vốn góp vào QTDND cơ sở và các
trên đây [12].
1.1.3. Hoạt động chủ yếu và vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối với
khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn
1.1.3.1. Các hoạt động chính của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Những hoạt động chủ yếu của QTDND cơ sở bao gồm như sau:
- Thứ nhất, huy động vốn: QTDND cơ sở được huy động vốn góp của thành
viên gồm vốn cổ phần xác lập và cổ phần thường xuyên. Đặc điểm của nguồn
vốn này là chỉ huy động của thành viên. Đối với nguồn vốn huy động tiết kiệm,
QTDND cơ sở được nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của thành
viên và người ngoài thành viên kể cả cá nhân và tổ chức kinh tế kể cả trong địa
bàn và ngoài địa bàn.
QTDND cơ sở được vay vốn từ các nguồn vốn dự án của Chính phủ, các tổ chức
phi chính phủ, … Thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối, được nhận vốn
điều hoà từ Quỹ tín dụng Trung ương và được khai thác các nguồn khác như:
Vốn tài trợ của các tổ chức ,cá nhân trong nước và nước ngoài, các nguồn vốn
uỷ thác cho vay…. theo quy định của ngân hàng Nhà nước.
- Thứ hai, cho vay của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Hoạt động cho vay theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn về vốn giữa
QTDND cơ sở với các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp theo nguyên tắc hoàn
trả cả vốn và lãi.
Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của QTDND cơ sở, đem
lại nguồn thu nhập chính cho QTDND cơ sở và cũng là hoạt động có rủi ro tiềm
ẩn cao nhất. Có thể nói rằng hoạt động thành công của một QTDND cơ sở tuỳ
thuộc vào hoạt động cho vay. Hoạt động cho vay được an toàn sẽ đảm bảo cho
sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín dụng nói riêng và thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung. Vì vậy QTDND cơ sở nói riêng và các tổ chức tín dụng
nói chung khi cho vay luôn đặt ra cho mình mục tiêu là phải đảm bảo an toàn
nguồn vốn đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời của nguồn vốn đó.
Đối với QTDND cơ sở, đối tượng cho vay phải là thành viên của QTDND cơ sở
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Đây là điểm khác biệt nhất so với các
lý một phần tài sản của thành viên, vừa là nhà cung cấp vốn cho người dân trên
địa bàn nên đảm bảo tính ổn định và lâu dài, mặt khác qua hoạt động của
QTDND cơ sở, ý thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân, của thành viên được
nâng lên, những đồng vốn nhàn rỗi, vốn tiết kiệm được huy động để đưa vào đầu
tư phục vụ cho phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, dịch vụ tại các địa
phương. Thông qua các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung cấp thông tin của
QTDND mà nhận thức của thành viên cũng được nâng lên, các tệ nạn cho vay
nặng lãi, hụi họ được hạn chế đến mức tối đa; ý thức sử dụng vốn; kinh
doanh; phát triển sản xuất … được cải thiện rõ rệt. Tỉnh Thanh Hoá là một
minh chứng hiện nay có 42 QTDND với gần 40.000 thành viên tham gia
tương ứng với gần 40.000 hộ gia đình, vì thông thường mỗi hộ có một người
đại diện chủ hộ tham gia thành viên QTDND cơ sở. Bình quân mỗi QTDND
cơ sở trên địa bàn là 883 hộ được hưởng dịch vụ ngân hàng của QTDND cơ
sở. Điều đó sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn, tạo thêm nguồn lực mạnh mẽ nhằm
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Đặc biệt góp phần hổ trợ tích
cực cho địa phương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng trong nông nghiệp,
nông thôn, góp phần tạo điều kiện xoá đói giảm nghèo có hiệu quả trên địa
bàn.
Điều đáng chú ý là QTDND cơ sở hoạt động với tư cách như là một doanh
nghiệp trên địa bàn, nên hàng năm hệ thống QTDND cơ sở đã góp một phần
đáng kể các khoản thuế cho ngân sách địa phương, trực tiếp tham gia vào các
chương trình phát triển kinh tế xã hội ở xã, phường, hỗ trợ đắc lực nhất cho các
hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ là thành viên một cách kịp thời, tạo ra nhiều
việc làm và góp vào tăng trưởng kinh tế. Trong nhiều năm qua thực tiễn những
kết quả đạt được của hệ thống QTDND cơ sở trên địa bàn đã khẳng định vai trò
của hệ thống tín dụng hợp tác đối với địa bàn nông nghiệp, nông thôn. QTDND
cơ sở là một trong những yếu tố kinh tế quan trọng góp phần nâng cao đời sống,
thu nhập của người dân ở vùng nông thôn, tạo công ăn việc làm, đem lại ổn định
trật tự chính trị, xã hội trên địa bàn.
- Thứ hai, đối với thành viên: Mô hình QTDND cơ sở hình thành và xuất phát
đã góp cổ phần xác lập, để kinh doanh tiền tệ dưới hình thức cổ phiếu do
QTDND cơ sở phát hành hàng năm, chỉ có những người đã góp vốn xác lập rồi
mới được mua cổ phần thường xuyên. Hàng năm căn cứ vào kế hoạch kinh
doanh, QTDND cơ sở thông qua đại hội thành viên hoặc đại hội đại biểu thành
viên để bàn bạc và quyết định mệnh giá cổ phiếu thường xuyên và số lượng cổ
phần được phát hành phù hợp với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn cổ phần của
từng QTDND cơ sở, cổ phần thường xuyên và cổ phần xác lập được chia lợi tức
hàng năm theo kết quả kinh doanh của năm tài chính.
- Nguồn vốn huy động tiết kiệm: Đây là một trong những nguồn vốn chủ lực của
QTDND cơ sở, thường chiếm tỉ lệ cao nhất so với các loại nguồn vốn khác bao
gồm:
+ Tiền gửi không kỳ hạn
+ Tiền gửi có kỳ hạn
Của cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức đoàn thể . kể cả trong nước và nước ngoài.
- Nguồn vốn huy động khác:
QTDND cơ sở là thành viên của QTDND Trung ương, ngoài những quyền lợi
và nghĩa vụ khác thì QTDND cơ sở được QTDND Trung ương điều hoà vốn
bổ sung cho hoạt động kinh doanh bao gồm các nguồn vốn như sau:
+ Vốn đảm bảo thanh toán: có nghĩa là nguồn vốn cho QTDND cơ sở vay để chi
trả cho khách hàng rút tiền gửi đột xuất trước hạn mà bản thân QTDND cơ sở tại
thời điểm đó chưa có đủ nguồn để chi trả.
+ Nguồn vốn dự án: Thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối, QTDND cơ
sở tham gia vay vốn các dự án trong nước và nước ngoài.
+ Nguồn vốn thoả thuận: là nguồn vốn QTDND cơ sở nhận vốn điều hoà từ
QTDND Trung ương về cho thành viên vay để phát triển sản xuất kinh doanh,
dịch vụ đời sống, nhất là hổ trợ trong giai đoạn mùa vụ của thành viên.
+ Ngoài các nguồn vốn trên thì QTDND cơ sở còn huy động các nguồn vốn
khác như: nhận vốn tài trợ, vốn làm dịch vụ uỷ thác đầu tư của các pháp nhân,
thể nhân trong nước và nước ngoài, …
Khái quát cơ cấu nguồn vốn huy động qua sơ đồ sau:
Vốn điề lệ
Không kỳ hạn
Vốn t i trà ợ uỷ
thác
Cổ phần
thường xuyên
Cổ phần xác
lập
sách khách hàng như lãi suất hợp lý nhằm khai thác tối đa tiềm năng nguồn
vốn nhàn rỗi sẵn có tại địa phương.
- Thứ ba: Phần lớn cấp uỷ, chính quyền địa phương, các đoàn thể chính trị xã
hội ở những nơi có QTDND cơ sở hoạt động đã tích cực ủng hộ tuyên truyền
trong các hội nghị, trên các kênh thông tin đại chúng về mô hình hoạt động của
QTDND, nên nhân dân rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đồng thời tin
tưởng vào hoạt động QTDND cơ sở và yên tâm gửi tiền vào Quỹ. Mặt khác hệ
thống QTDND cơ sở đã tham gia bảo hiểm tiền gửi cho khách hàng theo quy
định của Nhà nước.
- Thứ tư: Qua quá trình hoạt động hệ thống QTDND không ngừng lớn mạnh và
tăng cường mối liên kết chặt chẽ trong toàn hệ thống nên đáp ứng nhanh nguồn
vốn chi trả thanh toán kịp thời, tuyệt đối không để mất lòng tin đối với khách
hàng và thành viên.
Tóm lại, QTDND cơ sở là một tổ chức kinh tế gần như cùng sống, cùng ăn,
cùng ở, cùng hiểu nguyện vọng, ước mong, nỗi niềm và khó khăn của người dân
sống tại nông thôn, gắn bó với nông nghiệp là chính.
* Nhược điểm huy động vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở:
- Thứ nhất: Mặc dù QTDND cơ sở đã rất tích cực và có nhiều thuận lợi trong
việc huy động vốn nhưng kết quả một số QTDND cơ sở còn thấp; đặc biệt là
vốn huy động tại chỗ. Điều này do nhiều nguyên nhân, có những QTDND cơ sở
tuyên truyền động viên nhân dân thực hiện chưa tốt, chưa sâu rộng nên người
dân có tiền, nhất là những món tiết kiệm lớn còn e ngại chưa thực sự tin tưởng
- Đối với nguồn vốn vay: Nguồn vốn dự án ở khu vực nông nghiệp, nông
thôn có nhiều lợi thế được hưởng các dự án đầu tư của nước ngoài, các dự án
của các tổ chức phi Chính phủ như dự án đầu tư trồng cây ăn quả, dự án hỗ trợ
tài chính vi mô, nhưng bất lợi là trình độ quản lý dự án của QTDND cơ sở, về
tham gia vốn đối ứng của thành viên, về sử dụng vốn còn nhiều bất cập, hạn chế.
Tóm lại: Về công tác huy động vốn tại các QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh có
nhiều thuận lợ,i khó khăn, đồng thời có nhiều lợi thế hơn so với các tổ chức tín
dụng khác, nhưng cũng có những điểm bất lợi trong công tác huy động vốn như
đã nêu ở phần trên.
1.2.2. Cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh
1.2.2.1. Hình thức cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Cho vay là hoạt động quan trọng của QTDND cơ sở, chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng tài sản, đem lại nguồn thu chính cho QTDND cơ sở và cũng là hoạt
động có tiềm ẩn rủi ro cao nhất, có thể nói thành công hay thất bại của QTDND
cơ sở tuỳ thuộc chủ yếu vào chức năng cho vay.
Cho vay có nghĩa là quan hệ vay mượn về vốn giữa QTDND cơ sở với các cá
nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp là thành viên QTDND cơ sở theo nguyên tắc có
hoàn trả (cả vốn và lãi).
Nội dung cơ bản của khái niệm cho vay là quan hệ vay mượn về vốn giữa hai
đối tác, một đối tác là chủ thể cho vay, còn đối tác khác là người đi vay và có thể
hoán đổi vị trí cho nhau theo từng trường hợp cụ thể. Sự chuyển dịch vốn giữa
hai đối tác là sự chuyển dịch quyền sử dụng vốn tạm thời được xác định bởi thời
hạn do hai bên thoả thuận, hết thời hạn, vốn được hoàn trả lại kèm theo lãi cho
đối tác sở hữu vốn đó và quan hệ giữa các bên vay và cho vay đều bị ràng buộc
bởi pháp luật hiện hành [23].
* Hình thức cho vay ở Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
- Thứ nhất, cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Đối với QTDND cơ sở,
hình thức cho vay không có đảm bảo là chủ yếu vì đối tượng vay vốn là thành
viên của QTDND cơ sở, thường cho vay những món nhỏ và là những thành viên
có uy tín, có quan hệ sòng phằng về tài chính.
- Thứ hai, nguồn vốn tín dụng tại QTDND cơ sở đầu tư cho vay thành viên hiệu
quả sử dụng vốn cao vì: phần lớn là thành viên vay vốn tại QTDND cơ sở những
món vay nhỏ mục đích chủ yếu là phát triển sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh nhỏ
ở địa bàn nông thôn, mà tính chất của QTDND cơ sở đáp ứng nguồn vốn nhanh
nên thành viên đầu tư ngay rất kịp thời với tính chất mùa vụ, đảm bảo tăng năng
suất vật nuôi, cây trồng hoặc sử dụng vốn cho nhu cầu phát triển khác đem lại
hiệu quả cao.
- Thứ ba, cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở ít rủi ro hơn, tỷ lệ nợ xấu rất thấp
mặc dù thực tế tỷ lệ cho vay không có đảm bảo cao hơn. Điều đó do:
. Công tác thẩm định rất thuận lợi (như đã nêu ở trên phần trên)
. Các món vay thường phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn và mục đích sử dụng
vốn nên phát huy được hiệu quả.
. QTDND cơ sở nắm chắc thời gian thu hồi vốn, cơ bản là mùa vụ thu hoạch sản
phẩm cây trồng, vật nuôi, vòng quay vốn kinh doanh….
. Mặc dù phần lớn QTDND cơ sở cho vay bằng hình thức tín chấp tức là chỉ dựa
vào phương án sản xuất kinh doanh và uy tín của bản thân thành viên mà tỉ lệ nợ
quá hạn thấp vì: ngoài khái niệm vay, trả thì họ còn đảm bảo bằng tư cách thành
viên của mình, ý thức trách nhiệm về xây dựng QTDND cơ sở; thực hiện quyền
và nghĩa vụ của thành viên. đây cũng là tính chất ưu việt trong hoạt động tín
dụng tại QTDND cơ sở.
- Thứ tư, nguồn vốn tín dụng ở QTDND cơ sở trên địa bàn xã, liên xã, phường,
liên phường tuy chưa nhiều nhưng đã góp phần tạo được công ăn việc làm, đặc
biệt khu vực nông nghiệp, nông thôn, hạn chế nạn cho vay nặng lãi góp phần ổn
định tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn.
* Nhược điểm của cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở:
- Thứ nhất, công tác thẩm định trước, trong và sau khi cho vay còn quá đơn
giản, công tác kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, tin tưởng thành viên là chính,
nhiều món vay QTDND cơ sở không đi thẩm định thực tế.
- Thứ hai, một số QTDND cơ sở còn chưa thực hiện đúng nguyên tắc cho vay
vì: xuất phát từ thực tế cán bộ tại QTDND cơ sở mới được đào tạo ngắn ngày,
cả về thời gian và nguồn vốn.
. Trình độ thẩm định, phân tích đầu tư dự án để đầu tư có hiệu quả đối với cán