vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với đời sống người dân miền núi ở huyện định hóa - tỉnh thái nguyên - Pdf 22



0
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MAI THỊ QUỲNH NGA
VAI TRÒ CỦA LÂM SẢN NGOÀI GỖ ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG NGƢỜI DÂN MIỀN NÚI Ở HUYỆN
ĐỊNH HOÁ - TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60-31-10

L
L
U
U


N
N


N
H
HT
T



Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Anh Tài

THÁI NGUYÊN - NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1
LỜI MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số
làm nông nghiệp trong đó một phần lớn diện tích nông lâm nhiệp ở khu vực

triển bền vững nguồn tài nguyên rừng, cải thiện đời sống cho ngƣời dân góp
phần phát triển nền kinh tế đất nƣớc.
Định Hóa là một huyện miền núi nằm về phía Tây-Bắc của tỉnh Thái
Nguyên với dân số năm 2010 là 87.722 ngƣời, tổng diện tích đất tự nhiên là
51.351 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 27.548 ha chiếm 53,68%, diện
tích đất nông nghiệp chiếm một phần nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên
của huyện (21%). Tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp đã và đang là nguồn
sống quan trọng của ngƣời dân trong huyện do bởi diện tích đất nông nghiệp
hạn chế. Tuy nhiên việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của ngƣời dân
vẫn chƣ tốt, để có định hƣớng tốt cho việc việc phát triển kinh tế nông nghiệp
nông thôn trên địa bàn những vấn đề cần làm rõ là: hiện trạng phát triển kinh
tế nông nghiệp nông thôn của huyện Định Hoá ra sao? Những nguồn lực chủ
yếu nào nhằm phát triển kinh tế nông thôn trên địa bàn? Đó là một số vấn đề
đặt ra cần đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu và giải đáp.
Để góp phần nghiên cứu và giải đáp những vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài:
“Vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với đời sống ngƣời dân miền núi ở
huyện Định Hoá - tỉnh Thái Nguyên” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn cho mục tiêu phát triển kinh tế các vùng đồi núi nói chung, phát triển
nông nghiệp nông thôn trên cơ sở phát huy lợi thế của vùng nói riêng.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
Hệ thống hoá về vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với đời sống của
ngƣời dân miền núi và đề xuất đƣợc những giải pháp phát triển có hiệu quả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3
lâm sản ngoài gỗ nhằm nâng cao đời sống cho ngƣời dân miền núi ở huyện
Định Hoá - tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể

6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Phần mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng về vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với đời
sống người dân miền núi ở Huyện Định Hoá - tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu phát triển
lâm sản ngoài gỗ nhằm nâng cao đời sống của người dân miền núi huyện
Định Hoá - tỉnh Thái Nguyên.
Kết luận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CƢ́ U
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

d/ Những chỉ tiêu đánh giá đời sống ngƣời dân
- Các chỉ tiêu phản ánh mức sống gồm có:
+ Mức thu nhập bình quân đầu ngƣời
+ Diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời
+ Mức tiêu dùng một số loại sản phẩm có giá trị trên 10.000đ
- Các chỉ tiêu dịch vụ:
+ Y bác sĩ trên vạn dân
+ Số giƣờng bệnh trên vạn dân
+ Số trẻ em đi học trong tổng số trẻ em ở độ tuổi đi học
+ Số tốt nghiệp đại học trên vạn dân
e/ Các yếu tố của đời sống xã hội
*/ Phát triển kinh tế
- Khái niệm hoạt động kinh tế: là tổng thế các hoạt động sản xuất ra của
cải vật chất và dịch vụ xã hội hằm thoả mãn nhu cầu của ngƣời dân. Nó là nền
tảng cơ bản đảm bảo đời sống ngƣời dân và sự phát triển xã hội.Hoạt động
kinh tế thoả mãn nhu cầu lao động,tạo ra thu nhập để đảm bảo đời sống cho
nhân dân,đây là cơ sở để đảm bảo cho ổn định đất nƣớc.
- Cơ sở phát triển kinh tế: là các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.
- Tác động của kinh tế đến đời sống nhân dân
+ Sự phát triển sản xuất và dịch vụ đã làm cho đời sống ngày càng văn
minh,con ngƣời ngày cànghƣởng đƣợc nhiều sản phẩm và dịch vụ, thoả mãn
ngày càng cao nhu cầu của mình,hay có thể nói mức sống ngày càng cao.
+ Sự phát triển sản xuất và dịch vụ đã làm cho phân công lao động xã
hội ngày càng sâu sắc, hình thành các đô thị lớn, cá khu công nghiệp và và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7
các trung tâm du lịch và dịch vụ lớn làm cho đời sống ngƣời dân ngày càng
phong phú hơn,đa dạng ở trình độ cao hơn.

Theo W.W.F – trong tài liệu (The Economic value of Non timeber
Foest products in Southeats asia.1989):“Sản phẩm ngoài gỗ bao hàm tất cả
các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục
đích của con người. Bao gồm các loại thực phẩm, dược liệu, hương liệu, tinh
dầu, nhựa cây, keo dính, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật
hoang dã, nguyên liệu thô và củi, sông mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi".
Trong hội nghị các chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) của các nƣớc
vùng Châu Á, Thái Bình Dƣơng, họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-
8/11/1991 đã thông qua định nghĩa về LSNG nhƣ sau:
Lâm sản ngoài gỗ (Non – wood forest products) bao gồm tất cả các sản
phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than. Lâm sản ngoài gỗ được
khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ.
Gần đây J.H.De Beer (1996) tác giả của nhiều tài liệu lâm sản ngoài gỗ,
trong đó có tài liệu “Phân tích ngành lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” tháng
7/2000 là một ấn phẩm của dự án “Sử sụng bền vững lâm sản ngoài gỗ” đã
đƣa ra định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ nhƣ sau:
Lâm sản ngoài gỗ (Non – timber forest products) bao gồm các nguyên
liệu có nguồn gốc sinh vật , không phải từ gỗ, được khai thác từ rừng để phục
vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, mủ,
ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các
sản vật của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre nứa, song mây, gỗ nhỏ
và sợi.
Hội nghị do FAO (Tổ chức lƣơng nông thế giới) đã đƣa ra định nghĩa
về lâm sản ngoài gỗ nƣ sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn9
* Lâm sản ngoài gỗ là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật
không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng (dịch vụ:

khác nhau. Hiện nay, lâm sản ngoài gỗ đƣợc phân theo hai phƣơng pháp chủ
yếu sau:
* Phương pháp phân loại lâm sản ngoài gỗ theo hệ thống sinh
Theo phƣơng pháp phân loại này thì các loại lâm sản ngoài gỗ đƣợc
phân theo hệ thống tiến hóa của sinh giới bao gồm hai nhóm chính: động vật
và thực vật. Giới động vật và giới thực vật tuy rất phong phú và đa dạng
nhƣng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân
loại từ lớn đến nhỏ: Giới/Ngành/Lớp/Bộ/Họ/Loài. Có thể thấy phân loại theo
phƣơng pháp này đòi hỏi phải chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của các loài
và ngƣời sử dụng phải có kiến thức nhất định về phân loại động thực vật.
* Phương pháp phân loại lâm sản ngoài gỗ theo nhóm giá trị sử dụng
Theo phƣơng pháp này nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có cùng giá trị sử
dụng đƣợc phân vào cùng một nhóm, cho dù có nguồn gốc khác nhau trong
hệ thống sinh, nơi phân bố .
+ Sản phẩm cây có sợi: tre nứa, song mây, các loại lá, thân vỏ, có sợi
và cỏ.
+ Sản phẩm dùng làm thực phẩm: nguồn gốc động vật: mật ong, thịt chim
thú rừng, cá trai ốc; nguồn gốc thực vật thân chùi, củ rễ lá, hoa, quả, gia vị.
+ Các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm: thuốc có nguồn gốc thực vật; cây
con có độc tính; cây con làm mỹ phẩm
+ Các sản phẩm chiết xuất: tinh dầu, dầu béo; nhựa và nhựa dầu; dầu
trong chai cục; gôm; tannin, thuốc nhuộm…
+ Động vật sống và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và
làm thuốc.
+ Các sản phẩm khác: cây cảnh; lá để gói thức ăn, hàng hóa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn11
Phƣơng pháp này đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản

(lâm sản ngoài gỗ): Khai thác lâm sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu
thu nhập từ lâm nghiệp, từ 65-81%, sau đó đến thu nhặt lâm sản, ở Tây bắc
18,3% và 14,4% ở Đông bắc. Khai thác lâm sản tuy chiếm tỷ trọng lớn trong
thu nhập của hộ, nhƣng phần lớn là các sản phẩm tự túc sử dụng trong gia
đình, trong đó củi có giá trị lớn, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa. Trong đó
cơ cấu: gỗ 14,15%; củi 45,25%; lâm sản khác 16,3%; nông sản 24,3% (Vũ
Long – 2005)
Thời gian gần đây, do rừng tự nhiên đã nghèo kiệt nên không đƣợc
phép khai thác gỗ hàng hoá nên thu nhập từ lâm nghiệp ở một số vùng cho
thấy: ở xã Khang Ninh thuộc vùng đệm Vƣờn Quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn),
bình quân lâm sản ngoài gỗ chiếm khoảng 15% thu nhập cho hộ (tiền mặt +
tiêu dùng hàng ngày, gồm có 10% là củi, 5% là các khoản khác). Điều tra thu
nhập ở xã Vạn Yên, huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) cho thấy tỷ lệ thu từ lâm
sản ngoài gỗ chiếm từ 11-20% thu nhập của hộ, đối với hộ nghèo có tỷ lệ cao
nhất: 19,4% (Vũ Long – 2005)
Từ các kết quả khảo sát thực tế các nhà nghiên cứu cho rằng:
Nguồn thu từ khai thác lâm sản có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thu
nhập lâm nghiệp của hộ, song ở các vùng miền núi xa thị trƣờng thì phần lớn
sản phẩm lâm sản là gỗ củi tự túc có tác dụng bảo đảm an sinh xã hội, song ít
có tác dụng đến xoá đói giảm nghèo. Với chính sách hạn chế khai thác rừng
tự nhiên của Chính phủ nhƣ hiện nay, nếu nơi nào hộ gia đình có nguồn thu từ
bán gỗ rừng tự nhiên thì đều là do trực tiếp hay gián tiếp tham gia khai thác
gỗ bất hợp pháp, nguồn thu này không bền vững.
Nguồn thu từ trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng thƣờng có ở những nơi
có dự án 661 và các dự án lâm nghiệp khác, nhất là ở các vùng rừng thuộc
Ban quản lí rừng đặc dụng hay phòng hộ. Nguồn ngân sách Nhà nƣớc đã chi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn13

Ngày nay, con ngƣời ngày càng hiểu sâu hơn về hệ sinh thái rừng
(Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần chủ yếu là sinh vật rừng
(các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tƣơi, dây leo, hệ động vật và vi sinh vật rừng)
và môi trƣờng vật lý của chúng (đất đai, nguồn nƣớc, khí hậu,…). Hệ sinh
thái rừng nhƣ vậy có tính đa dạng sinh học rất cao. Từ hệ sinh thái này, nếu
giữ nguyên các loại cây gỗ đứng, ngƣời ta vẫn có thể thu hoạch các loại lâm
sản khác có thể khái quát vào các nhóm sản phẩm nhƣ: Nấm ăn, dƣợc liệu,
cây cho hạt, cây có dầu, cây cho sợi, phấn và mật hoa, cây có thể làm thức ăn
gia súc, rau rừng, trái cây rừng ăn đƣợc, song, mây, tre, cây cho nhựa, hoá
chất, động vật rừng (côn trùng và động vật khác), nguồn gen cho các sản
phẩm trên, sinh thái rừng và môi trƣờng du lịch, thủy điện, ….
Trên thực tế, các loại cây trồng, vật nuôi nông nghiệp ngày nay đều có
nguồn gốc xa xƣa từ rừng, hoặc là các loài bản địa, hoặc đƣợc du nhập từ
rừng ở những nƣớc khác. Một số loại lâm-sản-ngoài-gỗ có thể tổ chức khai
thác và nuôi trồng, tạo công ăn việc làm và tăng thu thập cho cộng đồng dân
cƣ sống trong rừng và gần rừng, phát huy giá trị nhiều mặt của rừng.
1. Nấm ăn: nhƣ các loại nấm mối, nấm mèo,… ngày nay với công
nghệ sinh học phát triển, chúng ta còn nhiều loại nấm ăn khác nhƣ nấm kim
châm, bào ngƣ, đông cô, đùi gà,…
2. Dƣợc liệu: Hải Thƣợng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh đã tổng kết các loại cây
thuốc Việt Nam rất phong phú. Gần đây đã có nhiều tác giả tổng kết nhƣ Đỗ
Tất Lợi, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả 3.063 loại cây có vị thuốc thuộc trên 2.000
loài trong tổng số trên 11.000 loài thực vật ở Việt Nam (Cây có vị thuốc ở
Việt Nam),…nhƣ rừng ò Lò Gò -Xa Mát (Tây Ninh) có kim tiền thảo, nhàu;
rừng ở vƣờn quốc gia Côn Đảo có ngũ gia bì, thiên niên kiện. Ngoài các loài
cây dƣợc liệu, còn có các loài nấm dƣợc liệu đã rất nổi tiếng nhƣ linh chi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn15

giữ vai trò cân bằng sinh thái nhiều hơn; ngắm các loài động vật hoang dã từ
xa là một trong những nội dung của du lịch cảnh quan sinh thái trong rừng.
13. Nguồn gen cho các sản phẩm trên: các loại lâm sản ngoài gỗ nêu
trên có thể thu hái trực tiếp từ rừng, nhƣng quan trọng hơn là chúng ta có thể
áp dụng các công nghệ truyền thống hoặc sinh học hiện đại để nhân giống từ
nguồn sinh vật ở rừng để nuôi trồng trong các trang trại. Ngày nay đã có
nhiều trang trại nuôi heo rừng, nai, nhím, ong,… các trang trại trồng cây trôm
lấy nhựa (gôm), tre, trúc, song, mây,…
14. Sinh thái rừng và môi trƣờng du lịch: một cách sử dụng rừng rất
hiệu quả trong điều kiện xã hội đã công nghiệp hóa và đô thị hóa cao, nhu cầu
du lịch, thƣ giãn phát triển là tổ chức dịch vụ du lịch sinh thái trong rừng.
Chung quanh thành phố Hồ Chí Minh đã có các khu du lịch sinh thái gắn với
rừng nhƣ địa đạo Củ Chi, Rừng Sác Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), Thác
Mai (Định Quán), Nam Cát Tiên (Tân Phú, Đồng Nai), Tràm chim (Đồng
Tháp), Rừng Chàng Riệc (Tây Ninh) kết hợp du lịch sinh thái với các di tích
văn hóa, lịch sử; rừng thông Đà Lạt là nơi du lịch cảnh quan sinh thái từ lâu
đã rất nổi tiếng.
15. Thủy điện: do rừng đƣợc bảo vệ và phát triển tốt, nguồn nƣớc mƣa
đƣợc giữ ngày càng dồi dào, tạo điều kiện xây dựng các nhà máy thủy điện có
đủ nƣớc hoạt động quanh năm.
Nhƣ vậy phát triển LSNG sẽ giúp cho chúng ta có điều kiện phát triển
trên mọi mặt: kinh tế, môi trƣờng, xã hội là tiền đề cho phát triển bền vững
nền kinh tế:
Về mặt kinh tế
Giá trị kinh tế của lâm sản ngoài gỗ đƣợc thể hiện thông qua giá trị sử
dụng. Theo số liệu của Bộ Thƣơng mại, riêng số mây tre đan xuất khẩu của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn17

18
Bảng 1.1.
Thống kê sản phẩm lâm sản ngoài gỗ khai thác giai đoạn 1995-1999
Mặt hàng
Đơn vị đo
Thời gian
1995
1996
1997
1998
1999
Tre
1.000 cây
67.026
720.858
174.189
172.649
171.000
Nứa
1.000 cây
108.500
104.779
105.175
248.310
150.000
Trúc
1 triệu cây
15.600
24.664
2.649

Măng tƣơi
Tấn
32.500
30.887
13.789
-
-
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNN, Hà Chu Chử, 2001)
Chắc chắn các con số thống kê trên còn thấp hơn số lƣợng lâm sản
ngoài gỗ thực tế khai thác hàng năm, vì ta không thống kê đƣợc hết các sản
phẩm do các hộ gia đình và các nhân khai thác.
Thông qua việc xuất khẩu một số mặt hàng lâm sản ngoài gỗ dƣới dạng
thô hoặc đã qua chế biến, mỗi năm ngành nông lâm nghiệp và ngành y tế đã
đóng góp trên 1,5 tỷ USD cho giá trị xuất khẩu chung của cả nƣớc.
Bảng 1.2.
Giá trị một số hàng lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu của Việt Nam năm 1996
Mặt hàng LSNG
Tổng giá trị
(tr.USD)
Tỷ lệ (%)
Tre, trúc
37,6
2,50
Song, mây
119,0
7,88
Quế thanh và quế bột
95,6
6,30
Tinh dầu

chỗ chúng đƣợc tiêu thụ, trao đổi tại chỗ, là nguồn sống cho rất nhiều gia
đình, nhiều cộng đồng sống ở rừng và phụ thuộc vào rừng. Giá trị kinh tế của
nó càng thể hiện rõ ở các nƣớc nghèo, đang phát triển và vào lúc mùa màng
nông nghiệp bị thất thu do thiên tai hoặc do dịch bệnh. Giá trị kinh tế của nó
càng thể hiện ở các cộng đồng, những nơi xa cách trung tâm dịch vụ, ngƣời
nghèo chƣa có điều kiện tới dịch vụ chăm sóc y tế đắt tiền, ở đó ngƣời dân coi
nguồn dƣợc liệu tự nhiên, bản đại đƣợc khai thác từ rừng là hiệu quả và rẻ
tiền để chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh thông thƣờng.
Cơ quan y tế thế giới (WHO) đánh giá 80% dân số các nƣớc đang phát
triển dùng LSNG để chữa bệnh và làm thực phẩm. Vài triệu gia đình phụ
thuộc vào những sản phẩm này của rừng để tiêu dùng và là nguồn thu nhập.
Về môi trường
Lâm sản ngoài gỗ có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng.
Chúng đóng góp vào sự đa dạng sinh học của rừng, chúng là nguồn gen hoang
dã quý, cần phải bảo tồn. Bảo vệ nguồn LSNG chính là bảo vệ tính da dạng
sinh học của rừng. Các loài lâm sản ngoài gỗ là một bộ phận của hệ sinh thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn20
rừng. Không chỉ có những loài lâm sản ngoài gỗ đƣợc thƣơng mại toàn cầu
mà tất cả các loài khác tuy không có giá trị về kinh tế nhƣng có giá trị về tính
đa dạng sinh học, về cân bằng sinh thái và về môi trƣờng.
Lâm sản ngoài gỗ góp phần vào việc đáp ứng mục tiêu môi trƣờng nhƣ
bảo vệ rừng, nguồn nƣớc. Các loài lâm sản ngoài gỗ tham gia tạo nên cấu trúc
rừng cùng các loài cây gỗ và thực vật, động vật. Hệ sinh thái ở đây đa dạng,
khép kín và bền vững. Duy trì, bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên lâm sản
ngoài gỗ hoặc tổ chức gây trồng lâm sản ngoài gỗ dƣới tán rừng góp phần bảo
vệ tính đa dang sinh học, bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật, tăng khả
năng giữ nƣớc phòng hộ của rừng, bảo vệ đƣợc hệ sinh thái rừng nói chung.

1.1.2. Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1. Tiềm năng và thực trạng phát triển sản xuất lâm sản ngoài gỗ ở các
nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm
Trên thế giới, lâm sản ngoài gỗ đóng góp rất lớn, cung cấp các sản phẩm
phục vụ nhu cầu thiết yếu của con ngƣời. Một số nƣớc ở Châu Phi, trong khẩu
phần ăn, tỷ lệ protein từ động vật hoang dã chiếm tỷ lệ cao nhƣ Botsoana
khoảng 40%, Zaia 75%. Trong thực tế, cƣ dân các cộng đồng sống gần rừng
đều phải vào rừng lấy rau, củ, quả phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày,
nhƣng giá trị này không tính vào khoản thu nhập GDP của quốc gia vì nhóm
LSNG này không đƣợc bán và không đƣợc mua. Tại Ấn Độ, trên 50% ngoại
tệ thu đƣợc là từ hoạt động khai thác, chế biến có nguồn gốc lâm sản ngoài
gỗ. Tại Mỹ, có hơn 25% các đơn thuốc đƣợc sử dụng những chế phẩm đƣợc
điều chế từ cây, cỏ. Còn ở Trung Quốc có trên 5.000 loài cây và vùng hạ lƣu
sông Amazôn có khoảng 2.000 cây đƣợc dùng chữa bệnh. Năm 1998, Ấn Độ
xuất khẩu bột gia vị Bạch đậu khấu tới 40 nƣớc thu về 100 triệu USD. Hồng
Kông thu lãi từ chế biến lâm sản ngoài gỗ mỗi năm đạt 68 triệu USD Riêng
về hàng thủ công mỹ nghệ đƣợc làm từ song, mây đạt 600 triệu USD (1988-
993), phần lớn sản phẩm này đƣợc xuất từ các nƣớc Châu Á - Thái Bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn22
Dƣơng. Trung Quốc có 4,2 triệu ha rừng tre, nứa trồng và rừng tự nhiên, mỗi
năm xuất khẩu mặt hàng bằng tre nứa đạt trị giá 2,4 tỷ USD.
Các nƣớc Đông Nam Á có ít nhất 30 triệu ngƣời sống chủ yếu dựa vào
lâm sản ngoài gỗ. Philippine mỗi năm hàng mây tre xuất khẩu đạt 130 triệu
USD, tạo việc làm cho khoảng 100.000 công nhân, Inđônêxia thu 200 triệu
USD cũng từ mây tre đan. Thái Lan chỉ riêng xuất khẩu tre, lau và cánh kiến
đỏ mỗi năm đã mang lại hơn 4 triệu USD. Tại Lào có 80% ngƣời dân nông
thôn vùng núi sống dựa vào tài nguyên rừng, trong đó chủ yếu là các loại lâm

vắt vẻo trên các sƣờn núi cheo leo, lẫn khuất trong rừng tre, hệ thống truyền
tải điện đến tận chốn “thâm sơn cùng cốc”, các đập thủy điện, những hồ
nƣớc phẳng lặng giữa chốn núi rừng u tịch, những ngôi nhà của nông dân
đƣợc xây cất khá khang trang với nhiều phòng nghỉ lịch sự cho cả khách và
chủ trong vƣờn cây, bên những dòng suối róc rách hòa cùng tiếng chim hót,
với môi trƣờng không gian trong lành, tĩnh mịch; những xóm nhà thỉnh
thoảng ẩn hiện trong màn sƣơng hay làn mây mỏng thật là một nơi khá lý
tƣởng để sinh sống và nghỉ dƣỡng mà không thành phố nào hiện nay có
đƣợc. Những nông dân làm dịch vụ du lịch nông thôn này cũng đang thay
đổi nếp sinh hoạt, ứng xử của mình do hoạt động giao tiếp với khách du lịch
đến từ các thành phố.
Phát triển lâm sản ngoài gỗ và du lịch đã góp phần văn minh hóa vùng
nông thôn miền núi tỉnh Triết Giang – Trung Quốc.
Từ thực tiễn của Trung Quốc cho thấy việc phát triển lâm sản ngoài gỗ
có vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.
1.1.2.2. Tình hình và kết quả phát triển lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
a/ Tình hình sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam trong
số 12.000 loài cây đƣợc thống kê có: 76 loài cho nhựa thơm; 160 loài cho
dầu; 600 loài cho tanin; 260 loài cho tinh dầu; 93 loài cho chất màu; 1.498
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn24
loài cho các dƣợc phẩm. Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật
bậc cao có thể lên tới 20.000 loài; hệ động vật cũng đã thống kê đƣợc 225 loài
thú, 828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái.
Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho
các ngành công nghiệp, đƣợc chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm
nhƣ các loài song mây, tre nứa, các loài hoa…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status