Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần may thanh hóa - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi. Những kết quả và các số liệu
trong báo cáo thực tập tốt nghiệp được thực hiện tại Công ty Cổ phần May Thanh
Hóa, không sao chép bất kỳ nguồn nào khác. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
nhà trường về sự cam đoan này.
TP. Thanh Hóa, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Hoàng Thị Hà
MỤC LỤC
Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu của công ty 3 năm gần đây.
Bảng 2.2: Cơ cấu VKD và nguồn hình thành VKD qua 3 năm 2010-2011-2012
Bảng 2.3: Tình hình nợ phải trả của công ty
Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn VCSH qua 3 năm 2010-2011-2012
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn lưu động qua 3 năm 2010, 2011, 2012
Bảng 2.5.1: Cơ cấu vốn bằng tiền qua 3 năm 2001, 2011 và 2012
Bảng 2.5.2: Bảng số liệu phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty
Bảng 2.5.3: Tình hình quản lý và sử dụng các khoản phải thu
Bảng 2.5.4: Tình hình quản lý và sử dụng hàng tồn kho
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Bảng 2.7.1: Tình hình quản lý và sử dụng vốn cố định
Bảng 2.7.2: Cơ cấu TSCĐ của công ty trong 3 năm 2010, 2011 và 2012
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
toàn công ty
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất của công ty
Biểu đồ 1: Cơ cấu VKD của công ty qua 3 năm
Biểu đồ 2: Cơ cấu nguồn vốn của công ty qua 3 năm

1. Lý do chọn đề tài
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải có vốn. Vốn là
điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để phát triển thì
doanh nghiệp không những phải bảo toàn được nguồn vốn đã bỏ ra mà phải phát
triển được vốn đó. Thực tế cho thấy rằng không chỉ ở nước ta mà nhiều nước trên
thế giới, tình trạng sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả đang diễn ra rất phổ biến.
Việc tổ chức là sử dụng vốn không hiệu quả sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng
vốn là vấn đề được tất cả các doanh nghiệp quan tâm.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng
vốn kinh doanh và qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần MayThanh Hóa cùng
với sự hướng dẫn tận tình của Ths.Nguyễn Thị Phương và tập thể cán bộ nhân viên
của Công ty, vận dụng lý luận vào thực tiễn công ty đồng thời từ thực tiễn làm sáng
tỏ lý luận em xin đi sâu nghiên cứu và hoàn thành Báo cáo thực tập với đề tài: “Giải
pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần
May Thanh Hóa”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là trên cơ sở thực tế tình hình tổ chức sử
dụng vốn kinh doanh của công ty hiện nay để thấy được những mặt đã đạt được cần
phát huy đồng thời cũng thấy được những tồn tại cần khắc phục, từ đó đưa ra những
biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh của Công
ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sử
dụng vốn tại công ty CP May Thanh Hóa
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi vốn kinh doanh tại công
ty CP May Thanh Hóa. Thời gian được chọn để nghiên cứu là Qúy I năm 2013
SV: Hoàng Thị Hà 5 Lớp:DHTN5TH
Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
4. Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH CỦA DOANH
1.1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm vốn kinh doanh
Phạm trù vốn kinh doanh (VKD) luôn gắn liền với khái niệm doanh nghiệp.
Theo điều 4 Luật doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Trong nền kinh tế thị trường, bất kì một doanh nghiệp nào muốn tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có ba yếu tố cơ bản sau: Sức lao động,
đối tượng lao động, và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố cơ bản này đòi hỏi
doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều
kiện kinh doanh. Lượng vốn tiền tệ đó được gọi là VKD của doanh nghiệp.
Như vậy VKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản
được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh
lời.
VKD thường xuyên chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình
thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động của VKD
như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng nên sự tuần hoàn của VKD cũng
diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của VKD.
1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VKD đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức
đúng đắn các đặc trưng cơ bản sau của VKD:
Một là, VKD biểu hiện bằng một lượng tài sản có thực.
Đây là đặc trưng cơ bản của VKD, chỉ những giá trị tài sản được sử dụng vào
quá trình sản xuất kinh doanh thì mới được coi là VKD, có thể là tài sản hữu hình
SV: Hoàng Thị Hà 8 Lớp:DHTN5TH

Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
giúp doanh nghiệp có thể có phương án quản lý và sử dụng vốn chặt chẽ và hiệu
quả.
Sáu là, vốn được coi là một loại hàng hoá đặc biệt, điều này có nghĩa là vốn
phải có đầy đủ cả giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hoá vốn chính là bản
thân nó, còn giá trị sử dụng của vốn được thể hiện ở chỗ khi đưa vào sản xuất kinh
doanh nó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Sở dĩ vốn được coi là hàng
hoá đặc biệt là vì quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn có thể tách rời nhau, trên thị
trường tài chính người thiếu vốn có thể mua quyền sử dụng vốn từ người nắm
quyền sở hữu vốn. Giá cả của hàng hoá này chính là lãi suất mà người đi mua
(người đi vay) trả cho người bán (người cho vay). Vậy khác với việc mua bán hàng
hoá thông thường, người bán vốn không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử
dụng vốn, người mua được phép sử dụng vốn trong một thời gian nhất định do hai
bên thoả thuận.
Như vậy, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào VKD hay
nói cách khác, VKD quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Do đó việc hiểu
rõ các tính chất, đặc điểm cũng như các vấn đề liên quan đến VKD giúp doanh
nghiệp chủ động và linh hoạt hơn trong việc quản lý, sử dụng nhằm đạt được hiệu
quả kinh tế cao và ổn định phát triển đi lên.
1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh
Để thuận tiện cho việc quản lý và sử dụng vốn cần tiến hành phân loại vốn. Có
nhiều tiêu thức để phân loại vốn nhưng để có được cái nhìn toàn diện và chính xác
nhất về vốn ta có thể lựa chọn tiêu thức: vai trò và đặc điểm lưu chuyển của vốn.
Chia VKD thành 2 loại: vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ).
1.1.3.1. Vốn cố định của doanh nghiệp
VCĐ là biểu hiện bằng tiền giá trị tài sản cố định (TSCĐ), là số vốn đầu tư
ứng trước hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp, sự vận động của nó luôn gắn
liền với sự vận hành và chu chuyển của TSCĐ. Vì vậy để có thể nghiên cứu sâu hơn
về VCĐ cần phải tìm hiểu những đặc điểm của TSCĐ.
SV: Hoàng Thị Hà 10 Lớp:DHTN5TH

Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
Về mặt hiện vật: doanh nghiệp không chỉ giữ nguyên hình thái vật chất và đặc
tính sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan trọng hơn là duy trì thường xuyên năng
lực sản xuất ban đầu của nó.
Về mặt giá trị: doanh nghiệp phải duy trì được sức mua của VCĐ ở thời điểm
hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu bất kể có sự biến động của nền kinh
tế thị trường. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải lựa chọn phương pháp khấu hao phù
hợp, tính chính xác thời gian khấu hao, nguyên giá khấu hao… Doanh nghiệp cũng
cần quan tâm đến tiến bộ khoa học kĩ thuật để giảm thiểu sự ảnh hưởng của hao
mòn vô hình. Đồng thời quản lý quỹ khấu hao hiệu quả nhằm đảm bảo việc tái đầu
tư TSCĐ kịp thời.
Như vậy, qua việc nhận thức đúng đắn đặc điểm của TSCĐ và VCĐ sẽ tạo ra
cơ sở để quản lý, sử dụng có hiệu quả TSCĐ, góp phần quản lý nâng cao hiệu quả
sử dụng VCĐ của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sử dụng VKD.
1.1.3.2. Vốn lưu động của doanh nghiệp
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên
liên tục, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động (TSLĐ) nhất
định. Do đó, để hình thành nên các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn
tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn tiền tệ này được gọi là VLĐ của
doanh nghiệp.
VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm
đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên,
liên tục.
TSLĐ của doanh nghiệp bao gồm hai loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu
thông.
TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành
phẩm,…đang trong quá trình dự trữ hoặc chế biến.
TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,
vốn trong thanh toán,…
SV: Hoàng Thị Hà 12 Lớp:DHTN5TH

SV: Hoàng Thị Hà 13 Lớp:DHTN5TH
Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
nghiệp thường rất lớn nên thường được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi
nguồn có chi phí sử dụng khác nhau, có ưu nhược điểm khác nhau. Để tổ chức huy
động, quản lý và sử dụng VKD, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu nguồn hình
thành VKD.
VKD thường được phân loại theo các tiêu thức sau:
1.1.4.1. Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn
Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại:
VCSH và nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu (VCSH) là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh
nghiệp, bao gồm số VCSH bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh. Tùy theo
từng loại hình doanh nghiệp mà VCSH là vốn nhà nước, vốn tự bổ sung từ lợi
nhuận sau thuế và từ các quỹ của doanh nghiệp. Đặc điểm của nguồn VCSH là
không có thời gian đáo hạn, có độ an toàn cao, lợi nhuận chi trả không ổn định, phụ
thuộc vào tình hình kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh
nghiệp.
Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách
nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: nợ vay, các khoản phải trả
cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp…Nợ phải trả
có thể là nợ phải trả ngắn hạn (là các khoản nợ có thời gian đáo hạn dưới 1 năm)
hoặc nợ phải trả dài hạn (là các khoản nợ có thời gian đáo hạn trên một năm).
VCSH = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một
doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn: VCSH và nợ phải trả. Sự kết hợp hai
nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động, và quyết
định của người quản lý. Việc phân loại theo tiêu thức này giúp nhà quản trị tài chính
doanh nghiệp xác định được mức độ an toàn trong công tác huy động vốn, giúp
doanh nghiệp tìm được biện pháp tổ chức quản lý, sử dụng vốn hợp lý. Các nhà
quản trị doanh nghiệp cần phải xác định giới hạn huy động vốn nhằm cung cấp đầy

ngoài đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Bao gồm vay của
người thân, vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, gọi góp vốn
liên doanh liên kết, tín dụng thương mại của nhà cung cấp, thuê tài sản, huy động
SV: Hoàng Thị Hà 15 Lớp:DHTN5TH
Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
vốn bằng phát hành chứng khoán. Việc huy động vốn từ bên ngoài sẽ tạo ra sự linh
hoạt trong cơ cấu tài chính, gia tăng tỷ suất sinh lời VCSH.
Việc phân loại nguồn vốn theo phạm vi huy động vốn sẽ giúp doanh nghiệp
điều chỉnh được cơ cấu tài trợ một cách hợp lý, dựa trên nguyên tắc huy động trước
các nguồn có chi phí sử dụng vốn thấp sau đó mới đến nguồn tài trợ có chi phí sử
dụng vốn cao hơn.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng VKD là một trong các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp. Vậy sử dụng vốn như thế nào là có hiệu quả?
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng VKD như sau:
Quan điểm 1: Theo các nhà đầu tư, tùy thuộc vào vị trí của các nhà đầu tư mà
việc xem xét hiệu quả sử dụng vốn có sự khác nhau.
Với nhà đầu tư trực tiếp, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua tỷ suất sinh
lời vốn đầu tư và sự gia tăng giá trị doanh nghiệp mà họ đầu tư.
Với các nhà đầu tư gián tiếp, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông qua tỷ
suất lợi tức của một đồng vốn vay và bảo toàn giá trị thực tế của vốn cho vay qua
thời gian.
Quan điểm 2: Hiệu quả sử dụng vốn được xem xét trên cơ sở kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận = doanh thu thuần – giá vốn hàng bán – (chi phí bán hàng + chi phí
quản lý doanh nghiệp)
Lợi nhuận càng nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
Quan điểm 3: hiệu quả sử dụng vốn được xem xét trên cơ sở thu nhập thực tế.
Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, điều mà các nhà đầu tư quan tâm

định. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ mang lại lợi nhuận trước mặt mà
còn có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
+ Đối với xã hội
SV: Hoàng Thị Hà 17 Lớp:DHTN5TH
Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ tận dụng được các nguồn lực của xã
hội, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững
của xã hội.
- Xuất phát từ thực trạng quản lý và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp hiện
nay
Trong thời kì bao cấp, nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu là do nhà nước
cấp phát, không phải chịu trách nhiệm về số vốn doanh nghiệp đã sử dụng, làm cho
vai trò của tài chính trở nên mờ nhạt.
Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, với sự hoạt động của nhiều thành
phần kinh tế, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp không chỉ trong
nước mà cả các doanh nghiệp nước ngoài, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn thì mới có thể tồn tại và phát triển được. Nhưng hiện nay,
tình trạng kém lành mạnh về tài chính đang diễn ra ở rất nhiều doanh nghiệp đặc
biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước có xu hướng gia tăng. Do việc
đầu tư ồ ạt, không tính toán đến hiệu quả đầu tư, gây thất thoát vốn của nhà nước.
Ngoài ra còn thêm nhiều hành vi tham nhũng, rút vốn và chiếm đoạt vốn của nhà
nước của một số cá nhân trong doanh nghiệp… Điều này đặt ra yêu cầu làm sao để
bảo toàn và phát triển vốn trong các doanh nghiệp.
Mặt khác trong xu thế kinh tế hội nhập hiện nay, tạo ra nhiều cơ hội phát triển
cho các doanh nghiệp như các phương thức đầu tư, liên doanh, liên kết kinh tế song
cũng gây nhiều áp lực cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng phát
triển sản xuất kinh doanh và đặc biệt quản lý sử dụng vốn một cách hợp lý thì mới
có thể đứng vững trên thị trường.
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp

kỳ (một năm).
- Kỳ luân chuyển VLĐ: phản ánh số ngày thực hiện một vòng quay VLĐ.
- Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ: Phản ánh số VLĐ có thể tiết
kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ so sánh so với kỳ gốc.
V
TK
(±) = M
1
* (K
1
– K
0
) / 360
Trong đó:
M
1
: tổng mức luân chuyển VLĐ kỳ so sánh
K
1
, K
0
: Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ so sánh, kỳ gốc
V
TK
: Số VLĐ có thể tiết kiệm được
3. Tốc độ luân chuyển HTK: có hai chỉ tiêu
- Số vòng quay HTK: Phản ánh trong kỳ HTK luân chuyển được bao nhiêu
vòng.
Số ngày một vòng quay HTK: cho biết số ngày cần thiết để HTK quay được
một vòng.

phủ, vào tháng 11 năm 2003 Công ty May Thanh Hoá, một doanh nghiệp Nhà nước
trực thuộc Sở Công nghiệp Thanh Hoá, với bề dày lịch sử gần 20 năm nay đã
chuyển đổi thành Công ty cổ phần May Thanh Hoá. Do đó cái tên “Công Ty cổ
phần may Thanh Hoá” tuy còn khá mới mẻ song bản thân Công ty đã trải qua một
quá trình hình thành và phát triển lâu dài với biết bao thăng trầm mà mỗi cán bộ
công nhân viên Công ty cổ phần may Thanh Hoá ngày nay luôn cảm thấy tự hào.
Công ty cổ phần may Thanh Hoá tiền thân là Xí nghiệp may cắt gia công thị xã
Thanh Hoá. Xí nghiệp được thành lập theo quyết định số 889/ UB– TH ngày 20
tháng 04 năm 1974 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá và chính thức hoạt động
có hiệu lực kể từ ngày 06 tháng 07 năm 1974, nhiệm vụ của xí nghiệp là sản xuất
kinh doanh hàng may mặc sẵn theo kế hoạch pháp lệnh của cấp trên giao trong thời
kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập chung. Sản phẩm chủ yếu là quần áo bảo hộ lao động
phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài tỉnh.
Năm 1982 Xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp May Thanh Hóa.
Năm 1992 văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định số 388/UB-TH ngày
02/06/1992 về việc sát nhập xí nghiệp May Thanh Hóa và xí nghiệp May – Dép
xuất khẩu Hoằng Hóa thành công ty May Thanh Hóa. Ngay thời kỳ này, công ty
được Bộ Thương mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp và được phân bổ
SV: Hoàng Thị Hà 22 Lớp:DHTN5TH
Báo cáo thực tập GVHD: Ths.Nguyễn Thị Phương
QUOTA thuộc hạn ngạch sản xuất may mặc xuất khẩu sang khối thị trường Đông
Âu. Hình thức sản xuất là gia công theo đơn đặt hàng của các hãng như Peter( Đài
Loan), Hansa( Hong Kong), Phú Hán, Đavit.
Đến năm 2003, thực thi Quyết định số 36/QĐ-TC ra ngày 06 tháng 01 năm 2003
của UBND tỉnh Thanh Hóa, Công ty May Thanh Hóa đã chuyển đổi hình thức sở
hữu từ một Doanh nghiệp nhà nước trở thành công ty cổ phần 100% với cái tên
Công ty cổ phần May Thanh Hóa. Sự kiện này đã đánh dấu một bước chuyển biến
hết sức quan trọng, công ty có một vị trí mới, một tư cách mới trên thị trường, từ đó
đòi hỏi công ty phải có nhiều thay đổi về tư duy, chiến lược, sách lược trong kinh
doanh để thích nghi với điều kiện mới, để có bước đi vững chắc trên con đường đầy

- Tổ chức bộ máy của công ty:
Bộ máy của công ty được thể hiện qua sơ đồ 1
Nhìn vào sơ đồ bộ máy của công ty ta thấy:
SƠ ĐỒ 1: MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
Hội đồng quản trị (HĐQT): là cơ quan quản trị cao nhất của công ty,hoạt động
dưới sư quản lý của ban kiểm soát.Các hoạt động SXKD của công ty được HĐQT
giao cho giám đốc điều hành, giúp việc cho giám đốc là 1 phó giám đốc, kế toán
trưởng và các phòng ban chức năng. Có 5 thành viên, bao gồm 1 chủ tịch (kiêm GĐ
SV: Hoàng Thị Hà 24 Lớp:DHTN5TH
HĐQT
BAN KIỂM SOÁT
Giám đốc điều
hành
Phó giám đốc
công ty
Phòng
kỹ
thuật
Ban cơ
điện
Các xí
nghiệp
thành viên
Phân xưởng
cắt
Phòng
tổ chức,
BV
Phòng
kế

người kiêm phó giám đốc).
Ban kiểm soát: Là tổ chức thay mặt cho cổ đông kiểm soát bao gồm 3 thành
viên.
Giám đốc điều hành: Là đại diên của công ty trong mọi giao dịch là người có
quyền quyết định cao nhất về quản lý điều hành mọi hoạt đông kinh doanh của công
ty.
Phó giám đốc điều hành (phó giám đốc): Là người chịu trách nhiệm chính về
quản lý, điều hành sản xuất.
Các phòng ban chức năng của công ty
Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lý SXKD, có trách
nhiệm tự tổ chức thực hiện các mảng công tác nhiệm vụ được giao, có trách nhiệm
chấp hành và kiểm tra việc chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch các chế độ chính sách
của nhà nước, các nội quy của công ty, từ đó có những đề xuất kịp thời với ban
giám đốc nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý.
Các phòng ban chức năng của công ty bao gồm:
Phòng tổ chức bảo vệ: Có 5 người bảo vệ, có chức năng nhiệm vụ là tổ chức
lao động, tiền lương, hành chính – phục vụ, bảo vệ.
Phòng tổ chức gồm 5 người
Phòng kỹ thuật: 9 người chịu trách nhiệm về chất lượng sản xuất chất lượng
cụ thể là: Về chất lượng tất cả các công đoạn sản xuất,chất lượng (tay nghề), nhân
công và chất lượng của dây chuyền sản xuất có nhiệm vụ xây dựng hệ thống định
mức về vật tư, lao động, xây dựng giá thành sản xuất cần thiết.
Phòng kế hoạch vật tư:(12 người) đảm nhiệm công tác về kề hoạch SXKD, tổ
chức sản xuất có hiệu quả tham mưu về công tác thị trường (cả thị trường đầu vào
và đầu ra).
Phòng kế toán: (4 người) có trách nhiệm giúp giám đốc quản lý tài chính và
hạch toán thống kê theo đúng quy định quản lý tài chính của Nhà Nước hiện hành
SV: Hoàng Thị Hà 25 Lớp:DHTN5TH

Trích đoạn Thực hiện quản lý chặt chẽ nợ phải thu, đẩy nhanh quy trình giải quyết các thủ tục thanh toán. Thực hiện các biện pháp tiết kiêm chi phí sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm, giảm giá vốn hàng bán Tăng cường chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh mất mát vốn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status