chuyên đề tốt nghiệp GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ sử DỤNG vốn tại CÔNG TY TNHH THƯƠNG mại và DỊCH vụ máy TÍNH THÀNH TRUNG - Pdf 22


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ MÁY TÍNH THANH
TRUNG
GIẢNG VIÊN HD : TRẦN THỊ YẾN
SINH VIÊN TH : NGUYỄN THỊ HOA
MSSV : 11010973
LỚP : CDTD13TH
SV: Hoàng Thị Hà 1 Lớp: DHTN5TH
THANH HÓA, THÁNG 06 NĂM 2014
SV: Hoàng Thị Hà 2 Lớp: DHTN5TH
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Yến
LỜI CAM ĐOAN
Em cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của Em. Những kết quả và các số
liệu trong chuyên đề tốt nghiệp được thực hiện tại Công ty TNHH Thương mại
và dịch vụ máy tính Thanh Trung, không sao chép bất kỳ nguồn nào khác. Em
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
Thanh Hóa, ngày tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoa
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Yến
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………………, ngày … tháng …. năm 2014
Giảng viên
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Yến
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VLĐ: Vốn lưu động
VCĐ: Vốn cố định
HTK: Hàng tồn kho
HĐSXKD: Hoạt động thương mại dịch vụ kinh doanh
LNST: Lợi nhuận sau thuế
TSLNST: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
TTNDN: Thuế thu nhập Công ty
TSCĐ: Tài sản cố định
TSLĐ: Tài sản lưu động
TSNH: Tài sản ngắn hạn
TSDH: Tài sản dài hạn
NVTT: Nguồn vốn tạm thời
NVTX: Nguồn vốn thường xuyên
VCSH: Vốn chủ sở hữu
NVCSH: Nguồn vốn chủ sở hữu
TSLNVCSH: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
KHCN: Khoa học công nghệ

2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là trên cơ sở thực tế tình hình tổ chức
sử dụng vốn kinh doanh của công ty hiện nay để thấy được những mặt đã đạt
được cần phát huy đồng thời cũng thấy được những tồn tại cần khắc phục, từ đó
đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn
kinh doanh của Công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức
sử dụng vốn tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ máy tính Thanh Trung
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi vốn kinh doanh tại
Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ máy tính Thanh Trung. Thời gian được
chọn để nghiên cứu là Qúy I năm 2013
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Yến
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Thông qua quá trình tiếp xúc với cán bộ,
công nhân viên trong và ngoài công ty để tìm hiểu các thông tin phục vụ cho quá
trình nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Từ số liệu thu thập được tiến hành phân
tích để đưa ra những nhận xét, đánh giá.
Phương pháp so sánh
Phương pháp tổng hợp phân tích
5. Nội dung nghiên cứu
Nội dung của báo cáo này gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh ở Công ty.
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh của
Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ máy tính Thanh Trung.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tại

đích sinh lời.
VKD thường xuyên chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang
hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động
của VKD như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động
thương mại dịch vụ kinh doanh của Công ty diễn ra liên tục không ngừng nên sự
tuần hoàn của VKD cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo
thành sự chu chuyển của VKD.
1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VKD đòi hỏi Công ty phải nhận thức
đúng đắn các đặc trưng cơ bản sau của VKD:
Một là, VKD biểu hiện bằng một lượng tài sản có thực.
Đây là đặc trưng cơ bản của VKD, chỉ những giá trị tài sản được sử dụng
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 11
12
vào quá trình thương mại dịch vụ kinh doanh thì mới được coi là VKD, có thể
là tài sản hữu hình (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá…) hoặc tài sản
vô hình (bản quyền, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, công nghệ…).
Hai là, trong nền kinh tế thị trường VKD phải vận động sinh lời đạt mục
tiêu kinh doanh. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là vốn khi được
đưa vào quá trình vận động và sinh lời. Trong quá trình vận động vốn có thể
thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng
tuần hoàn phải là đồng tiền. Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn
hơn giá trị ban đầu để đảm bảo cho quá trình tái đầu tư mở rộng và cũng là mục
tiêu kinh doanh lớn nhất của bất kỳ Công ty nào. Và phương thức vận động của
vốn ở các loại hình Công ty khác nhau là khác nhau, thật vậy:
Phương thức vận động của vốn trong ngân hàng, tổ chức tín dụng và các
hoạt động đầu tư tài chính là:
T ………… T’ (T’>T).
Phương thức vận động của vốn trong Công ty thương mai, dịch vụ là:
T – … H … – T’ (T’>T).

các tính chất, đặc điểm cũng như các vấn đề liên quan đến VKD giúp Công ty
chủ động và linh hoạt hơn trong việc quản lý, sử dụng nhằm đạt được hiệu quả
kinh tế cao và ổn định phát triển đi lên.
1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh
Để thuận tiện cho việc quản lý và sử dụng vốn cần tiến hành phân loại vốn.
Có nhiều tiêu thức để phân loại vốn nhưng để có được cái nhìn toàn diện và
chính xác nhất về vốn ta có thể lựa chọn tiêu thức: vai trò và đặc điểm lưu
chuyển của vốn. Chia VKD thành 2 loại: vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động
(VLĐ).
1.1.3.1. Vốn cố định của Công ty
VCĐ là biểu hiện bằng tiền giá trị tài sản cố định (TSCĐ), là số vốn đầu tư
ứng trước hình thành nên TSCĐ của Công ty, sự vận động của nó luôn gắn liền
với sự vận hành và chu chuyển của TSCĐ. Vì vậy để có thể nghiên cứu sâu hơn
về VCĐ cần phải tìm hiểu những đặc điểm của TSCĐ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 13
14
Theo quy định hiện nay thì tài sản được ghi nhận là TSCĐ khi nó thỏa mãn
các tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên.
Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị tối thiểu từ 10 triệu đồng trở lên.
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó.
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách rõ ràng và đáng tin cậy.
Đặc điểm chung của các TSCĐ trong Công ty là tham gia vào nhiều chu kì
thương mại dịch vụ kinh doanh với vai trò là công cụ lao động. Trong quá trình
sử dụng, hình thái vật chất ban đầu và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là
không thay đổi. Song giá trị của nó lại được chuyển dịch từng phần vào giá trị
sản phẩm thương mại dịch vụ ra, bộ phận này cấu thành một yếu tố chi phí
thương mại dịch vụ kinh doanh của Công ty.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ thực hiện chu

Như vậy, qua việc nhận thức đúng đắn đặc điểm của TSCĐ và VCĐ sẽ tạo
ra cơ sở để quản lý, sử dụng có hiệu quả TSCĐ, góp phần quản lý nâng cao hiệu
quả sử dụng VCĐ của Công ty cũng như hiệu quả sử dụng VKD.
1.1.3.2. Vốn lưu động của Công ty
Để đảm bảo cho quá trình thương mại dịch vụ kinh doanh được tiến hành
thường xuyên liên tục, đòi hỏi Công ty phải có một lượng tài sản lưu động
(TSLĐ) nhất định. Do đó, để hình thành nên các TSLĐ, Công ty phải ứng ra
một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn tiền tệ này được
gọi là VLĐ của Công ty.
VLĐ của Công ty là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm
bảo cho quá trình kinh doanh của Công ty được thực hiện thường xuyên, liên
tục.
TSLĐ của Công ty bao gồm hai loại: TSLĐ thương mại dịch vụ và TSLĐ
lưu thông.
TSLĐ thương mại dịch vụ bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng thay
thế, bán thành phẩm,…đang trong quá trình dự trữ hoặc chế biến.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 15
16
TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng
tiền, vốn trong thanh toán,…
Trong quá trình thương mại dịch vụ kinh doanh, TSLĐ thương mại dịch vụ
và TSLĐ lưu thông luôn luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm
bảo cho quá trình thương mại dịch vụ kinh doanh được tiến hành liên tục.
VLĐ của Công ty thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt qua nhiều
hình thái khác nhau. Đối với Công ty thương mại dịch vụ, VLĐ từ hình thái đầu
là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành
phẩm hàng hóa, khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là
tiền. Đối với Công ty thương mại, sự vận động của VLĐ nhanh hơn từ hình thái
vốn bằng tiền chuyển hóa sang hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển về hình
thái tiền. Quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty diễn ra liên tục không

bao gồm số VCSH bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh. Tùy theo từng
loại hình Công ty mà VCSH là vốn nhà nước, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau
thuế và từ các quỹ của Công ty. Đặc điểm của nguồn VCSH là không có thời
gian đáo hạn, có độ an toàn cao, lợi nhuận chi trả không ổn định, phụ thuộc vào
tình hình kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận của Công ty.
Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà Công ty có trách
nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: nợ vay, các khoản
phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong Công ty…Nợ
phải trả có thể là nợ phải trả ngắn hạn (là các khoản nợ có thời gian đáo hạn
dưới 1 năm) hoặc nợ phải trả dài hạn (là các khoản nợ có thời gian đáo hạn trên
một năm).
VCSH = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một
Công ty phải phối hợp cả hai nguồn: VCSH và nợ phải trả. Sự kết hợp hai nguồn
này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà Công ty hoạt động, và quyết định của
người quản lý. Việc phân loại theo tiêu thức này giúp nhà quản trị tài chính
Công ty xác định được mức độ an toàn trong công tác huy động vốn, giúp Công
ty tìm được biện pháp tổ chức quản lý, sử dụng vốn hợp lý. Các nhà quản trị
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 17
18
Công ty cần phải xác định giới hạn huy động vốn nhằm cung cấp đầy đủ kịp thời
vốn cho nhu cầu thương mại dịch vụ, tìm ra cơ cấu vốn tối ưu đồng thời vẫn
đảm bảo được an toàn tài chính.
1.1.5.1. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn
Căn cứ theo tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của Công ty ra làm hai
loại:
Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn có tính chất ổn định mà
Công ty có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn này thường dùng để
mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho
hoạt động kinh doanh của Công ty

sử dụng vốn cao hơn.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty
Hiệu quả sử dụng VKD là một trong các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt
động của các Công ty. Vậy sử dụng vốn như thế nào là có hiệu quả?
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng VKD như sau:
Quan điểm 1: Theo các nhà đầu tư, tùy thuộc vào vị trí của các nhà đầu tư
mà việc xem xét hiệu quả sử dụng vốn có sự khác nhau.
Với nhà đầu tư trực tiếp, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua tỷ suất
sinh lời vốn đầu tư và sự gia tăng giá trị Công ty mà họ đầu tư.
Với các nhà đầu tư gián tiếp, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông
qua tỷ suất lợi tức của một đồng vốn vay và bảo toàn giá trị thực tế của vốn cho
vay qua thời gian.
Quan điểm 2: Hiệu quả sử dụng vốn được xem xét trên cơ sở kết quả kinh
doanh của Công ty
Lợi nhuận = doanh thu thuần – giá vốn hàng bán – (chi phí bán hàng +
chi phí quản lý Công ty)
Lợi nhuận càng nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
Quan điểm 3: hiệu quả sử dụng vốn được xem xét trên cơ sở thu nhập thực
tế.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 19
20
Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, điều mà các nhà đầu tư quan tâm
không phải là lợi nhuận ròng danh nghĩa mà là lợi nhuận ròng thực tế.
Qua các quan điểm nêu trên, đều cho thấy một điểm chung là: hiệu quả sử
dụng vốn là biểu hiện của một mặt về hiệu quả kinh doanh, nó phản ánh về trình
độ quản lý sử dụng vốn trong việc tối đa hóa lợi ích.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của Công ty
- Xuất phát từ tầm quan trọng của vốn trong quá trình thương mại dịch vụ
kinh doanh của Công ty.

nay
Trong thời kì bao cấp, nguồn vốn của Công ty chủ yếu là do nhà nước cấp
phát, không phải chịu trách nhiệm về số vốn Công ty đã sử dụng, làm cho vai trò
của tài chính trở nên mờ nhạt.
Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, với sự hoạt động của nhiều thành
phần kinh tế, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các Công ty không chỉ trong nước mà
cả các Công ty nước ngoài, đòi hỏi các Công ty phải tự nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn thì mới có thể tồn tại và phát triển được. Nhưng hiện nay, tình trạng
kém lành mạnh về tài chính đang diễn ra ở rất nhiều Công ty đặc biệt là các
Công ty có vốn đầu tư của nhà nước có xu hướng gia tăng. Do việc đầu tư ồ ạt,
không tính toán đến hiệu quả đầu tư, gây thất thoát vốn của nhà nước. Ngoài ra
còn thêm nhiều hành vi tham nhũng, rút vốn và chiếm đoạt vốn của nhà nước
của một số cá nhân trong Công ty… Điều này đặt ra yêu cầu làm sao để bảo toàn
và phát triển vốn trong các Công ty.
Mặt khác trong xu thế kinh tế hội nhập hiện nay, tạo ra nhiều cơ hội phát
triển cho các Công ty như các phương thức đầu tư, liên doanh, liên kết kinh tế
song cũng gây nhiều áp lực cạnh tranh đòi hỏi các Công ty phải không ngừng
phát triển thương mại dịch vụ kinh doanh và đặc biệt quản lý sử dụng vốn một
cách hợp lý thì mới có thể đứng vững trên thị trường.
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty
1.2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng
vốn cố định
=
Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 21
22
Trong đó:
Vốn cố định bình

hiện thời
=
Tổng TSLĐ
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các
khoản nợ ngắn hạn do đó cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn của Công ty.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 22
23
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn về khả năng thanh toán của Công ty.
Hệ số thanh toán
nhanh
=
Tổng TSLĐ – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán
tức thời
=
Tiền + Các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Cả ba chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán này đều tính cho các thời điểm
đầu năm và cuối năm.
b. Tốc độ luân chuyển VLĐ: đo bằng hai chỉ tiêu
- Số vòng quay VLĐ: Phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong một
kỳ (một năm).
Số vòng quay
VLĐ
=

: Số VLĐ có thể tiết kiệm được
c. Tốc độ luân chuyển HTK: có hai chỉ tiêu
- Số vòng quay HTK: Phản ánh trong kỳ HTK luân chuyển được bao nhiêu
vòng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 23
24
Số vòng quay
HTK
=
Giá vốn hàng bán
HTK bình quân
Số ngày một vòng quay HTK: cho biết số ngày cần thiết để HTK quay
được một vòng.
Số ngày một vòng
quay HTK
=
360
Số vòng quay HTK
d. Tốc độ luân chuyển các khoản phải thu
Số vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu trong kỳ
Các khoản phải thu bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ, các khoản phải thu luân chuyển được bao
nhiêu vòng.
Kỳ thu tiền bình
quân
=
360

ròng của TS
(ROA)
VKD (hay tài sản) bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng VKD bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận
VCSH (ROE)
=
Lợi nhuận sau thuế
VCSH bình
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCSH bình quân trong kỳ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu
Để có thể đưa ra một sự đánh giá hiệu quả sử dụng VKD của một Công ty
thì cần phải xem xét trên cơ sở phân tích tình hình và phối hợp các chỉ tiêu.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa – MSSV: 11010973 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status