ĐỀ TÀI sưu tập và mô tả HÌNH DẠNG của một số LOÀI bướm - Pdf 23

Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhằm góp phần tạo sự phong phú và đa dạng về mẫu các loài động vật không
xương sống nói riêng và động vật nói chung; mặt khác, để phục vụ cho nhu cầu giảng
dạy thực hành sinh học ngành Động vật không xương sống, chúng tôi thực hiện đề tài
luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm” với mục tiêu:
- Sưu tập và mô tả hình dạng của các loài bướm thu được.
- Nhận dạng đến họ và loài.
1
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
Phần II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1. TỔNG QUAN VỀ BỘ CÁNH VẨY (LEPIDOPTERA)
1.1. Tổng quát
Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) gồm 140.000 loài đã được ghi nhận (tính trên toàn thế
giới) là bộ lớn thứ hai thuộc lớp côn trùng (Insecta) sau bộ cánh cứng (Coleoptera gồm
400.000). Chúng gồm các loài côn trùng mà chúng ta thường gọi là bướm hoặc ngài.
Bướm hoạt động ban ngày thường có màu sắc sặc sở, khi đậu thường gập hai cánh lại với
nhau, ngài hoạt động ban đêm thường có màu tối, khi đậu thường mở cánh ra có hình mái
nhà. Bướm được tìm thấy khắp nơi trên thế giới (trừ vùng cực), chúng phân bố nhiều ở
rừng nhiệt đới và đồng cỏ.
Ở Việt Nam, có hơn 1.000 loài bướm thuộc hai thượng họ: Papilionoidea và
Hesperioidea [Monastyrskii, Devyatkin, 2002].
1.2. Vị trí phân loại
Ngành: Arthropoda (chân khớp)
Ngành phụ: Mandibulata (có hàm)
Lớp: Insecta (côn trùng)
Bộ: Lepidoptera (cánh vẩy)
2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CHUNG CỦA BỘ CÁNH VẨY
Bướm là loài côn trùng, cơ thể có những đặc điểm cấu tạo cơ bản như sau:
- Toàn thân được bao bọc một lớp vỏ cứng - lớp vỏ cứng được kitin hoá và
được coi như bộ xương ngoài.

6

Dạng chỉ
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
2.1.2. Râu
Bướm có 1 đôi râu đầu, tùy theo họ mà hình dạng và cấu tạo khác nhau. Râu có sự
phân đốt hoặc không phân đốt. Râu thường có 5 dạng chính:
- Dạng móc câu: chót râu uốn cong như hình lưỡi câu, nơi uốn cong to, đầu
nhọn.
- Dạng lông chim: thân râu nhỏ được bao quanh bởi lớp lông tơ.
- Dạng chỉ: râu thon nhỏ.
- Dạng chùy: chót râu phù to giống dạng chùy.
- Dạng dùi đục: thân râu to dần, chót râu co lại như hình cái móc.

Hình 2: Các dạng râu của bướm [J. Borror, M. Delong, 1963]
2.1.3. Miệng và phụ miệng
Miệng là công cụ dùng để lấy thức ăn. Bướm có hai loại miệng: miệng hút ở đa số
các loài và miệng gậm nhai chỉ có ở một họ duy nhất đó là họ Micropterigidae, dạng
miệng này chỉ xuất hiện ở dạng sâu non của bướm.
2.1.3.1. Miệng gặm nhai
Dạng miệng này có cấu tạo cơ bản như sau:
- Môi trên (Labrum): đây là một mảnh mỏng, cứng nằm ngay trên các chi phụ
khác của miệng, có chức năng vị giác.
- Đôi hàm trên (Mandible): là các mảnh kitin hoá rất cứng, không phân đốt,
ngoài có răng cắt, trong có răng nhai. Đôi hàm trên nằm ngay phía dưới môi trên.
4
Dạng chuỳ

Dạng lông chim


3
4
A
1
7
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
2.1.3.2. Miệng hút (Hình 1)
Đặc điểm cấu tạo của kiểu miệng dạng này như sau:
- Hàm trên và môi trên tiêu giảm.
- Môi dưới kém phát triển, chỉ thấy râu môi dưới phát triển có 3 đốt chìa ra
phía trước.
- Đôi hàm dưới phát triển dài ra và dính vào nhau tạo thành ống hút (vòi). Vòi
là do vô số các vòng xoắn cứng nối với nhau bằng các màng, bình thường khi không hút,
vòi được cuốn cong lại thành nhiều vòng trôn ốc.
2.2. Phần ngực
Ngực là phần thứ hai và được coi là trung tâm vận động của cơ thể, vì ngực mang
3 đôi chân và 2 đôi cánh.
Phần ngực gồm 3 đốt: ngực trước, ngực giữa và ngực sau.
- Mỗi đốt được bao phủ bởi 4 mảnh cứng: 1 mảnh lưng, 1 mảnh bụng và 2
mảnh bên, bốn mảnh này được nối với nhau bởi lớp da mềm, mỏng.
- Mỗi đốt đều mang 1 đôi chân (ở một số họ bướm không có hai chân trước
hoặc bị tiêu giảm như: Nymphalidae). Chân gồm 5 đốt khớp với nhau: đốt chậu (coxa) -
đốt chuyển (trochanter ) - đốt đùi (femur) - đốt ống (tibia) - đốt bàn (tarsus).
- Đốt ngực giữa và đốt ngực sau mỗi đốt mang 1 đôi cánh. Nguồn gốc của
cánh là do các phần bên của mảnh lưng và mảnh bên của đốt ngực giữa và ngực sau dính
lại kéo dài ra tạo thành. Đôi cánh ở ngực giữa gọi là cánh trước, đôi cánh ở ngực sau gọi
là cánh sau. Cánh bằng chất màng mỏng được phủ đầy vẩy, trên cánh có nhiều mạch
cánh (gân cánh). Nhìn chung cánh bướm gần như hình tam giác có 3 góc: góc vai (basis),
góc đỉnh (apex), góc sau (tornus) và 3 cạnh (mép): mép trước (costa), mép ngoài
(termen), mép sau (dorsum). Trên cánh được phân chia thành các vùng khác nhau và các

2
+R
3
) và R
S2
(R
4
+R
5
).
+ Gân medius (M): nằm kế sau gân R. Gân này thường phân làm 3 gân
nhỏ: M
1,
M
2
, M
3
.
+ Gân cubitus (Cu): nằm tiếp sau gân medius, gân này chia thành hai
nhánh nhỏ: Cu
1
, Cu
2
.
+ Gân anal (A): thường gọi là gân đáy gồm hai nhánh nhỏ nằm cuối cùng
của hệ gân cánh: 2A, 3A.
- Trên cánh còn được phân thành các vùng khác nhau với tên gọi khác nhau:
vùng gốc cánh, vùng giữa cánh, vùng rìa cánh.

hv. Gốc góc gân ngoài

tornus
basis
1
apex
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
3. SINH HỌC CỦA BƯỚM
3.1. Chu trình sống: bướm là loài côn trùng có chu trình sống khá phức tạp, vòng
đời của chúng trải qua các giai đoạn biến thái khác nhau: bướm (thành trùng hay sâu
trưởng thành) - trứng - ấu trùng (sâu non) - nhộng. Bướm đực và bướm cái sau khi cặp
đôi, giao phối, con cái đẻ trứng và vòng đời như thế tiếp tục.

3.1.1. Trứng: trứng thường được con cái đẻ riêng lẻ hay thành đám ở mặt dưới lá
của cây kí chủ. Trứng có kích thước lớn mắt thường có thể quan sát thấy. Trứng có hình
dạng và màu sắc rất phong phú:
- Hình cầu: Papilionidae
- Có sọc nổi, hình cái chai: Pieridea
3.1.2. Ấu trùng: ấu trùng (sâu non) có dạng sâu với hình dáng rất đa dạng. Sâu
non thuộc dạng nhiều chân, với bộ phận đầu rất phát triển, cơ thể hình ống dài gồm 13
đốt (3 đốt ngực và 10 đốt bụng), có 6 mắt đơn ở hai bên đầu và 1 đôi râu rất ngắn. Miệng
thuộc kiểu ngậm nhai, hàm trên to khoẻ. Mỗi đốt ngực mang 1 đôi chân ngực. Bụng có từ
2 - 5 đôi chân ở vị trí tương đương với đốt bụng thứ 3, 4, 5, 6 và 10.
Đôi chân ở đốt bụng thứ 10 thường gọi là đôi chân mông. Phía cuối chân bụng có
nhiều móng dạng móc câu, sắp xếp thành từng kiểu khác nhau theo loài và đây là đặc
điểm quan trọng để phân loài. Một số loài có hơn 5 đôi chân bụng giống như sâu đo, có
loài hoàn toàn không có chân bụng như một số loài họ Xycanidae, những loài thuộc họ
Microlepidotera hoàn toàn không có chân ngực lẫn chân bụng.
1. Lỗ thở 2. Mắt đơn 3.Râu 4. Chân ngực 5. Chân bụng

loài thích tập trung ở nơi có bóng râm (Danaus melissa, Danaus genutia)…
10
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
3.2.5. Tập tính về thời gian hoạt động
Theo tập tính này người ta thường phân chia bướm ngày và bướm đêm. Đối với
những loài hoạt động ban ngày thời gian hoạt động mạnh nhất của chúng vào khoảng từ
8-10 giờ sáng (khoảng thời gian này đúng khi có nắng; nếu có mưa, khi tạnh ít thấy
chúng xuất hiện kể cả trời âm u), chiếm đa số ở tập tính này là những loài thuộc họ
Nymphalidae. Đối với những loài hoạt động vào ban đêm, thời gian thích hợp cho chúng
là vào lúc trời gần tối, thuộc dạng này là các loài thuộc giống Melanitis (Satyrinae).
4. ĐẶC ĐIỂM NHẬN DẠNG CÁC LOÀI BƯỚM THUỘC BỘ CÁNH
VẨY (LEPIDOPTERA) [Mạnh, 1998]
Việc định danh Lepidoptera chủ yếu dựa vào những đặc điểm khác nhau về cấu
trúc cơ thể của chúng. Sau đây là một số đặc điểm trong cấu tạo cơ thể đề nhận dạng và
phân loại bướm:
4.1. Màu sắc
Dựa vào màu của cánh như: màu nền, các vệt màu và những đốm màu trên cánh.
Tuy nhiên, các tính chất này không ổn định, chúng có thể thay đổi theo mùa.
4.2. Dấu hiệu sinh dục thứ cấp
Trên cánh bướm đực thường có các dấu hiệu sinh dục thứ cấp như: túi vảy mùi, túi
mùi, túm lông…Đây là đặc điểm nhận dạng tương đối quan trọng.
Vd: Bướm hổ vằn (Danaus genutia) ở cánh sau có vẩy mùi
Bướm nâu Ấn Độ (Euploea core) ở cánh trước có vệt mùi.
4.3. Xúc biện hay mảnh sờ môi
Xúc biện là một cấu trúc thuộc phụ họ bộ miệng của Lepidoptera, xúc biện có ba
đốt, trên xúc biện có các lông cứng hoặc vẩy. Dựa vào hình dạng và số lượng của các
lông hoặc vẩy, chiều dài đốt để phân loại.
11
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
4.4. Râu

đường kính khoảng 40cm; lưới may vợt là loại lưới mịn kiểu vải mùng, chiều sâu của
lưới vợt khoảng 80cm.
Hình 7 : Vợt thu mẫu
1.1.2. Dụng cụ ép mẫu
- Giá ghim (làm bằng gỗ ở giữa có rãnh nhỏ)
- Ống chích
- Kim ghim
- Giấy trong được cắt thành từng miếng có hình chữ nhật (chiều rộng 25mm, chiều
dài bằng chiều dài giá ghim 30cm).
- Tủ sấy
1.2. Hoá chất
- Ete
- Formol
- Dung dịch HCl 10%
- Dung dịch KOH 10%
- Cồn 95%, 90%, 80%
13
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
- Glycerine
- Javel
- Long não
2. PHƯƠNG PHÁP
2.1. Địa điểm thu mẫu
Trong thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành thu mẫu trên nhiều địa bàn
khác nhau: Đại Học Cần Thơ - quận Ninh Kiều, cồn Khương - quận Bình Thuỷ, quận Cái
Răng, huyện Ô Môn - thành phố Cần Thơ, huyện Phong Điền - thành phố Cần Thơ,
huyện Bình Minh - tỉnh Vĩnh Long, huyện Thạnh Trị - Tỉnh Sóc Trăng, huyện Giá Rai -
tỉnh Bạc Liêu, huyện Long Mỹ - tỉnh Hậu Giang. Khu vực thu mẫu chủ yếu là đồng cỏ và
vườn cây.
Thời gian thu mẫu tốt nhất là lúc sáng sớm đẹp trời (8 giờ-10 giờ) vì bướm chỉ rời

- Khi mẫu nằm trong lưới tránh cho chúng đập cánh nhiều vì như thế làm
gẫy cánh và làm bay vẩy phấn trên cánh, dùng tay giữ cho hai cánh trước của chúng gập
lại phía lưng để lấy mẫu ra.
- Không vợt hoặc đập quá mạnh, nếu không sẽ làm hư mẫu như: gẫy cánh,
làm bay vẩy phấn…).
15
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
Hình 9: Thu bướm khi đậu
2.3. Phương pháp xử lý mẫu
2.3.1. Phương pháp xử lý mẫu tại chỗ
Có 2 cách xử lý mẫu tại chỗ:
- Cho mẫu thu được vào hộp kín trong chứa ete (ete được đựng trong lọ nhỏ) để
gây mê bướm.
- Cho mẫu thu được vào tấm giấy gấp đã chuẩn bị trước (giấy gấp -giấy bìa được
cắt thành hình chữ nhật và xếp đôi lại tạo thành hình vuông có cạnh dài 6cm): dùng tay
phải giữ cho hai cánh trước của chúng gập lại phía lưng đưa thân bướm vào sát đường
xếp, dùng tay trái ép giấy gấp lại rồi dùng nghim giữ lại.
2.3.2. Phương pháp ép mẫu
2.3.2.1. Đối với mẫu còn sống: gây mê hoặc giết chết mẫu bằng ete hoặc tiêm
formol.
- Cố định mẫu trên giá gỗ: thân bướm được cố định ở khe giá gỗ bằng kim,
ghim trên đốt ngực.
- Cố định cánh:
+ Dùng giấy trong đặt lên trên cánh bướm.
+ Dùng đầu nhọn của kim tỳ vào gân subcosta của cánh trước để xoè
cánh trước ra, cánh trước được xòe sao cho dorsum vuông góc với thân bướm và costa
cánh sau nằm sát phần đáy cánh trước.
+ Sau khi điều chỉnh cánh bướm, dùng kim cúc ghim chặng trên
giấy trong phủ lên hai cánh.
2.3.2.2. Đối với mẫu bướm chết đã lâu và cánh bị cứng: đối với mẫu này cần làm

bị tẩy đi để lộ ra hệ thống gân cánh phía dưới.
- Rửa mẫu lại bằng nước sạch.
- Bảo quản: mẫu sau khi xử lý được bảo quản bằng cách ép Plastic.
Đối với những loài có vẩy trên cánh dày đặc, việc xử lý một lần qua 3 dung dịch
trên là chưa đủ mà trên cánh của chúng còn nhiều vẩy; trong trường hợp này, tôi chuyển
mẫu trở lại dung dịch HCl 10% một thời gian rồi lại chuyển sang dung dịch nước Javel
10%, thao tác này được lặp đi lặp lại cho đến khi nào lớp vẩy trên cánh được tẩy hết.
2.3.5. Phương pháp làm mẫu ấu trùng
Tất cả các phương pháp bảo quản ấu trùng của bướm đều làm cho chúng bị mất
màu rất nhanh. Do đó, trước khi xử lý và bảo quản mẫu, tôi ghi nhận lại màu sắc của
chúng bằng cách chụp hình hay mô tả.
Phương pháp làm mẫu và bảo quản mẫu ấu trùng được tiến hành như sau:
- Bỏ ấu trùng vào nước sôi vài giây cho đến khi chúng dũi ra hoàn toàn.
- Thấm khô chúng trên giấy thấm.
- Chuyển chúng sang cồn 80
0
có thêm khoảng 2% glycerine.
Nếu ấu trùng bị co rút chân giả lại thì có thể làm cho chúng phòng lên bằng cách
tiêm cồn 80
0
qua huyệt sau khi giết.
Những ấu trùng chết đã lâu và bị khô hoặc nhăn nheo có thể được phục hồi lại
phần nào bằng cách ngâm vào bằng dung dịch KOH 10% ấm.
2.3.6. Phương pháp làm mẫu nhộng và trứng.
Các mẫu nhộng và trứng được bảo quản bằng cách cho vào dung dịch cồn 90%.
Tôi cũng ghi nhận lại màu sắc của chúng bằng cách chụp hình hay mô tả.
18
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
Phần IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. KẾT QUẢ

2
, R
3
, R
4
dài và có gốc nhánh không nằm trên ô cánh. Ô cánh sau thường
hở hoặc chỉ khép kín bởi một gân ngang rất mảnh.
1.2.2.1.1. Bướm hoa đuôi công (Junonia almana ♂ Linnaeus)
* Sải cánh: (khoảng cách giữa 2 chót cánh trước qua gốc cánh) trung bình 53mm.
* Mặt trên: nền cánh có màu cam. Rìa termen 2 cánh có những đường viền đen
gợn sóng, gốc cánh có màu cam vàng.
+ Cánh trước:
- Bờ costa có màu đen, rìa costa có 4 vệt đen dài.
- Có 1 đốm mắt nền đen tâm trắng ở vùng Cu
1.
- Rìa termen có màu hơi đen.
+ Cánh sau:
- Có 1 đốm mắt rất lớn (tâm đen, viền đen 1 phần đỏ cam) chiếm hết
vùng Rs, M
1
và M
2
.
- Rìa dorsum có lông phủ.
- Có 1 vòng đen nhỏ nằm ở vùng Cu
1
-

Tornus nhô ra, hơi uốn vào.
* Mặt dưới: nền cánh có màu vàng cam.

- Gốc cánh có đường viền màu đen chạy từ costa đến gân 2A.
1.2.2.1.2. Bướm cánh vân hoa (Junonia atlites ♂ Linnaeus)
* Sải cánh: trung bình 63mm
* Mặt trên: nền cánh có màu xám trắng. Cánh trước và cánh sau có 1 chuỗi các
đốm mắt (nền nữa cam nữa đen, viền trong trắng, viền ngoài đen). Rìa termen 2 cánh có
những đường viền màu xám đen gợn sóng.
+ Cánh trước:
- Ô cánh có các đường ziczag màu đen.
- Termen dạng răng cưa, lồi ra ở gân M
1
.
- Các đốm mắt phân bố từ vùng Cu
2
đến Rs. Các đốm mắt thuộc các
vùng Cu
1
, M
1
, Rs có nền nữa cam nữa đen, viền trong trắng viền ngoài đen, các đốm còn
lại có tâm đen nền trắng viền đen).
- Phía trong hàng đốm mắt có 1 đường viền màu đen gợn sóng chạy
từ costa đến dorsum. Nền cánh phân thành 2 vùng phía trong màu đậm hơn phía ngoài,
vùng giữa hàng đốm mắt và đường viền này có màu trắng.
+ Cánh sau: màu sắc và sự phân bố các đốm, vệt, đường tương tự cánh
trước chỉ khác:
- Ô cánh không có các đường ziczag.
21
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
- Rìa dorsum có lông phủ.
- Phía trong đường viền đen có 1 đường viền nhỏ màu đen chạy từ

2
.
22
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
- Ô cánh có các đường ziczag.
- Termen lồi ở gân M
1
.
+ Cánh sau:
- Có 1 đốm mắt tương tự cánh trước thuộc vùng M
1
.
- Có 1 đuôi ngắn ở gân M
3
.
- Rìa termen có 2 đường viền gợn sóng.
- Rìa dorsum có lông phủ.
* Mặt dưới: nền cánh có màu trắng xám.
1.2.2.1.5. Bướm lông mượt (Ariadre ariadre ♂ Linnaeus)
* Sải cánh: trung bình 49mm
* Mặt trên: có màu nâu đỏ với những đường ziczag nâu sẫm chạy khắp 2 cánh, bờ
termen 2 cánh có màu đen.
+ Cánh trước: ở chót cánh có 1 đốm trắng nhỏ nằm gần costa.
+ Cánh sau: rìa dorsum có lông phủ.
* Mặt dưới: nền cánh có màu nâu sẫm.
1.2.2.1.6. Bướm báo hoa vàng (Cethosia cyane Drury)

Cethosia cyane ♂Drury
* Sải cánh: 65mm
* Mặt trên:

nhau, trong chứa các chấm đen.
- Termen dạng răng cưa.

Cethosia cyane ♀ Drury
* Sải cánh : trung bình 78mm
* Mặt trên:
+ Cánh trước: nền cánh có màu đen và vàng nhạt.
- Phần lớn phía trên cánh có màu đen, phần dưới có màu vàng nhạt.
- ½ phía trên ô cánh có màu đen, nữa dưới màu vàng nhạt.
- Phía ngoài vùng chót cánh có 1 băng lớn màu trắng chạy từ costa
đến rìa termen.
- Termen dạng răng cưa. Rìa termen có màu đen với hàng viền hình
chữ V màu trắng, phía trong hàng chữ V có 1 hàng đốm trắng chạy song song.
- Trong nền cánh màu vàng nhạt có 3 đốm màu đen (2 thuộc vùng
Cu
2
, 1 đốm thuộc vùng Cu
1
).
+ Cánh sau: nền cánh có màu vàng nhạt.
24
Luận văn tốt nghiệp “Sưu tập và mô tả hình dạng của một số loài bướm”
- Rìa termen có màu đen với hàng hình chữ V màu trắng giống cánh
trước nhưng kích thước lớn và rõ hơn. Termen dạng răng cưa, phía trong rìa termen (nền
cánh vàng nhạt) có 1 đường viền màu đen gợn sóng xếp dọc theo.
- Rìa costa màu đen.
- Phía ngoài ô cánh thuộc các vùng M
2
, M
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status