Nghiên cứu đặc điểm thích nghi hình thái, cấu tạo và sinh thái của một số loài thực vật điển hình ở khu du lịch sinh thái gáo giồng, huyện cao lãnh, tỉnh đồng tháp - Pdf 34

1

MỤC LỤC
Trang phụ bìa ........................................................................................................... i
Danh sách các thành viên tham gia .......................................................................... ii
Lời bản quyền......................................................................................................... iii
Lời cảm ơn ............................................................................................................. iv
Mục lục ................................................................................................................... 1
Danh mục các từ viết tắt .......................................................................................... 3
Phần 1. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề .................................................................................................... 4
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................................... 5
4. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 5
5. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................. 6
6. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 6
7. Cấu trúc đề tài............................................................................................... 8
8. Giới hạn của đề tài nghiên cứu...................................................................... 9
9. Những đóng góp của đề tài ........................................................................... 9
Phần 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Lược sử vấn đề nghiên cứu ......................................................................... 10
2. Mô tả khu vực nghiên cứu .......................................................................... 11
Phần 3. KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
Chương 1. ĐẶC ĐIỂM THÍCH NGHI CỦA CÁC LOÀI THỰC VẬT
MỘT LÁ MẦM
1. Cỏ ống (Panicum repens L.) ....................................................................... 16
2. Mồm mốc (Ischaemum rugosum Salisb.) .................................................... 20
3. Lúa ma (Oryza rufipogon Griff.)................................................................. 24
4. Năng ống (Eleocharis dulcis (Burm.f.) Hensch.) ........................................ 28
Chương II: ĐẶC ĐIỂM THÍCH NGHI CỦA CÁC LOÀI THỰC VẬT
HAI LÁ MẦM


4

Phần 1. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Thực vật đóng vai trò quan trọng trong hệ thống sinh giới, chúng vô cùng
phong phú và đa dạng. Ở các môi trường khác nhau thì có các loài thực vật khác
nhau sinh sống. Sự sống của con người được duy trì là phần lớn phụ thuộc vào sự
tồn tại của các loài thực vật. Thực vật có vai trò cung cấp oxy cho sự sống của con
người và động vật và đồng thời chúng cũng hấp thụ carbonic như một máy lọc
không khí, tạo môi trường không khí trong lành. Ngoài ra, thực vật còn đóng vai trò
là sinh vật sản xuất cung cấp thức ăn cho các loài động vật, là mắt xích quan trọng
trong chuỗi và lưới thức ăn, tạo sự cân bằng trong hệ sinh thái.
Đời sống của thực vật luôn chịu sự tác động của các nhân tố môi trường, đặc
biệt là các loài thực vật sống ở môi trường đất ngập nước thì chế độ thủy văn là yếu
tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng. Việc kiểm soát,
duy trì chế độ nước hợp lí cũng đồng nghĩa với việc tạo ra sự ổn định cho hệ sinh
thái đất ngập nước.
Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng thuộc xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh
Đồng Tháp được xem như một Đồng Tháp Mười thu nhỏ. Hệ sinh thái đặc trưng
nơi đây là hệ sinh thái đất ngập nước theo mùa trên đất chua phèn. Ngoài giá trị về
du lịch sinh thái, Gáo Giồng còn có giá trị về mặt khoa học, nguồn tài nguyên thiên
nhiên, văn hóa, lịch sử và kinh tế... Thảm thực vật nơi đây ngoài những vai trò nói
trên thì còn là nơi cư trú, kiếm ăn và sinh sản cho nhiều loài chim nước như vịt trời,
cồng cộc, le le, điên điển, trích mồng đỏ… Những lung sen là nơi hội tụ của nhiều
con trích mồng đỏ về nhảy múa; những quần xã mồm mốc, cỏ ống là nơi ăn, sinh
sản và trú ẩn khá an toàn cho một số loài khác…Vì vậy, việc bảo tồn nguồn gen
thực vật nơi đây cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ nguồn gen động vật, góp phần
bảo tồn sinh cảnh, bảo tồn đa dạng sinh học và để phát triển bền vững Khu du lịch
sinh thái này.

1) Cỏ ống (Panicum repens L.).
Họ Lúa: POACEAE
2) Mồm mốc (Ischaemum rugosum Salisb.).
Họ Lúa: POACEAE
3) Lúa ma (Oryza rufipogon Griff.).
Họ Lúa: POACEAE
4) Năng ống (Eleocharis dulcis (Burm.f.) Hensch.).
Họ Lác: CYPERACEAE
5) Rau dừa nước (Ludwidgia adscendens (L.) Hara.).
Họ Rau dừa nước: OENOTHERACEAE


6

6) Sen (Nelumbo nucifera Gaertn.).
Họ Sen: NELUMBONACEAE
7) Súng lam hay súng ma (Nymphaea nouchali Burm.f.).
Họ Súng: NYMPHAEACEAE
8) Tràm (Melaleuca leucadendra L.).
Họ Sim: MYRTACEAE
5. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
5.1. Thời gian
Thời gian nghiên cứu từ tháng 6/2011 đến tháng 5/2012.
- Thời gian thực nghiệm từ tháng 6/2011 đến tháng 3/2012.
- Thời gian viết và hoàn chỉnh đề tài từ tháng 4 đến tháng 5/2012.
5.2. Địa điểm
- Thu mẫu tại Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao lãnh, tỉnh Đồng
Tháp.
- Giải phẫu hiển vi thực vật tại phòng thí nghiệm Sinh học 2, Trường Đại học
Đồng Tháp.

Axit axetic có tác dụng chủ yếu là giữ cho cấu tạo nhân không thay đổi nhưng
không giữ được cấu tạo của chất tế bào và thường gây phân hủy các thể tơ. Khác
với rượu, axit axetic còn làm cho tế bào trương lên và ngăn chặn hiện tượng làm
cứng màng tế bào.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp cắt, nhuộm mẫu
+ Cắt trực tiếp bằng tay với lưỡi dao lam.
+ Mẫu cắt xong muốn nghiên cứu được chi tiết, chúng ta phải tiến hành nhuộm
mẫu. Sử dụng phương pháp nhuộm kép, gồm các bước:
▫ Ngâm mẫu cắt vào nước javen trong 15-20 phút để tẩy sạch nội chất của tế
bào, rửa sạch bằng nước cất.
▫ Ngâm mẫu vào axit axetic 1% khoảng 5 phút để loại hết javen còn dính lại,
rửa sạch bằng nước cất.
▫ Nhuộm xanh bằng dung dịch xanh metylen loãng (1/1000-1/10.000 trong
nước cất) từ 10 giây đến 1-2 phút, rửa sạch bằng nước cất.
▫ Nhuộm đỏ bằng dung dịch đỏ carmin trong 20-30 phút, rửa lại sạch bằng
nước cất.


8

Sau đó lên kính bằng nước cất hay glyxerin, đặt vào kính hiển vi quan sát các
thành phần cấu tạo của tế bào.
- Phương pháp đo trên kính hiển vi: Sử dụng phương pháp đo gián tiếp bằng
cách so sánh kích thước của vật cần đo với một thước đo thị kính và thước đo vật
kính được lắp thêm vào kính hiển vi. Sử dụng phương pháp này chúng ta xác định
được kích thước của các thành phần cơ bản cấu tạo nên tế bào.
Số liệu được xử lí bằng phương pháp toán thống kê:
n




2


n

- Phương pháp chụp ảnh hiển vi: Sử dụng kính hiển vi kết nối với máy ảnh kỹ
thuật số. Sau khi lên tiêu bản bằng glyxêrin, đặt tiêu bản lên kính, điều chỉnh rồi
chụp.
7. Cấu trúc đề tài
Gồm 4 phần:
Phần 1. Mở đầu
Phần 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Phần 3. Kết quả và biện luận
Phần 4. Kết luận và kiến nghị


9

8. Giới hạn của đề tài nghiên cứu
Do điều kiện thời gian chúng tôi giới hạn đề tài nghiên cứu các đặc điểm thích
nghi về hình thái, cấu tạo và sinh thái trên 8 loài thực vật thường gặp ở Khu du lịch
sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
9. Những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu những đặc điểm về hình thái, cấu tạo của một số loài thực
vật ở Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, từ đó rút
ra được những đặc điểm thích nghi của chúng nhằm góp phần bảo tồn sự đa dạng
sinh học thông qua việc duy trì môi trường sống thích hợp cho các loài thực vật ở
Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

về hình thái cấu tạo do tác động của các yếu tố môi trường này.
Năm 1884, Constange khi nghiên cứu những cây ở nước đã phát hiện ra những
sai khác của thực vật ở nước và thực vật ở cạn. Maiacopxki nghiên cứu sự thay đổi
về hình thái của thực vật khi thay đổi môi trường sống từ cạn xuống nước.


11

Những nghiên cứu của Boni cho biết những cây sống ở đồng bằng có hình thái
bình thường còn những cây sống ở miền núi thì có dạng thấp, đốt ngắn, lá thường
xếp theo hình hoa thị.
Đến thế kỷ XX, giải phẫu hình thái thích nghi thực vật được hình thành do
trường phái giải phẫu thực vật kết hợp với sinh thái, và đã có nhiều công trình
nghiên cứu về hình thái giải phẫu thích nghi. Lúc bấy giờ sinh thái học đã phát triển
mạnh tạo điều kiện cho các nhà giải phẫu học thực vật đi sâu nghiên cứu lĩnh vực
giải phẫu sinh thái. Những năm 40 của thế kỷ XX, sinh thái học đã hình thành
hướng giải phẫu sinh thái do Keller lập ra. Từ đây, các nhà thực vật học và sinh thái
học có thể hiểu được bản chất và sự đa dạng của quá trình thích nghi ở thực vật.
Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, Lê Khả Kế với cuốn “Thực vật đại
cương” là tác phẩm đầu tiên có đề cập đến giải phẫu thực vật. Về sau có nhiều sách
hoặc giáo trình hình thái, giải phẫu ra đời như: Vũ Văn Chuyên (1970) với giáo
trình Giải phẫu thực vật; Nguyễn Bá (1974, 1975) với quyển Giải phẫu học thực
vật-Hình thái giải phẫu học thực vật; Nguyễn Như Đối, Nguyễn Khoa Lân (1995)
với giáo trình Giải phẫu thực vật; Hoàng Thị Sản, Nguyễn Thị Phương Nga (2003)
với quyển Hình thái-Giải phẫu học thực vật; Nguyễn Khoa Lân (2006) với giáo
trình Giải phẫu hình thái thích nghi thực vật. Bên cạnh đó còn có nhiều công trình
nghiên cứu như Nguyễn Khoa Lân (1990) nghiên cứu Giải phẫu hình thái cây ngập
mặn một số vùng ven biển Việt Nam; Nguyễn Khoa Lân (1995) với một số kết quả
nghiên cứu về Hình thái cấu tạo thích nghi của rễ các loài thân gỗ rừng ngập mặn ở
Lâm trường Cần Giờ; Nguyễn Khoa Lân (1996) nghiên cứu Giải phẫu sinh thái

nước phèn trong nhưng chát đắng hoặc thứ nước nâu đen do cỏ mục sinh ra; chiều
tối phải ăn cơm, sinh hoạt trong mùng; mùa nước nổi, phải ghép những chiếc xuồng
ba lá bé nhỏ lại làm bè. Thực phẩm săn bắt từ tự nhiên không thiếu, trừ mùa khô
hạn, nhưng rau xanh lại rất hiếm. Mặc dù vậy, nhưng với quyết tâm, sức trẻ và đoàn
kết thống nhất, lực lượng 705 đã từng ngày thu hẹp diện tích hoang hoá, chua phèn.
Rừng tràm hình thành, các con kênh được đào đắp chủ yếu bằng thủ công đã đem
về nguồn nước ngọt. Nhiều loài động vật hoang dã lần lượt tụ hội; chung quanh
rừng tràm, nhiều hộ dân về cất nhà sinh sống.
* Du lịch sinh thái
Để phát huy hết thế mạnh và tiềm năng của rừng tràm, tháng 3 năm 2003,
huyện Cao Lãnh chủ trương phát triển du lịch sinh thái Rừng tràm Gáo Giồng. Với
mức đầu tư ban đầu trên 700 triệu đồng và qui hoạch giữ lại 300 ha rừng trên 10
năm tuổi, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng đi vào hoạt động.
Điểm đặc biệt thu hút du khách đến đây không phải là do những tặng phẩm
của thiên nhiên mà là thành quả của bàn tay, khối óc con người để vùng đất hoang


13

hoá ngày nào trở thành một “Đồng Tháp Mười thu nhỏ” với những bản sắc riêng, do
Rừng tràm Gáo Giồng không chỉ đóng vai trò điều tiết dòng chảy của lũ và tạo
không khí trong lành cho cả khu vực mà còn trở thành nơi sinh sống của nhiều loài
thực động vật đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười, trong đó có nhiều loài quí hiếm
được ghi vào Sách đỏ thế giới như chim nhan điển.
Gáo Giồng chia thành 4 khu với trên 70 km kênh phân lô, 20 km đê bao khép
kín. Đây là vựa cá nước ngọt lớn vào bậc nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mười.
Sản lượng cá tự nhiên khai thác hằng năm hơn 30 tấn, nhiều nhất là cá lóc, cá rô, cá
thát lát. Với nguồn thức ăn tự nhiên phong phú nên rất nhiều loài chim nước đã
khéo chọn đây làm nơi sinh sống, quần tụ.
Tại đây có loài rau đồng vượt nước như bông điên điển, bông súng, rau dừa,

Tọa độ địa lý:
- Từ 10019’00’’ đến 10040’40” độ vĩ Bắc
- Từ 105033’25” đến 105049’00” độ kinh Đông.
2.2.2. Địa hình
Địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, dốc theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam, cao từ 1,0 - 1,4 m so với mực nước biển. Càng đi sâu vào nội đồng địa hình
càng thấp, cục bộ có nơi chỉ cao từ 0,8 m – 0,9 m, hình thành những vùng ngập
nước thời gian từ 4 - 5 tháng/năm.
Địa hình của huyện bị chia cắt bởi hệ thống kênh, rạch chằng chịt nên thuận
lợi cho công việc tưới tiêu nhưng hạn chế xây dựng cơ sở hạ tầng cơ giới hóa nông
nghiệp.
2.2.3. Khí hậu và thủy văn
Huyện Cao Lãnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với những đặc
trưng cơ bản sau:
- Nắng nhiều 2.710giờ/năm, nhiệt độ cao đều trong năm, trung bình từ 27,30C
–32,80C, biên độ nhiệt chênh lệch ngày và đêm tương đối lớn, rất thuận lợi cho
thâm canh tăng vụ, tăng năng suất và nâng cao chất lượng nông sản.
- Lượng mưa bình quân hàng năm thấp 1.332mm, chỉ bằng 70% lượng mưa/
năm của Thành phố Hồ Chí Minh và chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa:
Từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm trên 90% lượng mưa cả năm, đặc biệt các
tháng mưa lớn trùng với các tháng mùa lũ (từ tháng 7 đến tháng 11) đã xảy ra tình
trạng nước lũ dâng cao ở sông rạch và ngập úng trong đồng ruộng do mưa lớn tại
chỗ. Riêng khu vực nằm trong những ngày mưa lớn thường kèm theo lốc xoáy.
Vào mùa lũ, nước từ sông Mê Kông đổ về cộng với mực nước dâng cao do
triều cường làm cho sự chênh lệch mực nước thấp nên khả năng thoát nước lũ kém.


15


cho lá có cấu tạo 2 mặt. Mặt dưới lá có màu xanh đậm, không có lông, mặt trên lá
có màu xanh mốc và có lông bao phủ, lá có một gân chính và nhiều gân phụ song
song nhau; bẹ lá ôm lấy gần hết chiều dài mỗi lóng, mép và đầu bẹ lá có lông. Có hệ
rễ phát triển, ăn sâu, lan rộng và có lông hút (hình 1). [2], [4], [5], [6]
* Nhận xét:
- Thân ngầm giúp cây tồn tại được trong môi trường nắng nóng (mùa khô) và
ngập úng (mùa nước), đảm bảo khả năng sống sót của loài.
- Mặt trên của lá có màu xanh mốc và có lông màu trắng bao phủ giúp phản xạ
ánh sáng, tránh sự đốt nóng lá.
- Rễ có nhiều lông hút giúp hút nước và dinh dưỡng tốt cho cây, rễ phát triển,
ăn sâu và lan rộng giúp cơ thể bám chặt vào môi trường đất ướt, đầm lầy; hút nước
vào mùa khô.
Như vậy cỏ ống có hình thái thích nghi với cả 2 mùa: Mùa khô nắng nóng và
mùa mưa nước ngập.
1.2. Cấu tạo giải phẫu
1.2.1. Cấu tạo giải phẫu rễ
Biểu bì gồm một lớp tế bào vách mỏng xếp sát nhau có độ dày trung bình
(100  2,73)μm, chiếm 7,4% bán kính của rễ. Phần vỏ có độ dày trung bình
(738  5,59)μm, chiếm 54,5% bán kính rễ gồm các tế bào mô mềm vỏ vách mỏng,


17

có nhiều khoảng gian bào lớn. Vỏ trong là lớp tế bào vách dày nằm trong cùng của
vỏ. Phần trụ có độ dày trung bình (519  4,83)μm, chiếm 38,4% bán kính rễ. Bao
quanh phần trụ là lớp tế bào mô cứng tạo thành đai. Trong trụ gồm có nhiều tế bào
mô cứng vách dày được bao quanh bởi các tế bào mô mềm vách mỏng và mạch gỗ.
Số lượng mạch gỗ rất ít, có 7 mạch trên lát cắt ngang của rễ (hình 2).
* Nhận xét:
- Lớp vỏ có kích thước lớn chiếm 54,5% bán kính rễ gồm nhiều tế bào mô

cả trong môi trường cạn và môi trường nước.
- Các bó dẫn lớn nằm sâu trong thân gồm gỗ và libe có chức năng vận chuyển.
1.2.3. Cấu tạo giải phẫu lá
Quan sát trên mặt phẳng cắt ngang biểu bì trên có tầng cutin dày gồm một lớp
tế bào, độ dày (48  1,22)μm, chiếm 8,9% độ dày của lá; biểu bì dưới cũng gồm một
lớp tế bào có độ dày (47  1,21)μm, chiếm 8,7% độ dày của lá. Giữa hai lớp biểu bì
là các tế bào mô đồng hóa, kích thước của lớp mô đồng hóa là (446  2,45)μm,
chiếm 82,4% độ dày của lá .Ở lớp biểu bì dưới có các tế bào hình rẻ quạt phân bố
rải rác. Có nhiều khoang khí giữa các bó dẫn, kích thước khoang khí không lớn lắm.
Bó dẫn gồm gỗ và libe, có các tế bào vách dày bao quanh (hình 5).
* Nhận xét:
- Lớp cutin dày có chức năng chống nóng vào mùa khô có nhiệt độ cao.
- Tế bào thịt lá không có sự phân hóa thành mô giậu và mô khuyết. Kích thước
lớp mô đồng hóa lớn, gồm nhiều tế bào mô mềm chứa diệp lục, tăng cường chức
năng quang hợp.
- Ở biểu bì dưới có các tế bào hình rẻ quạt đó là các tế bào vận động có chức
năng cuộn hay mở phiến lá. Khi trời nắng nóng các tế bào này mất nước do đó
phiến lá cuộn lại làm giảm diện tích tiếp xúc của lá với ánh sáng mặt trời giúp hạn
chế sự mất nước của lá. Ngoài ra tế bào vận động còn có chức năng trữ nước khi
điều kiện môi trường sống thiếu nước.
- Xung quanh các bó mạch có vòng tế bào vách dày có chức năng nâng đỡ cho
lá.


19

Hình1
Hình thái cỏ ống

Hình 2

Sống trong môi trường ngập nước, nhiều gió bão nên cỏ ống có hệ rễ chùm
phát triển ăn sâu và lan rộng giúp giữ vững thân. Xung quanh các mấu có vòng rễ
thích nghi với việc hấp thu không khí trong môi trường thiếu oxy trong đất, ngoài ra
vòng rễ này còn có chức năng hấp thu dinh dưỡng.
Có thân ngầm giúp cây mọc lan nhanh và tăng khả năng sống sót của loài.
Thân chia lóng và kéo dài thích nghi với môi trường mùa nước lũ. Vào mùa mưa
cộng thêm nước lũ thì cỏ ống sống tốt hơn, cây cao to hơn, lá rộng hơn so với cỏ
ống sống cùng môi trường vào mùa khô.
2. Mồm mốc (Ischaemum rugosum Salisb.)
Thuộc họ Lúa: POACEAE
2.1. Đặc điểm hình thái, kiểu dạng thực vật
Là cỏ một năm, thân cao khoảng 1m, thân có chia lóng, ở vị trí giữa 2 lóng có
nhiều rễ mọc quanh, rễ dài, mỗi lóng có một bẹ lá bao bọc. Lá to, hai mặt lá khác
nhau về màu sắc, mặt lá dưới xanh hơn mặt lá trên. Có lớp phấn trắng bạc phủ ở bề


21

ngoài mặt các lóng và lá. Thân tròn hơi dẹp, tương đối cứng. Rễ dài, lan rộng, có
nhiều lông hút (hình 6). [4], [8], [16]
* Nhận xét:
- Thân chia lóng giúp cây dễ dàng tăng chiều cao khi nước nổi, thích nghi với
môi trường đất ngập nước.
- Mặt lá và lóng có phủ lớp phấn trắng bạc giúp phản xạ với ánh sáng khi nhiệt
độ cao, giúp chúng tồn tại trong mùa khô hạn và chống thấm nước vào mùa mưa lũ.
- Thân cứng giúp cây có thể đứng vững trong môi trường.
- Rễ có nhiều lông hút giúp tăng khả năng hút nước khi gặp điều kiện môi
trường khô cạn.
2.2. Cấu tạo giải phẫu
2.2.1. Cấu tạo giải phẫu rễ

- Lớp tế bào mô xốp có kích thước lớn tạo ra nhiều khoảng gian bào lớn có
chức năng dự trữ khí và trao đổi khí.
- Vòng tế bào mô cứng cùng với các bó dẫn nhỏ giúp thân vững chắc hơn.
- Phần trụ có các tế bào vách dày giúp tăng độ vững chắc cho cơ thể.
- Các bó mạch gồm tế bào mô mềm libe và mạch gỗ có chức năng dự trữ và
vận chuyển.
2.2.3. Cấu tạo giải phẫu lá
Biểu bì trên có lớp cutin dày, gồm một lớp tế bào, độ dày (76  1,69)μm, chiếm
13,3% độ dày của lá. Lớp biểu bì dưới có kích thước (49  1,72)μm mỏng hơn so
với lớp biểu bì trên, chiếm 8,6% độ dày của lá. Dưới lớp biểu bì trên là các tế bào
mô đồng hóa với độ dày (447  1,99)μm, chiếm 78,1% độ dày của lá. Mặt dưới của
lá có các tế bào hình rẻ quạt. Trong lớp tế bào mô đồng hóa là các bó mạch phân bố
tương đối đồng đều; ở gân chính ngoài các bó mạch còn có nhiều tế bào đa giác
vách dày hóa gỗ xếp sát nhau (hình 9).
* Nhận xét:
- Lớp cutin dày có chức năng chống nóng, bảo vệ lá vào mùa khô và thời tiết
nắng nóng.
- Chưa có sự phân hóa ở tế bào thịt lá, lớp tế bào mô đồng hóa dày tăng khả
năng quang hợp và dự trữ.
- Các tế bào hình rẻ quạt ở mặt dưới của lá sẽ giúp giảm bớt sự thoát hơi nước
khi gặp điều kiện khô hạn.
- Các bó mạch phân bố đều ở phần thịt lá có chức năng vận chuyển và nâng
đỡ.
- Ở gân chính có bó mạch lớn đảm bảo tốc độ vận chuyển. Các tế bào có vách
hóa gỗ làm cho gân lá cứng chắc hơn giúp lá ít bị gãy gập.


23

Hình 6

lá già ở gần gốc chết đi chỉ còn lại thân, thân mồm mốc cùng với một số loài cỏ
khác như thân cỏ ống, mồm mỡ…tạo nên nơi trú ẩn khá an toàn cho một số loài
chim nước.
3. Lúa ma (Oryza rufipogon Griff.)
Thuộc họ Lúa: POACEAE
3.1. Đặc điểm hình thái, kiểu dạng thực vật
Lúa ma là thực vật sống nhiều năm, thân dài 1,5 - 4m. Thân có màu tím, dẹp,
chia thành nhiều lóng, mỗi lóng dài vào khoảng 10cm, vị trí giữa 2 lóng có vòng rễ
bao quanh, thân có khả năng vươn dài theo mực nước dâng cao. Lá có một gân
chính và nhiều gân phụ song song, phiến lá dài khoảng 30cm, rộng khoảng 1cm,
mép lá có răng cưa, có lông bao phủ bề mặt lá, có bẹ lá ôm lấy thân. Ở mép bẹ lá có
rìa lông, đầu bẹ lá có lông dài. Hệ rễ phát triển, rễ chùm có màu vàng, ăn sâu và lan
rộng (hình 10). [9], [16]
* Nhận xét:
- Bề mặt lá có lông bao phủ nhằm hạn chế sự thoát hơi nước khi lúa ma sống
trong điều kiện môi trường nắng nóng vào mùa khô.


25

- Thân chia thành nhiều lóng, quanh các mấu có vòng rễ sẽ giúp cho thân bám
vào đất lúc thân bị ngã xuống do tác hại của động vật hay bị nước lũ cuốn. Ngoài ra
còn tăng khả năng hút chất dinh dưỡng và hấp thu không khí trong môi trường thiếu
oxy trong đất.
- Lá dài có bẹ lá ôm lấy thân giữ cho thân tránh bị đốt nóng vào mùa khô.
- Hệ rễ chùm phát triển giúp cây hấp thu đủ nước và các chất dinh dưỡng, hơn
nữa giúp cây bám chặt vào đất không bị lũ cuốn trôi.
3.2. Cấu tạo giải phẫu
3.2.1. Cấu tạo giải phẫu rễ
Ngoài cùng là lớp biểu bì có lớp cutin mỏng, có độ dày trung bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status