BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
****************
LÊ MINH TUẤN
NGHIÊN CỨU QUẦN THỂ NHỆN LỚN BẮT MỒI
(ARANEAE – ARACHNIDA) VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ LOẠI NÔNG DƯỢC TRỪ RẦY NÂU
ĐẾN MẬT SỐ CỦA CHÚNG TRÊN
RUỘNG LÚA TẠI TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 12/2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
*****************
LÊ MINH TUẤN
NGHIÊN CỨU QUẦN THỂ NHỆN LỚN BẮT MỒI
(ARANEAE – ARACHNIDA) VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ LOẠI NÔNG DƯỢC TRỪ RẦY NÂU
ĐẾN MẬT SỐ CỦA CHÚNG TRÊN
RUỘNG LÚA TẠI TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số
3. Phản biện 1:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN HUỲNH
Đại học Cần Thơ
4. Phản biện 2:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ CHẮT
Đại học Nông Lâm TP. HCM
5. Ủy viên:
TS. TRẦN THỊ THIÊN AN
Đại học Nông Lâm TP. HCM
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Lê Minh Tuấn sinh ngày 07 tháng 01 năm 1979 tại Phường Mỹ
Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Tốt nghiệp PTTH tại Trường Trung học phổ thông Long Xuyên, tỉnh An
Giang, năm 1997.
Tốt nghiệp Đại học ngành Nông học, hệ chính qui, tại Đại học Nông Lâm
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003.
Sau đó làm việc tại Trường Đại học An Giang
- Các Thầy Cô phòng Sau Đại Học đã giúp đỡ, sắp xếp và bố trí để chúng tôi
hoàn thành khóa học.
- Các Thầy Cô, quý đồng nghiệp tại khoa Nông nghiệp và Tài Nguyên Thiên
Nhiên, Trường Đại học An Giang. Cám ơn các Chú, Bác nông dân xã Mỹ
Thới và các em sinh viên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời
gian thực hiện đề tài.
Xin được ghi ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình, Cha Mẹ đã
luôn động viên, chia sẻ và luôn hỗ trợ tôi trong suốt thời gian tham dự khóa học và
hoàn thành nghiên cứu này.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2011
Lê Minh Tuấn
iv
TÓM TẮT
Đề tài: “Nghiên cứu quần thể nhện lớn bắt mồi (Araneae – Arachnida) và
ảnh hưởng của một số loại nông dược trừ rầy nâu đến mật số của chúng trên
ruộng lúa tại An Giang” được tiến hành tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
từ tháng 08/2009 đến 04/2010.
Trên ruộng lúa tại An Giang trong vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu 2009 – 2010,
đã thu thập và xác định được 29 loài của 9 họ của bộ nhện lớn bắt mồi. Trong đó
phổ biến là các loài Tetragnatha javana, Lycosa pseudoannulata, Oxyopes javanus,
Atypena formosana, Araneus inustus. Trong các mẫu thu được thường gặp đại diện
của 6 họ là Lycosidae, Tetragnathidae, Salticidae, Theridiidae, Araneidae và
Oxyopidae. Các loài nhện lớn bắt mồi trong họ Tetragnathidae là chiếm ưu thế
trong tổng số mẫu điều tra.
Trên các ruộng đã điều tra mật số của các loài nhện lớn bắt mồi ở đầu vụ rất
thấp, gia tăng dần trong thời kỳ lúa đẻ nhánh và đạt đỉnh cao vào giai đoạn lúa làm
vi
MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa
Trang Chuẩn Y
i
Lý lịch cá nhân
ii
Lời Cam đoan
iii
Cảm tạ
iv
Tóm tắt
v
Mục lục
vii
3
1.1.2.1. Cấu tạo hình thái chung của nhện Araneae
3
1.1.2.2. Vị trí các cơ quan bên trong cơ thể nhện lớn Araneae
6
1.1.2.3. Một số đặc điểm của một số họ nhện lớn bắt mồi phổ biến
8
1.2. Một số kết quả nghiên cứu về NLBM trên ruộng lúa ở trong và ngoài nước 12
1.2.1. Thành phần nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa
15
1.2.2. Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của một số loài nhện lớn bắt
mồi phổ biến
16
1.2.3. Một số kết quả nghiên cứu về sự đa dạng của NLBM trên ruộng lúa
17
1.2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến quần thể NLBM trên ruộng lúa
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
27
2.2. Nội dung nghiên cứu
27
2.3. Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm
27
2.4. Phương pháp nghiên cứu
27
2.4.1. Nghiên cứu quần thể nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa tại An Giang
27
2.4.1.1. Điều tra thành phần loài và mật số NLBM trên 3 điều kiện canh tác lúa
27
2.4.1.2. Diễn biến và tương quan giữa mật số rầy nâu và các loài NLBM trên 3 điều
3.3. Ảnh hưởng của một số loại thuốc nông dược trừ rầy nâu đến mật số một số loài
nhện lớn bắt mồi phổ biến trên ruộng lúa
50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
56
PHỤ LỤC
59
viii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1P5G: 1 phải 5 giảm
ANOVA: Analysis of variance
BMAT: Bắt mồi ăn thịt
BVTV: Bảo vệ thực vật
CV: Coefficient of variation
ĐC: đối chứng
IPM: Intergrated Pest Management
IRRI: international Rice Research Institute
ND: nông dân
7
Hình 1.7. Mạng nhện theo chiều thẳng đứng của họ Araneidae
7
Hình 2.1. Khay dầu
28
Hình 2.2. Ruộng bố trí thí nghiệm
32
Hình 3.1. Nhện lưới Araneus ellipticus (Araneidae – Araneae)
36
Hình 3.2. Một số loài nhện Chân Dài họ Tetragnathidae
37
Hình 3.3. Một số loài nhện lớn họ Linyphiidae
38
Hình 3.4. Lycosa pseudoannulata
39
49
x
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG
TRANG
Bảng 2.1. Các loại thuốc thí nghiệm và liều lượng sử dụng
33
Bảng 3.1. Thành phần và mật số nhện lớn bắt mồi trên 3 điều kiện canh tác lúa
35
Bảng 3.2. Chỉ số ưu thế loài nhện lớn bắt mồi trên 3 điều kiện canh tác lúa
43
Bảng 3.3. Mật số và tỷ lệ giữa các loài nhện lớn bắt mồi và rầy nâu trong 3 điều
kiện canh tác lúa ở các giai đoạn điều tra
46
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của một số loại thuốc nông dược trừ rầy nâu đến mật số loài
nhện Chân Dài Tetragnatha javana trên ruộng lúa.
Ở Việt Nam, đã phát hiện được 77 loài nhện lớn (Phạm Văn Lầm, 2002). Ở
An Giang và Cần Thơ đã phát hiện được 63 loài nhện lớn trên lúa (Nguyễn Văn
Huỳnh, 1998). Ngoài ra còn có một số ít dẫn liệu về thành phần nhện lớn trên lúa đã
được công bố chung với thiên địch của rầy nâu (Nguyễn Văn Huỳnh và ctv, 1980;
Lương Minh Châu, 1987; Phạm Văn Lầm, 1989). Tuy nhiên, các nghiên cứu về
nhện lớn bắt mồi và vai trò thiên địch của chúng trên các mô hình canh tác lúa khác
còn rất hạn chế.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung, An Giang nói riêng đang
thực hiện nhiều mô hình canh tác lúa, trong đó mô hình “1 phải 5 giảm” trong vụ
Hè Thu năm 2009 trên quan điểm coi trọng và phát triển biện pháp sinh học. Do đó,
vai trò thiên địch của nhện lớn cần được nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở duy trì sự
đa dạng sinh học để giữ vững cân bằng sinh thái.
Để góp phần cơ sở thực tiễn và khoa học cần thiết cho việc bảo vệ và quản lí các
loài nhện lớn trên ruộng lúa này có hiệu quả, đề tài “Nghiên cứu quần thể nhện lớn
bắt mồi (Araneae – Arachnida) và ảnh hưởng của một số loại nông dược trừ rầy
nâu đến mật số của chúng trên ruộng lúa tại tỉnh An Giang” đã được thực hiện
1
nhằm phục vụ thiết thực cho các mô hình sản xuất lúa, làm cơ sở khoa học và thực
tiễn cho việc đề xuất các mô hình quản lý dịch hại tổng hợp hiệu quả.
II. Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp các số liệu về thành phần và diễn biến mật số loài nhện lớn bắt mồi,
ảnh hưởng của một số loại nông dược trừ rầy nâu đến mật số của chúng nhằm góp
phần xây dựng biện pháp bảo tồn quần thể nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa tại địa
phương.
III. Yêu cầu
– Xác định được thành phần loài nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa tại An Giang.
– Xác định được diễn biến và tương quan số lượng các loài nhện lớn bắt mồi
thường xếp thành 2 hàng, hàng mắt trước (AE) và hàng mắt sau (PE). Ngoài ra, mỗi
hàng gồm có 4 mắt, 2 mắt trong và 2 mắt ngoài. Do đó, trong phân loại thì nhện có
8 mắt gồm 4 mắt trước và 4 mắt sau. Điều đặc trưng là 4 mắt giữa tạo thành một
hình tứ giác mắt (MOQ) đặc sắc của mỗi loài tùy thuộc vào khoảng cách giữa các
mắt này (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
3
Hình 1.1. Cách sắp xếp của vị trí mắt
(Nguồn: Nguyễn Văn Huỳnh, 2002)
Mặt dưới của phần đầu gọi là ức (sternum): phía trước mang các bộ phận của
miệng gồm môi dưới (labium), xúc biện môi (pedipalp) và hàm (chelecera), phía
sau mang 4 đôi chân (Hình 1.2).
Hình 1.2. Cấu tạo bên ngoài của nhện lớn bắt mồi
(Nguồn: Nguyễn Văn Huỳnh, 2002)
4
– Chân gồm 4 đôi được gọi theo thứ tự từ trước đến sau là I, II, III và IV.
Mỗi chân gồm có 7 đốt là coxa (nối liền với ngực), đốt chuyển (trochanter), đùi
(femur), đốt chuyển (patella), cẳng (tibia), bàn chân gồm 2 đốt bàn chân
(metatarsus) và đốt cổ chân (tarsus) (Hình 1.3). Tarsus có mang 2 hoặc 3 móng tùy
theo loài. Móng có thể trơn hay có răng lược để kéo tơ. Chân thường có phủ lông
hay mang các lông gai cứng đặc biệt. Chiều dài, hình dạng của chân, đốt đùi cùng
hình dáng, vị trí và số lượng của các lông hay gai là đặc điểm của loài, thường dùng
cho phân loại và định danh nhện.
Đốt chuyển
Cẳng
Bộ phận
giao hợp
Râu sinh dục
đ
Hình 1.4 và 1.5. Hàm và râu sinh dục đực của nhện lớn bắt mồi
(Nguồn: Nguyễn Văn Huỳnh, 2002)
* Bụng (Abdomen)
Bụng của nhện không chia đốt như của côn trùng. Cuối bụng mang hậu môn
và 4 ống nhả tơ: 2 trước và 2 sau. Mặt dưới mang bộ phận sinh dục cái (epigynum)
và bộ phận hô hấp. Mặt lưng đôi khi có các u nhọn hoặc các đốm sigillum đặc sắc
của mỗi loài.
1.1.2.2 Vị trí các cơ quan bên trong cơ thể nhện lớn Araneae
Cũng giống như côn trùng, bên trong cơ thể nhện gồm có hệ thống tiêu hóa
và bài tiết, tuần hoàn, hô hấp, bộ máy sinh dục và các giác quan có liên quan với hệ
thần kinh và các tuyến nội tiết (Hình 1.6). Đặc biệt nhện có tuyến tiết tơ nằm ở mặt
dưới gần cuối bụng. Tơ là một loại protein tiết ra 4 ống nhả tơ ở cuối bụng. Như vậy
tơ nhện gồm có 4 sợi xếp song song nhau. Công dụng của tơ nhện là tạo mạng lưới
để bắt mồi (Hình 1.7), tạo thành kén để bảo vệ ở trứng sau khi đẻ hoặc dùng để di
chuyển từ nơi này đến nơi khác. Mặc dù có một số loài nhện không giăng lưới
nhưng khi di chuyển bao giờ chúng cũng tiết ra một sợi tơ làm dây bảo hộ trong lúc
săn mồi hay thoát hiểm phải nhảy từ nơi này sang nơi khác. Nhện cũng dùng tơ để
di chuyển bằng cách nhả tơ để nhờ gió nối kết với những nơi lân cận dưới gió, rồi
theo đó mà bò sang.
6
đứng, có dạng tròn bao gồm nhiều đường bán kính và vòng đồng tâm. Con nhện
thường hiện diện ở giữa lưới, đầu quay xuống dưới và thường là con cái, còn con
đực sống chung đâu đó trong cùng lưới. Tuy nhiên, có loài lại trú ẩn ở một hốc đâu
đó để chờ khi con mồi vướng lưới mới ra lưới để bắt (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
Lưới nhện thường hay cố định, chúng chỉ sửa lại mỗi ngày hoặc giăng lưới
mới khi bị hư hết hoặc vừa di chuyển đến nơi khác. Trước tiên, nhện chọn một nơi
để nhả tơ và nhờ gió để nối kết với một cành cây khác ở dưới gió. Sau khi đã lựa
chọn, nhện sẽ nhả tơ nhiều lớp để làm chắc sợi giăng căng chính và cố định này.
Tiếp theo là nhện tạo các sợi tơ ngang và sợi bán kính rồi bắt đầu giăng lưới vòng
tròn, từ trung tâm ra ngoài. Lưới của nhện thuộc chi Nephila rất lớn và tơ rất chắc
nên ngày xưa có người kéo tơ nhện để dệt vải (Comstock, 1969).
Họ này gồm có những loài có kích thước lớn nhất, như Nephila, Cyrtophora,
Paraxivia….cho đến rất nhỏ như Cyclosa, hoặc có hình dạng rất đặc sắc như
8
Gasterocantha. Chúng rất phổ biến, dễ nhìn thấy và gây ấn tượng đặc trưng về loài
nhện nói chung.
Con cái Argiope catenulate có các vạch vàng và xám ở bụng, con đực nhỏ
hơn và có màu nâu đỏ. Trứng của Argiope ở trong một kén màu nâu nhạt và treo ở
dưới. Ban ngày trời nóng, con đực và con cái tìm chỗ trú dưới lá bên cạnh lưới, khi
trời có mây phủ con cái chờ mồi ở giữa lưới và con đực chờ gần ở đấy. Con mồi
càng tìm cách thoát, càng mắc chặt vào lưới (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
Araneus inustus có một vạch hình trứng màu đen quanh bụng. con cái đẻ
trứng trong lá đã bị cuốn và phủ chúng bằng một lớp sợi trắng. Araneus săn mồi
những côn trùng nhỏ: rầy lá, rầy thân và ruồi (Shepard và ctv, 1989).
– Họ Salticidae (Nhện Linh miêu)
Đây là họ nhện lớn bắt mồi có số lượng loài lớn nhất với trên 4000 loài đã
được mô tả trên thế giới (Barion và Litsinger, 1995; Jackson và Pollard, 1996). Đặc
chúng là các loại côn trùng nhỏ sống trong nước hoặc ở gốc lúa, cỏ… Ban ngày gió
mạnh thường làm hư lưới nên nhện đeo trốn trên thân hay lá cỏ lân cận, chiều tối
mới bắt đầu giăng lưới mới. Nhện này có thể coi là vật chỉ thị (bio – indicator) của
môi trường lành mạnh không bị ô nhiễm thuốc trừ sâu vì khi đó ta sẽ thấy trong
ruộng lúa có nhiều tơ nhện óng ánh sương đêm vào lúc sáng sớm (Nguyễn Văn
Huỳnh, 2002).
Nhện Tetragnatha sống 1 – 3 tháng và đẻ 100 – 200 trứng. Trứng được đẻ
thành đám ở nửa phía trên cây lúa và được phủ một màng mỏng giống như bông.
Nhện Tetragnatha thích ở vùng ẩm, chúng ẩn náu ở thân cây lúa lúc giữa trưa
và rình mồi ở lưới vào buổi sáng. Chúng giăng loại lưới hình tròn, nhưng rất yếu.
Khi bọ rầy, ruồi hoặc bướm đụng vào lưới, lập tức nhện cuốn ngay con mồi. mỗi
ngày một con nhện Tetragnatha bắt 2 – 3 con mồi (Shepard và ctv, 1989).
– Họ Lycosidae (Nhện Sói)
Họ này gồm các loài nhện sống ở nơi ẩm ướt nên thường thấy chúng tự do
trong ruộng lúa, trên mặt đất hay trên thảm cỏ. Một số loài làm màng tơ phủ ngang
10
mặt đất nhưng đa số đều săn mồi tự do, chỉ nhả tơ lúc làm ổ khi đẻ trứng (Barrion &
Litsinger, 1995). Đây là loài thiên địch bắt mồi rất quan trọng đối với rầy nâu hại
lúa (Shepard và ctv, 1987).
Nhện sói Lycosa pseudoanunlata có vạch hình nĩa trên lưng và bụng có
những điểm trắng. Loài nhện này rất nhanh và đến định cư nhanh chóng tại ruộng
lúa nước hoặc lúa cạn vừa mới chuẩn bị xong. Chúng hiện diện sớm trên ruộng lúa
và bắt mồi sâu hại trước khi chúng ở mức gây tác hại cho cây trồng. Con cái sống 3
– 4 tháng và đẻ 300 – 400 trứng. Con cái có thể nở ra 60 – 80 con đực và chúng
nhảy lên lưng con cái. Lycosa pseudoanunlata là loại nhện phổ biến nhất trên cây
trồng và khi bị động chúng bò rất nhanh trên mặt nước. Chúng không kéo màng mà
tấn công con mồi trực tiếp. Nhện trưởng thành ăn rất nhiều loài côn trùng có hại, kể
– Họ Clubionidae (Nhện Xếp Lá)
Đây là họ nhện rất đặc sắc, thường thấy nhất là trên ruộng lúa khi chúng uốn
cong phiến lá lại để làm ổ đẻ trứng hay tạm trú lúc ban ngày vì chúng săn mồi tự do
vào ban đêm. Nhện xếp lá có kích thước trung bình, mắt đều và xếp thành 2 hàng
với mỗi hàng gồm 4 mắt, bụng hình bầu dục (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
– Họ Heteropodidae (Nhện Hùm)
Đây là một họ nhỏ vì có ít loài, nhưng lại là loài có kích thước lớn và con mồi
của chúng thường là các loại gián. Điểm đặc biệt là con cái mang theo ổ trứng tròn
và dẹp ở dưới bụng. Nhện thường có màu nâu pha hồng hoặc đỏ cam, chân dài dang
rộng ngang và di chuyển theo hai chiều tới và ngang (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về NLBM trên ruộng lúa ở trong và ngoài nước
* Một số kết quả nghiên cứu về nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa ở ngoài nước
Trên thế giới có khoảng 30.000 loài nhện (Okuma và ctv, 1993; Barion và
Litsinger, 1995). Trong đó, nhện lớn bắt mồi được coi là thiên địch hữu hiệu của
sâu hại trong ruộng lúa và có thành phần khá phong phú. Đã phát hiện được thành
phần NLBM trên đồng lúa ở các vùng Đông Nam Á (342 loài), Trung Quốc (293
loài), Nhật Bản (90 loài) và Đài Loan (75 loài) (Barrion và Litsinger, 1984, 1995;
Lee và ctv, 2001; Tổng trạm BVTV Trung Quốc, 1991).
12