Nghiên cứu kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách và ảnh hưởng của chúng tới bầu không khí tâm lí tập thể sinh viên sư phạm - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƢỜNG
Mã số: CS.98-05

NGHIÊN CỨU KIỂU NHÂN CÁCH, KIỂU QUAN HỆ LIÊN
NHÂN CÁCH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG
TỚI BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ TẬP THỂ SINH VIÊN SƢ PHẠM

Người thực hiện: Võ Thị Ngọc Châu

TP. HỒ CHÍ MINH
12/2002


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƢỜNG
Mã số: CS.98-05

NGHIÊN CỨU KIỂU NHÂN CÁCH, KIỂU QUAN HỆ LIÊN
NHÂN CÁCH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG
TỚI BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ TẬP THỂ SINH VIÊN SƢ PHẠM

Người thực hiện: Võ Thị Ngọc Châu

TP. HỒ CHÍ MINH
12/2002


2.2.2- Sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách giữa các nhóm sinh viên .............. 60
2.2.2.1- Sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách giữa sinh viên nam và nữ ...... 60
2.2.2.2- Sự khác biệt kiểu quan hệ nhân cách giữa sinh viên năm II và năm III ...... 62
2.3- Bầu không khí tâm lí trong nhóm sinh viên sƣ phạm ............................................... 65
2.3.1. Đặc điểm bầu không tâm lí sinh viên sƣ phạm ................................................... 65
2.3.2. Sự khác biệt về bầu không khí tâm lí .................................................................. 69
2.3.2.1- Sự khác biệt về bầu không khí tâm lí theo giới tính ..................................... 69
2.3.2.2- Sự khác biệt bầu không khí tâm lý giữa sinh viên năm II và năm III .......... 70
2.3.2.3- Sự khác biệt và bầu không khí tâm lý giữa các khối sinh viên .................... 71
2.4- Ảnh hƣởng kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách tới bầu không khí tâm lí
nhóm sinh viên.................................................................................................................. 72
2.4.1- Ảnh hƣởng kiểu nhân cách tới bầu không khi tâm lí nhóm sinh viên ................ 72
2.4.2- Ảnh hƣởng kiểu quan hệ liên nhân cách tới bầu không khí tâm lý .................... 80
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 83
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 88
Phụ đính: 3 bảng thăm dò ý kiến


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vấn đề nhóm đƣợc các nhà tâm lí nghiên cứu rất nhiều, các quá trình và các hiện tƣợng tâm
lí của nhóm ảnh hƣởng rất nhiều tới hiệu xuất các quá trình hoạt động (sản xuất, nghiên cứu, học
tập....). Bầu không khí tâm lí là một trong những hiện tƣợng tâm lí có vai trò rất quan trọng ảnh
hƣởng rất nhiều tới kết quả các hoạt động trong nhóm. Nó hình thành trạng thái tâm lí tích cực, sự
đoàn kết nhất trí trong nhóm. Nhờ vậy các thành viên của nhóm sẽ hết lòng vì mục đích chung của
nhóm, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh làm cho nhóm phát triển, đồng thời từng cá nhân trong nhóm
cũng trƣởng thành về nhiều mặt. Nhóm là tế bào của xã hội, nhóm phát triển lành mạnh sẽ dẫn tới
một xã hội phát triển ở mức độ cao.
Trong bất cứ nhóm nào các thành viên trong nhóm bao giờ cũng tƣơng tác với nhau thông

3 - NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ mục đích đã nêu, nhiệm vụ cụ thể của đề tài là:

3.1- Tìm hiểu một số văn đề lí luận về: quan hệ liên nhân cách, kiểu quan hệ liên
nhân cách, nhân cách, kiểu nhân cách và bầu không khí tâm lí.

3.2 - Khảo sát thực trạng về: kiểu quan hệ liên nhân cách, kiểu nhân cách, bầu
không khí tâm lí và mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau:
+ Tìm hiểu kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách và bầu không khí tâm lí của
sinh viên sƣ phạm.
+ Tìm hiểu sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách của các nhóm sinh viên.
+ Tìm hiểu sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách giữa các nhóm sinh viên.
+ Tìm hiểu khác biệt bầu không khí tâm lí của các nhóm sinh viên.
+ Phân tích mối quan hệ giữa kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách với bầu
không khí tâm lí của các nhóm sinh viên.
+ Đề xuất xuất một số biện pháp xây dựng kiểu nhân cách và kiểu quan hệ liên nhân
cách thích hợp

4- ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 - Đối tượng nghiên cứu
- Kiểu quan hệ liên nhân cách của sinh viên.

2


- Kiểu nhân cách của sinh viên.
- Bầu không khí tâm lí của các nhóm sinh viên.

4.2- Khách thể nghiên cứu:
- Sinh viên năm II và III Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh. Bao gồm sinh



7.2- Dụng cụ nghiên cứu
- Trắc nghiệm 16 PF của R. B. Cattell đã đƣợc cải biên.
- Trắc Nghiệm kiểu quan hệ liên nhân cách của T. Liri.
- Test về bầu không khí tâm lí của O.Amikhalƣc.

7.3 - Cách xử lý số liệu
Cách tính điểm: Mỗi một trắc nghiệm có chìa khóa đặc biệt để chấm điểm.

4


PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1- Kiểu nhân cách
1.1.1-Những vấn đề lí luận về kiểu nhân cách xã hội
Ý tƣởng về kiểu nhân cách đã có từ lâu, học thuyết phân chia về kiểu khí chất đƣợc đề xuất
rõ nhất. Sau đó ý tƣởng này đƣợc bao trùm bằng học thuyết tính cách, về sau học thuyết nhân cách
đƣợc đƣa lên hàng đầu. Tuy nhiên, thực chất học thuyết những học thuyết tâm lý về nhân cách hoặc
bị mô tả một cách lu mờ (Lazunxki), hoặc là thiếu sự bình đẳng (Jungơ), hoặc bị rơi vào ý tƣởng
hoàn toàn trìu tƣợng đƣợc dựng nên bằng cấu trúc trên cơ sở phƣơng pháp luận phức tạp. Những mối
tƣơng quan và những kiểu mẫu của Frớt có thể làm ví dụ kinh điển. Frớt loanh quanh trong ngõ cụt
về vấn đề kiểu nhân cách, bởi vì ông coi nền tảng sinh vật là duy nhất và là nguồn gốc để tạo nên
kiểu nhân cách ở giai đoạn cuối cùng. Những nguyên tắc mẫu chứa đựng trong quan niệm về nhân
cách của Aizenko và số ngƣời khác không có đƣợc chút ít lý lẽ của nó. Thực chất của vấn đề là họ đã
rơi vào sự phân chia vội vàng hơn là đƣa ra kiểu nhân cách. Cách phân chia của họ đƣợc thể hiện
trong tính chất cách thức lựa chọn, có đặc tính chuyên môn, và cách thức chuẩn đoán nhân cách. Tuy
nhiên, quan niệm kiểu nhân cách thể hiện nhiều hơn - ít hơn ở các quan hệ tƣơng quan ổn định, giữa
phẩm chất bên trong mỗi kiểu, nhu cầu trong bản thân đến kiểu này hay kiểu kia, với mục đích tự

Phần lớn cách chia kiểu nhân cách đã có, thể hiện sự phân chia yếu kém, chúng đƣợc
tạo nên trên những nền tảng khác nhau (ngẫu nhiên, từng phần...) ở mức độ các nguyên nhân
phân chia không đƣợc giải thích rõ ràng, chúng nảy sinh động lực phát triển và điều kiện thay
đổi kiểu này hay kiểu kia nhân cách. Khả năng cuối cùng chỉ có thể thông qua phát minh của
phép biện chứng về xã hội - sinh vật, đặc thù - chung, biện chứng về cái chung, cái đặc biệt,
cái duy nhất. Nhiệm vụ của các nhà tâm lý là ở chỗ vận dụng phƣơng pháp này vào vấn đề
phức tạp phân kiểu nhân cách trong tâm lý học.

6


Việc nghiên cứu vấn đề này ở cấp nhà nƣớc có một số khuynh hƣớng khác nhau,
chƣa thống nhất. Khuynh hƣớng đầu tiên cơ bản ở chỗ phân kiểu nhân cách ở mức lý thuyết
trong tâm lý học chƣa đƣợc thống nhất. Nguyên tắc vai trò hay địa vị đem lại khả năng kiểu
mẫu đặc thù này hay kia của nhân cách. Nguyên tắc này xem xét không phải dạng nhân cách
đại chúng, nhƣ là ngƣời đại diện cho nhóm này hay nhóm kia, mà những đặc điểm của nhân
cách có liên quan đến vị thế, chức năng trong nhóm. Kiểu mẫu nhƣ vậy của nhân cách ngƣời
lãnh đạo cũng đƣợc A.L.Zuravlevƣi và một số khác đƣa vào, rất có triển vọng cho sự phân
kiểu, mà những triển vọng này không chỉ lựa chọn các tính chất theo chức năng trong nhóm,
mà còn nói lên mối liên quan tính chất và vị thế này tới động lực, mức độ và kiểu quan hệ
trong tập thể (K.Iaro và những ngƣời khác). Sự phổ biến rộng rãi kiểu chia nhân cách theo
nghề nghiệp: đƣợc xây dựng từ chân dung nhân cách của các kỹ sƣ, công nhân, các nhà bác
học (nghiên cứu của E.C.Kuzmina; E.C.Trugunovôi; B.A.Iađôba và một số ngƣời khác).
Những đặc điểm phong cách của hoạt động tham gia trực tiếp đến những chân dung này
(E.H.Klimov và những ngƣời khác).
Mặc dù thuyết kiểu chung không đƣợc thảo ra, nhƣng một loạt tác giả đã đƣa ra kiểu
phân nhân cách theo những cơ sở đặc biệt (B.I.Đôđôn, N.I.Reinval và những ngƣời khác).
Chắc chắn những nghiên cứu xu hƣớng nhân cách, theo nội dung cơ bản mang kiểu tính cách
(L.I.Bozovit, A.V.Petrovxli và những ngƣời khác). Những ý kiến lý giải phƣơng pháp luận
chính yếu bất thƣờng về vấn đề xây dựng kiểu nhân cách của B.M.Cheplov và những đại diện

Việc đƣa ra những hiển diện của nhiều quan điểm trên về vấn đề cá tính, hoàn toàn
không đem đến sự mâu thuẫn giữa chúng. Tính tích cực, sự phát triển, sự liên kết - là những
biểu thị cơ bản của tâm lý học nhân cách, mà chúng yêu cầu phép tổng hợp của mình. Phép
tổng hợp này có thể đƣợc thực hiện trƣớc tiên trên nền tảng của sự chuyển hóa vấn đề của
những khác biệt thuộc cá tính vào những vấn đề khác biệt thuộc kiểu dạng - cá tính, nghĩa là
trên nền tảng hợp nhất của những xu hƣớng cá tính hóa và kiểu hóa. Nếu trên mức độ phân
tích tâm lý, vấn đề của các quá trình tâm lý về sự khác biệt cá tính tạo nên vấn đề tâm lý phân
biệt, thì trên mức độ phân tích nhân cách, vấn đề này đƣợc đƣa ra nhƣ là vấn đề tâm lý chung
của cá tính. Có lẽ giữa chúng bản thân vấn đề cá tính nói lên nhƣ kiểu hóa, hay là vấn đề của
sự phân biệt thuộc kiểu - cá tính, hay là vấn đề nhân cách, nếu trên nền tảng qui định kiểu
nhân cách đƣa vào tổng hợp cả ba biểu hiện của nhân cách: tính tích cực, tính phát triển và
tính liên kết.
Vào thời gian hiện nay trong thực tế đã chia ra một số kiểu nhân cách, những thông số
tâm lý của kiểu này phục vụ nhƣ là mẫu trừu tƣợng - tiêu chuẩn hay nhƣ là mẫu hoàn hảo,
theo mối quan hệ với cơ chế tâm lý thực tế của các nhân cách thực. Đặc điểm của nhân cách
thực gặp phải không nhiều hơn sự sai lệch, biến đổi của cá tính. Nếu xem

8


xét vấn đề nhƣ vậy với vị trí lý thuyết cá tính, thì gặp phải sự điều chỉnh lý về mặt thuyết này
(không phụ thuộc với những giải thích khác của nó) các quan niệm về bản chất của nhân
cách, và không can thiệp vào mẫu tiêu chuẩn duy nhất: các cá tính đƣợc phân biệt theo mức
độ của sự phát triển, theo số đo của tính tích cực và vv... Có thể giả thiết rằng sự tổng hợp
của ba thể thức này cho sự phát triển toàn bộ bản chất, mà thực tế tạo thành vài mẫu, vài kiểu
nhân cách. Kiểu duy nhất, mẫu tâm lý chung duy nhất chịu thấp kém nơi hàng loạt kiểu thực
tế, cơ sở thành lập của chúng sẽ tổng hợp đa dạng tính tích cực, tính phát triển và tính liên
kết của nhân cách. Lúc bấy giờ sự phát triển cá tính xếp đặt lại chỉ bằng sự biến đổi của mẫu
duy nhất của nhân cách. còn cá tính sẽ không rõ ràng và bằng cách thông qua mối quan hệ
với mức độ cao hơn - tiêu chuẩn của tính phát triển, tính tích cực, liên kết. Cá tính đƣợc thiết

xã hội của nhân cách đến sự phân kiểu xã hội - tâm lý. Yêu cầu duy nhất của các bƣớc
chuyển tiếp từ phân kiểu này đến phân kiểu khác đƣợc cung cấp đủ bằng sự áp dụng những
tính chất đi theo của các điều kiện, mà chúng trở thành đứng đầu cho mỗi phân kiểu tiếp
theo. Ví dụ, sự chuyển từ dạng xã hội đến dạng xã hội - tâm lý cần có bƣớc tiếp theo bằng sự
phân tích những điều kiện này (cả mặt xã hội, cả mặt xã hội - tâm lý), những điều kiện này
thuộc vào sức động của các dạng xã hội - tâm lý hay khí chất. Khi đó các nét xã hội sử dụng
dấu hiệu không nhận biết cho sự tìm tòi những nét tƣơng tự giống nhau của kiểu xã hội-tâm
lý, có những nét chung, đƣợc biểu thị trong chức năng hoàn thiện khác. Những nét qui định
mốc chuẩn cho sự tìm tòi những điều kiện then chốt, mà chúng gây ra sự đa dạng của kiểu xã
hội - tâm lý qua sự hiện diện của kiểu duy nhất xã hội. Sức mạnh động của tính tích cực
nhân cách khác nhau đối với tính chất xã hội - tâm lý không giống nhau, còn những tính
cách không giống nhau tiến hành trong hoạt động bằng những xu hƣớng xã hội - tâm lý và
xu hƣớng xã hội khác nhau.
Vấn đề quan trọng trong sự tạo nên phân kiểu tâm lý đại cƣơng thể hiện ở chỗ, biểu
thị xu hƣớng xã hội-tâm lý nào sẽ liên quan toàn bộ này hay khác các nét nhân cách và các
bản chất. Trong sự phân loại nhân cách đang có đƣợc, đó là mối quan hệ với điều kiện xã hội
(xã hội-tâm lý) này hay kia. Trong tâm lý học tƣ bản, không có tính tích cực bên trong của
nhàn cách và vị thế xã hội của nó, tính năng động đƣợc nhận thấy chỉ trong sự thay đổi vai
trò vị trí, trong sự thực thi của chúng, không động đến tính tích cực bên trong nhân cách.
Thực chất con đƣờng đi của Mác-xít bao gồm không chỉ việc vạch ra định loại xã hội, cấu
trúc xã hội trên phƣơng diện động lực của chúng, mà còn mang tính tƣơng quan các qui luật
xã hội với tính tích cực của con ngƣời, với các hình thức cần

10


thiết của sự tham gia của chúng vào trong quá trình xã hội vv... Không phải sự trùng nhau
các nhân tố của các đặc tính này hay kia của nhân cách với những hoàn cảnh, sự kiện, các
quá trình xã hội này hay khác, còn các phƣơng thức thuộc nguyên tắc liên quan với xu
hƣớng bên trong và bên ngoài (sự trùng nhau của chúng, những mâu thuẫn...) qui định

nhân cách đến vấn đề về cách tổ chức nhân cách của các mối quan hệ với thế giới, chú ý tới
quá trình tiến triển của các thuộc tính cuối cùng. Tuy nhiên, việc thử thực hiện tiếp cận
mang tính hệ thống đến việc nghiên cứu nhân cách đã mâu thuẫn với phƣơng thức tĩnh tại
của các kết cấu phân tích từng đoạn trong cuộc sống của dạng xã hội tâm lý trong tâm lý học
xã hội.
Trƣờng phái của B.G.Ananhev đụng tới điều nan giải khác, trên cơ sở phân tích cách
sống của nhân cách đã xem sự hiểu biết về nó nhƣ lịch sử cá thể. Tuy nhiên, việc phân tích
thời kỳ giai đoạn sống, kiểu loại của kết cấu cuộc sống và của hình thức tính tích cực (sự
giao tiếp, sự nhận thức, sự hoạt động) khi bắt tay tiến hành nghiên cứu trong thực tế, đã đƣa
ra một cách thực tế khái niệm về lịch sử tiêu biểu, cách sống tiêu biểu, sự phân chia thời kỳ
cuộc sống của mọi nhân cách bất kỳ. Vì sao không thành công thực thi khái niệm cá thể hóa
vào học thuyết con đƣờng quá trình sống? Trƣớc tiên, vì nhân cách chƣa đƣợc nghiên cứu
xem xét nhƣ là một chủ thể của hoạt động sống, tức là sự phân chia thời kỳ sống (theo tất cả
các chi tiết và sự chuẩn xác của nó) sự phân chia không liên quan với tính tích cực của chính
nhân cách, mà tính tích cực tạo nên sự tổng hợp sống của mình, tạo hình con đƣờng cho
cuộc sống của mình. Và cùng với những điều này, quan niệm của Ananhev đã trở thành tiền
đề tiên quyết cho việc giải quyết tiếp theo vấn đề về kiểu nhân cách và cá nhân.
Nhiệm vụ của ngày hôm nay ở chỗ không đơn giản thiết lập qui định sự phù hợp các
giai đoạn, các sự kiện biến cố, các hoàn cảnh tình huống này hay kia của cuộc sống, cùng với
những đặc điểm, những nét này hay khác của nhân cách, mà còn là ở chỗ là để khám phá các
mối quan hệ mang tính chất nguyên nhân của chúng. Sự phụ thuộc của nhân cách vào tính
chất khách thể của hoạt động sống cũng nhƣ quá tình xã hội là điểm xuất phát. Nhƣng đồng
thời nhân cách bao gồm sự tổng hòa các nguyên nhân và kết quả của cuộc sống của chính
mình nó không chỉ nhƣ phụ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài, mà còn nhƣ sự biến đổi tích cực
của chúng, hơn thế, nhƣ sự tạo thành trong phạm vi xác định vị trí và con đƣờng sống của
mình.
Bằng quan điểm nhƣ vậy, tính tích cực của nhân cách đƣợc xác định không trìu tƣợng,
còn chính qua sự tổng hợp hoàn cảnh đã biến đổi nó, hƣớng tới tiến trình của cuộc sống - tạo
thành vị thế cuộc đời. Tính năng động của cuộc sống chấm dứt việc xác


b. Người kinh tế
Động cơ quyết định chính những lĩnh vực khác nhau nhất của cá nhân và tính chất lối
sống của kiểu ngƣời này là lợi ích. Trong các mối liên hệ sống, họ luôn đặt lợi

13


ích lên hàng đầu. Họ tiết kiệm từ vật chất, sức lực đến thời gian với mục tiêu là chiếm đƣợc
lới ích tối đa. Những ngƣời kinh tế thƣờng là những ngƣời sống thực dụng. Với họ, mọi hành
động đều phải đem lại hiệu quả thiết thực, và tất cả đều là phƣơng thức hỗ trợ cuộc sống, đấu
tranh vì sự tồn tại và tiện nghi sống tốt nhất. Kiểu nhân cách này đối lập với kiểu nhân cách
của những ngƣời lý thuyết.
c. Người thẩm m ỹ
Nhân cách này không chỉ có ở ngƣời sáng tạo nghệ thuật, mà ở cả những ngƣời hay
tƣởng tƣợng. Họ thông qua tƣởng tƣợng mà tri giác hiện thực. Họ có một năng khiếu đặc
biệt, đó là linh cảm. Họ thƣờng sống mơ mộng, đứng trƣớc những khó khăn về kinh tế
thƣờng tỏ ra bất lực. Với họ cái quan trọng nhất là sự trong sáng và vẻ đẹp cao quí của tâm
hồn. Cuộc sống nội tâm của họ hƣớng tới cái đẹp thiên nhiên, sự toàn mỹ của các tác phẩm
nghệ thuật cụ thể.
d. Người vị tha
Đặc điểm của kiểu nhân cách này là chú ý quan tâm đến cuộc sống của ngƣời khác,
cảm nhận thấy mình ở trong ngƣời khác. Cống hiến vì ngƣời khác là nhu cầu chủ yếu và lẽ
sống của kiểu ngƣời này. Biểu hiện cao nhất trong xu hƣớng xã hội của họ là tình yêu. Tình
yêu không chỉ đơn thuần ở chỗ yêu cuộc sống, yêu ngƣời khác mà còn có bản chất sâu xa
hơn: tình yêu là một tình cảm còn lại ở trong mình, chú ý đến cuộc đời khác vì những giá trị
của chính cuộc sống đó. Chính tình yêu đã khám phá ở ngƣời khác những giá trị nhất định,
mà nhờ đó họ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống của mình khi đƣợc cống hiến cho ngƣời khác, cho
xã hội.
e. Người chính trị
Một ngƣời có quyền lực với ngƣời khác khi ngƣời đó có kiến thức và trí tuệ cao, hoặc

cách:
- Kiểu ngƣời nhƣờng nhịn (bị áp đảo).
- Kiểu công kích (mạnh mẽ).
- Kiểu hờ hững (lạnh lùng).
Ông cho rằng cơ sở phân loại là nhu cầu tâm lý trội hơn trong quan hệ với ngƣời
khác.
a. Người nhường nhịn
Nhu cầu tâm lý chủ yếu của loại ngƣời này tập chung ở những ngƣời thân cận nhất,
gần gũi nhất, là sao để cho mọi ngƣời hiểu và thƣơng mến họ. Khi quan hệ với ngƣời khác
họ luôn muốn tìm hiểu thái độ của ngƣời đó đối với mình, có thể diễn đạt

15


dƣới dạng các câu hỏi nhƣ: bạn sẽ thƣơng tôi hay không? Bạn có muốn để tôi quan tâm đến
bạn không?
b. Người công kích
Những ngƣời này có xu hƣớng đối nghịch với ngƣời khác, luôn có nhu cầu kiểm tra
ngƣời khác. Trong thế giới riêng của họ chỉ tồn tại những ngƣời mạnh mẽ. Họ khó chịu đựng
đƣợc những thất bại và luôn khôn ngoan, khéo léo hơn ngƣời khác. Trong mọi quan hệ kiểu
ngƣời này luôn quan tâm đến việc làm nhƣ thế nào để có lợi.
c. Người hờ hững
Ngƣời hờ hững luôn muốn xa lánh mọi ngƣời, và thƣờng tự thiết lập khoảng cách
nhất định giữa mình với ngƣời khác trong mọi lĩnh vực. Họ có nhu cầu muốn đƣợc yên tĩnh
trong một góc nhỏ của mình hoặc liên kết với ai mà họ thấy cần thiết. Kiểu ngƣời này không
thích khuất phục và phụ thuộc ngƣời khác.
Dựa vào cách phân loại này các nhà tâm lý học Liên Xô đã tìm thêm một số đặc điểm
của các kiểu nhân cách trong lĩnh vực hoạt động khác. Một nghiên cứu của Vinhiukh về vấn
đề thủ lĩnh trong hành vi ảnh hƣởng đến xu hƣớng hoạt động nhƣ thế nào thì thấy rằng kiểu
ngƣời công kích không muốn hợp tác với những ngƣời ngang hàng mà chỉ thích làm việc với

c- Người nhạy cảm
Những ngƣời thuộc kiểu này thƣờng có linh cảm cao trong giao tiếp, dù là hình thức
hay không hình thức. Họ là những ngƣời khiêm tốn và có trí tƣởng tƣợng phong phú và
thƣờng hay có ý đồ cạnh tranh trong lĩnh vực này.
d- Người ba hoa
Họ là những ngƣời thích phóng đại, thổi phồng, tô vẽ thêm mọi chuyện. Trong giao
tiếp họ có xu hƣớng hình tƣợng hóa. Kiểu ngƣời này thƣờng sống bằng hiện tại, không quan
tâm tới quá khứ và tƣơng lai, luôn tìm thấy thú vui để giải trí, thích tìm tới những quan hệ
mới, những cuộc tiếp xúc mới. Họ không thích những hoạt động tập thể. Họ rất khó chịu khi
phải chịu đựng những điều gì đó buồn khổ.
1.1.2.3- Phân loại nhân cách theo thời gian
Nhà tâm lý học, bác sĩ tâm lí ngƣời Thụy sĩ K.T.Lung (1857-1961) cho rằng con
ngƣời tri giác sự vật qua bốn hệ thống thời gian: cảm xúc, cảm giác, tƣ duy và tình cảm. Trên
cơ sở này ngƣời ta phân ra bốn kiểu nhân cách: Kiểu ngƣời xúc cảm, kiểu ngƣời cảm giác,
kiểu ngƣời tƣ duy và kiểu ngƣời linh cảm. Lung cho rằng khi tri giác thời gian theo những
cách khác nhau thì con ngƣời tri giác sự việc trong xã hội cũng khác nhau.
a- Người xúc cảm

17


Với những ngƣời này cái chính là quá khứ của bản thân, mọi hiện tƣợng và sự vật đều
xác định theo tiêu chí của quá khứ bằng sự hồi tƣởng cái đã qua. Với đặc điểm của kiểu nhân
cách này, nếu ở tuổi thanh niên thì có xu hƣớng mạo hiểm, còn ở trung niên thì thƣờng bảo
thủ. Những ngƣời xúc cảm rất khó thiết lập quan hệ mới với ngƣời khác. Họ đánh giá các vấn
đề theo quan điểm cá nhân, nên mang nặng dấu ấn chủ quan.
b- Người cảm giác
Loại ngƣời này không tri giác sự vật, hiện tƣợng trong sự vận động của thời gian, với
họ chỉ hiện tại mới chỉ có ý nghĩa. Họ không để ý tới quá khứ cũng nhƣ không biết nghĩ đến
tƣơng lai. Họ ít liên tƣởng đến các sự kiện đã xẩy ra, nhƣng lại giải quyết những vấn đề trong

vai mới. Họ chỉ quan tâm đến vai của mình. Họ là ngƣời có quan hệ rộng, yêu cái thiện và
thích một sự tƣ do rõ ràng, và sẽ làm việc tốt khi hợp với đạo diễn.
b- Diễn viên hướng nội
Khi đóng vai thƣờng khám phá ra nội tâm của nhân vật, hoàn toàn đồng nhất với
nhân vật. Mỗi lần đóng những vai khác nhau họ có những thể hiện khác nhau. Họ luôn thấy
khó chịu khi bị chỉ bảo và luôn tự làm lấy. Họ chỉ chấp nhận đạo diễn nhƣ là một ngƣời tƣ
vấn mà thôi. Họ làm việc kém hiệu quả khi gặp một đạo diễn tồi.
Trong tâm lý học xã hội còn ít các công trình nghiên cứu về kiểu nhân cách xã hội,
đặc biệt là những nghiên cứu có tính lý luận và hệ thống cao. Những nghiên cứu đã đƣợc
trình bày ở trên mới dừng loại ở mức độ phân loại các kiểu nhân cách xã hội, chỉ ra đặc điểm
cơ bản của các loại nhân cách đó. Còn những vấn đề cơ bản nhƣ: các kiểu nhân cách đó đƣợc
hình thành trong các nhóm nhƣ thế nào. Những yếu tố nào tác động đến quá trình hình thành
và phát triển các kiểu nhân cách ấy. Quá trình hòa nhập các loại ngƣời này trong các nhóm xã
hội ra sao. Những tác động của họ đến những thành viên khác của nhóm và nhóm ảnh hƣởng
đến họ nhƣ thế nào. Những kiểu nhân các này có mang tính chất lịch sử và có chị sự ảnh
hƣởng của cơ cấu tổ chức nhóm đặc biệt là thể chế chính trị của xã hội đó hay không, có chịu
sự chi phối của nền văn hóa mà con ngƣời đang sống không v.v... Tất cả đều chƣa đƣợc đề
cập đến và lý giải từ góc độ tâm lý học xã hội. Vì vậy tâm lý học xã hội cần coi đây là những
vấn đề lớn cần đƣợc sự nghiên cứu công phu và có hệ thống.
1.1.2.5- Theo cách phân loại của Cattell
Trắc nghiệm kiểu nhân cách của Cattell dựa vào các động thái của động cơ, nhu cầu
hứng thú, định hƣớng giá trị, nó tổng hợp từ nhiều phƣơng pháp và nghiên cứu các hành vi
của các nét nhân cách trong các tình huống cụ thể khác nhau. Quan điểm của ông đƣợc nhiều
nhà tâm lí học đồng ý.

19


1. Yếu tố A
Mức độ thấp: "A" Hƣớng nội (kín đáo, biệt lập, phê phán. lạnh nhạt, kiên định).


Mức độ thấp: cả tin.
Mức độ cao: hay nghi ngờ.
10. Yếu tốM
Mức độ thấp: thực tế.
Mức độ cao: lí tƣởng hóa.
11. Yếu tốN
Mức độ thấp: đơn giản.
Mức độ cao: sắc sảo.
12. Yếu tố O
Mức độ thấp: tự tin
Mức độ cao: lo lắng
Yếu tố Q1
Mức độ thấp: bảo thủ.
Mức độ cao: cấp tiến.
Yếu tố Q2
Mức độ thấp: Phụ thuộc nhóm.
Mức độ cao: độc lập.
Yếu tốQ3
Mức độ thấp: ý kiến riêng mức độ thấp
Mức độ cao: ý kiến riêng mức độ cao.
Yếu tố Q4
Mức độ thấp: mức độ căng thẳng nội tâm thấp.
Mức độ cao: mức độ căng thẳng nội tâm cao.

1.2- Quan hệ liên nhân cách
1.2.1- Khái niệm quan hệ liên nhân cách
Cần phải làm sáng tỏ bản chất và vị trí của quan hệ liên nhân cách trong cuộc sống và
hoạt động của con ngƣời. Ngành tâm lí học đã đƣa ra một số quan điểm khác nhau về việc
nên đặt quan hệ liên nhân cách vào chỗ nào trong hệ thống các mối quan hệ xã hội. Thỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status