Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy tại phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

HOÀNG THỊ HƢƠNG LÝ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ THẢM THỰC VẬT
PHỤC HỒI SAU NƢƠNG RẪY TẠI PHƢỜNG NGỌC XUÂN,
THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

HOÀNG THỊ HƢƠNG LÝ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ THẢM THỰC VẬT
PHỤC HỒI SAU NƢƠNG RẪY TẠI PHƢỜNG NGỌC XUÂN,
THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Mã số: 60 42 01 20

Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo,
các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS
Lê Ngọc Công - người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến
thức, kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa
Sinh - KTNN, phòng Đào tạo -Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt
tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại
trường.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND phường Ngọc Xuân, Chi cục
thống kê thành phố Cao Bằng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao bằng, Công ty Lâm
nghiệp Cao Bằng, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Cao Bằng đã tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này .
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn
Thái nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả

Hoàng Thị Hương Lý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

ii

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


MỤC LỤC
Trang

iii

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Chƣơng 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG
NGHIÊN CỨU ................................................................................................... 26

3.1. Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu .......................................................... 26
3.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................... 26
3.1.3. Khí hậu..................................................................................................... 27
3.1.4. Sông suối- thủy văn ................................................................................. 28
3.1.5. Địa chất và thổ nhưỡng............................................................................ 29
3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu................................................ 30
3.2.1. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế .................................................. 30
3.2.2. Dân số, lao động và việc làm. .................................................................. 32
3.2.3. Văn hóa - xã hội: ..................................................................................... 33
3.2.4. Thực trạng cơ sở hạ tầng: ........................................................................ 33
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................. 35
4.1. Các kiểu TTV thứ sinh tự nhiên đặc trưng trong KVNC ........................... 35
4.2. Đặc điểm của các kiểu TTV thứ sinh trong KVNC ................................... 35
4.2.1. Sự phân bố các taxon trong các kiểu TTV .............................................. 35
4.2.2. Đặc điểm thành phần loài trong các kiểu TTV nghiên cứu .................... 37
4.2.3. Đặc điểm thành phần dạng sống tại khu vực nghiên cứu ........................ 48
4.3. Đặc điểm cấu trúc hình thái của các kiểu thảm thực vật ............................ 57
4.3.1. Thảm cỏ thấp ........................................................................................... 59
4.3.2. Thảm cây bụi ........................................................................................... 59
4.3.3. Rừng thứ sinh .......................................................................................... 60
4.4. Đặc điểm tái sinh tự nhiên trong các kiểu TTV tại KVNC ........................ 62
4.4.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh .................................. 62


Chiều cao vút ngọn

KVNC

Khu vực nghiên cứu

NN và PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ODB

Ô dạng bản

OTC

Ô tiêu chuẩn

TĐT

Tuyến điều tra

TTV

Thảm thực vật

UNESCO

Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc

UBND


Hình 3.1. Bản đồ hành chính thành phố Cao Bằng (Khu vực nghiên cứu:
phường Ngọc Xuân) ...................................................................... 26
Hình 4.1. Sự phân bố các taxon ở KVNC ...................................................... 36
Hình 4.2. Tỷ lệ các họ, chi, loài trong các kiểu thảm thực vật ở KVNC ....... 48
Hình 4.3. Thành phần dạng sống thực vật trong khu vực nghiên cứu ........... 49
Hình 4.4. Sự phân bố dạng sống thực vật trong các kiểu TTV ...................... 50
Hình 4.5. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao ở ba kiểu TTV ................. 67

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Rừng vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, rừng có vai trò rất
quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên
hành tinh chúng ta. Trong thực tế rừng đã đem lại lợi ích vô cùng to lớn: cung
cấp gỗ, củi, là nơi cư trú của các loài động vật, thực vật, dự trữ các nguồn
gen quý hiếm, điều hòa khí hậu, nguồn nước, hạn chế và ngăn chặn xói mòn,
lũ lụt, gió bão, bảo vệ sức khỏe con người…
Tuy nhiên trong vài thập kỷ gần đây diện tích rừng đã bị thu hẹp một
cách đáng kể do nhiều nguyên nhân như: cháy rừng do tự nhiên hoặc con
người, do chiến tranh, do áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo
đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng … gây
hậu quả nghiêm trọng cho các vùng sinh thái. Trên thế giới ban đầu diện
tích rừng chiếm 6 tỉ ha trên bề mặt trái đất, diện tích này còn 4,4 tỉ ha năm
1958 đến năm 1973 còn 3,8 tỉ ha. Hiện nay diện tích rừng còn khoảng 2,9 tỉ
ha. Các nhà khoa học đã dự báo rằng hàng năm trên thế giới bị mất 16,7

bị suy giảm do bị khai thác quá mức, một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng
như Hoàng Đàn, Du Sam…
Thành phố Cao Bằng là một thành phố trẻ đô thị loại III bao gồm 6
phường và 5 xã trong đó xã Ngọc Xuân vừa được công nhận là phường năm
2012. Phường Ngọc Xuân hội tụ đủ hình thái đô thị, xóm làng, rừng núi, nằm ở
phía Đông - Bắc của thành phố với tổng diện tích tự nhiên 684,99 ha, diện tích
đất có rừng là 330,73 ha (rừng tự nhiên là 93,99 ha, rừng trồng là 236,74ha) độ
che phủ rừng đạt 48,3% chủ yếu là rừng phục hồi sau nương rẫy [5]. Nhìn
chung rừng ở đây vẫn trong tình trạng suy thoái, rừng nguyên sinh hầu như
không còn mà thay vào đó là các kiểu thảm thực vật thứ sinh như trảng cỏ,
trảng cây bụi, rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên và rừng trồng nhân tạo. Nguyên
nhân chính của sự tàn phá là do chặt rừng làm nương, khai thác củi và khai thác

2


gỗ rừng quá mức, ngoài ra nạn cháy rừng hàng năm đã làm cho môi trường sinh
thái trong một số nơi ngày càng xấu đi.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật
phục hồi sau nương rẫy tại phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh
Cao Bằng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Về lý luận
Bổ sung thêm những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên
của một số thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy ở phường Ngọc Xuân, thành
phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
2.2. Về thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng ở phường Ngọc Xuân đề
xuất một số biện pháp nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng

vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật rừng mưa nhiệt đới…
1.1.2. Khái niệm về rừng
Đã có rất nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về rừng. Theo
Sukhatrep (1964): " Rừng là một quần lạc sinh địa. Quần lạc sinh địa là tổ hợp
các yếu tố thiên nhiên đồng nhất trên vùng đất xác định (khí hậu, đá mẹ, đất,
các điều kiện thuỷ văn, thực vật, động vật, vi sinh vật). Các yếu tố tự nhiên có
vai trò thiết lập ra các mối quan hệ, cùng với các nhóm sinh vật chúng hình
thành nên kiểu trao đổi chất và năng lượng đặc trưng giữa chúng với nhau và
với các yếu tố tự nhiên, nó là một thể thống nhất, đang biến động và phát triển"
(dẫn theo Hoàng Chung, 2005 [6]).
Rừng là một kiểu thảm thực vật mang các đặc trưng riêng, chẳng hạn như
trong rừng cây gỗ (hay rừng tre nứa), với rừng cây gỗ thì yếu tố chủ đạo trong đó
là cây gỗ và cây gỗ phải có chiều cao ≥ 5m so với mặt đất và độ tàn che (k) của
chúng phải ≥ 0,3, đối với rừng tre nứa độ tàn che > 0,5. Nếu k < 0,3 thì chưa thành
rừng, k = 0,3 - 0,6 là rừng thưa, k > 0,6 là rừng kín [23].
4


1.1.3. Tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái tạo,
hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí
cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên. Hiện nay cùng với thuật ngữ này, còn
có nhiều thuật ngữ khác đang được sử dụng rộng rãi hiện nay. Schereckenbeg,
Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ: “Rehabitilation” để chỉ sự phục hồi
lại bằng biện pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái; Jordan, Peter và
Allan (1998) sử dụng thuật ngữ “Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại
của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên.
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà
khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng.
Căn cứ vào nguồn giống người ta phân chia 3 mức độ tái sinh như sau:

nghiên cứu về cấu trúc rừng và tái sinh rừng, nhằm xây dựng cơ sở khoa học
cho việc khoanh nuôi bảo vệ rừng cũng như việc khai thác rừng có hiệu quả.
1.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là một khái niệm chung để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của
các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian
(Phùng Ngọc Lan, 1986) [20]. Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu
trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
- Cơ sở sinh thái về cấu trúc rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học,
sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả
sản xuất cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3 dạng cấu
trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian. Cấu trúc của
thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực
vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc
rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái

6


rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards (1952) [48], Baur (1964) [46], Odum (1971) [49]…tiến hành. Những
nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ
thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Baur (1964) [46] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và
về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu
cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ
đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng.
Odum (1971) [49] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở

thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo
chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được đầy đủ thực trạng sự phân
tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới.
- Nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng
Để kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng mang tính chính xác, thực tế, nhiều
nhà nghiên cứu đã chuyển dần từ mô tả định tính sang nghiên cứu định lượng với
sự hỗ trợ của toán học và tin học. Trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng (cấu
trúc không gian và cấu trúc thời gian), xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu
trúc rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu có kết quả.
Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập
trung nghiên cứu nhiều nhất. Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet
(1971), Brung (1970), Loeth et al (1967)…rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô
hình toán để mô phỏng các quy luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2001 [11]).
Rollet (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng
các hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất. Nhiều
tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính loài theo
mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973). Ngoài ra các dạng hàm
Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson…cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô
hình hóa cấu trúc rừng.
Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng

8


theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái. Đó là dựa trên cơ sở đặc
điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái
của quần xã thực vật rừng. Đại diện cho hệ thống phân loại rừng này có
Humbold


quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được
xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng
cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Richards (1952) [48]; Baur,
(1964) [46]). Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài
9


cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý
nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít
được nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng
mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện
rừng đã ít nhiều bị biến đổi. Van Steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái
sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài
cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng.
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các
cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các
kiểu rừng. Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương
thức chặt tái sinh. Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961,
1963) với phương thức rừng đều tuổi ở Malaysia; Nicholson (1958) ở Bắc
Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên
ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở
Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm
lá ở Andamann (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2004 [13]).
Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái
sinh đã được Baur (1976) [2] tổng kết trong tác phẩm “Cơ sở sinh thái học của
kinh doanh rừng mưa”.
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng

hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây
mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng
đến sinh trưởng của cây tái sinh. Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi
kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh. Nhìn chung ở
rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng
loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài
cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh
ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy.
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả
nghiên cứu. Tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela, Saldarriaga (1991)
đã nghiên cứu và nhận xét: sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ
11


ban đầu đến rừng thành thục. Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ
thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của
quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số
canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1].
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy
từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết
chỉ số đa dạng loài rất thấp. Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của
quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá. Long Chun và cộng sự
(1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại
Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1].
Kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới
cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự
nhiên ở một số nơi. Đặc biệt sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để
xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng

Nguyễn Hải Tuất (1991) [43], nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây
rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một
hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng.
Trần Văn Con (1992) [10] ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu
động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai - Kon Tum) đã
cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba
quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa). Mô phỏng
toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi
biết hiện trạng rừng và các tương quan nhất định.
Phạm Minh Nguyệt (1994) [25] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc
rừng cần quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ. Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng
cây đều phát triển tốt, tầng cây trên cung cấp nguyên liệu cho kinh doanh
nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp

13


nhàng. Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho
cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu.Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm
tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện sinh thái lâu dài.
Võ Đại Hải (1996) [14], đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn
nước của thảm thực vật. Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng
hộ đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều
tiết nước và xói mòn. Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và
điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng .
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)
[38] dựa vào sự ghép nối 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu
trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu
tố hệ thống thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thực vật Việt Nam thành 5
nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần

cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một hệ sinh thái
núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng.
Nguyễn Duy Chuyên (1995) [9] cho rằng tái sinh tự nhiên nhiều loài cây
dưới tán rừng có thể biểu diễn bằng các hàm toán học. Kết quả nghiên cứu cho
thấy ở trạng thái rừng IIIA2 có phân bố Poisson.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường
thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các
biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến các yếu tố sinh thái
nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài. Muốn đề
xuất được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, đòi hỏi phải nghiên cứu
cấu trúc rừng một cách đầy đủ và phải đứng trên quan điểm tổng hợp về sinh
thái học, lâm học và sản lượng.
1.2.2.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Rừng Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói

15


Trích đoạn Nội dung nghiên cứu Phương pháp tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status