ĐẶT VẤN ĐỀ
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh
thái rừng. Tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp, là quá trình phục hồi lại thành
phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ, sự xuất hiện của lớp cây con là
nhân tố mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong quần xã
sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật), đóng góp vào việc hình thành tiểu
hoàn cảnh rừng và làm thay đổi cả quá trình trao đổi vật chất và năng lượng
diễn ra trong hệ sinh thái rừng. Do đó, tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa
rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng, tái sinh rừng thúc đẩy việc hình
thành cân bằng sinh học trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục và lâu
bền.
Tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới là một vấn đề cực kỳ phức tạp, kinh
nghiệm thực tiễn chỉ cho thấy việc áp dụng máy móc các phương thức tái
sinh kinh điển của các vùng ôn đới vào các nước nhiệt đới nói chung và Việt
Nam nói riêng không thể mang lại kết quả mong muốn. Tái sinh rừng không
chỉ là một hiện tượng sinh học mà còn là một hiện tượng địa lý, muốn nghiên
cứu đặc điểm và quy luật tái sinh cần phải gắn liền với từng loại hình rừng
cụ thể.
Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt
đới nói chung, nhưng phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động phức tạp của con
người nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều. Tái sinh rừng ở mỗi
nơi có quy luật và đặc điểm khác nhau, vì vậy việc áp dụng các giải pháp kỹ
thuật lâm sinh phải xuất phát từ việc tìm hiểu bản chất cấu trúc và tái sinh
của rừng.
Sơn Động là huyện miền núi có diện tích rừng lớn của tỉnh Bắc Giang
và có địa hình tương đối phức tạp, các diện tích rừng này là rừng thứ sinh có
vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất đai và cuộc sống
của con người vì vậy cần phải quan tâm, duy trì những diện tích này kịp thời.
Theo số liệu thống kê năm 2007, trước năm 1998 tổng diện tích rừng tự
nhiên của huyện Sơn Động là: 12.930 ha với những loài cây gỗ lớn có giá trị
1
sinh thái rừng, đây là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan
điểm sinh thái học.
Về mô tả hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc
hình thái của quần thể thực vật rừng và tạo nên cấu trúc tầng thứ.
Richards (1952) [16] đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa
thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp, rừng cây đơn
ưu có tổ thành loài cây đơn giản, trong những lập địa đặc biệt. Cũng theo tác
giả này, rừng mưa thường có nhiều tầng (thường ba tầng trừ tầng cây bụi và
tầng cây thân cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi, và
các loài thân cỏ còn có nhiều loài dây leo có đủ hình dáng và kích thước,
cũng nhiều loài phụ sinh trên thân hoặc cành hình thành nên nhóm thực vật
ngoại tầng.
3
Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Trong những nghiên cứu về rừng tự nhiên, vấn đề nghiên cứu định
lượng quy luật phân bố số cây theo đường kính, phân bố số cây theo chiều
cao, phân chia tầng thứ được nhiều tác giả thực hiện có hiệu quả. Ngoài việc
phản ánh cấu trúc nội tại của lâm phần làm căn cứ đề xuất các biện pháp
kinh doanh còn làm cơ sở để xây dựng các phương pháp điều tra và thống kê
tài nguyên rừng.
Về cấu trúc tầng thứ:
Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ tự nhiên có nhiều ý kiến khác nhau, có
tác giả lại cho rằng, ở kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi, ngược
lại có nhiều tác giả lại cho rằng, rừng lá rộng thường xanh có từ 3 – 5 tầng.
Richards (1939) phân chia rừng ở Nigiênia thành 5 – 6 tầng.
Về phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D
1.3
): phân bố theo cỡ đường
kính là quy luật phân bố cơ bản của lâm phần và được các nhà lâm học, điều
Có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến tái sinh
rừng. Trong đó nhân tố được đề cập nhiều nhất là ánh sáng [11] (thông qua độ
tàn che của rừng), độ ẩm đất, kết cấu quần phụ, cây bụi, dây leo và thảm tươi
là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tái sinh rừng. Trong rừng nhiệt đới
sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng tới quá trình phát triển của cây con. Khi
nghiên cứu tái sinh tự nhiên, các tác giả nhận định thảm cỏ và cây bụi đã ảnh
hưởng tới quá trình tái sinh của loài cây gỗ. Ở quần thụ kín, tuy thảm cỏ phát
triển kém nhưng sự cạnh tranh dinh dưỡng của nó vẫn ảnh hưởng xấu đến tái
sinh rừng, Những lâm phần đã qua khai thác, thảm cỏ có điều kiện phát triển
mạnh là nhân tố ảnh hưởng xấu tới tái sinh rừng. Ghent A.W (1969) nhận xét:
thảm mục, chế độ nhiệt, tầng đất mặt có quan hệ chặt chẽ với tái sinh rừng
cũng cần được làm rõ.
Mật độ và sức sống của cây con chịu ảnh hưởng trực tiếp vào chế độ
khép tán của tầng cây cao. Trong quá trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại
giữa cây con và tầng cây cao, V.G Karkov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức
tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng trong đất, ánh sáng, độ
ẩm và tính không thuần nhất giữa các loài thực vật tùy thuộc vào đặc tính
sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật.
5
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng
trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết về phương pháp nghiên cứu, quy
luật tái sinh ở một số nơi và chỉ ra mối quan hệ qua lại của các thành phần cấu
trúc rừng.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Phân loại rừng
Vấn đề phân loại rừng Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ 20 đã có
nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu.
Thái Văn Trừng (1978) [13] đã dựa vào 4 tiêu chuẩn đó là: dạng sống,
ưu thế của những của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che,
hình thái sinh thái lá và trạng thái mùa của tán lá để phân chia rừng Việt
D
. Với
mỗi loài trong lâm phần, phạm vi biến động đường kính có hẹp hơn. Vị trí
cây có đường kính bình quân nằm trong khoảng 51 – 73% số cây kể từ cỡ
nhỏ. Hệ số biến động bình quân về đường kính của lâm phần vào khoảng
71%. Qua nghiên cứu của Vũ Nhâm và Vũ Tiến Hinh (1990) [4] cho thấy có
thể dùng phân bố Weibull để biểu thị phân bố N/D
1.3
cho những lâm phần
thuần loài đều tuổi như Thông nhựa, Thông đuôi ngựa.
Lê Sáu (1996) [12] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên đã khẳng
định sự hơn hẳn của phân bố Weibull trong việc mô tả quy luật phân bố N/D
cho tất cả mọi trạng thái rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm ở dạng
nào đi nữa.
b. Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/H
vn
)
Bảo Huy (1993) [8], Lê Sáu (1996) [12], khi nghiên cứu phân bố N/H
vn
để tìm tầng tích tụ tán cây, đều đi đến nhận xét chung là: phân bố N/H
vn
có
dạng một đỉnh, nhiều đỉnh phụ hình răng cưa, và dùng hàm Weibull để mô tả
rất thích hợp.
Đối với rừng tự nhiên lá rộng ở nước ta, (Đồng Sỹ Hiền, 1974) phân bố
N/H
vn
trong từng loài hay lâm phần thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu
phức tạp của rừng chặt chọn. Phạm vi biến động về chiều cao từ (0,3 – 2,5)
H
Nguyễn Hữu Hiến (1970) [2] đã đưa ra phương pháp đánh giá tổ thành
rừng nhiệt đới, tác giả cho rằng loài cây tham gia vào loại hình thì nhiều, trên
diện tích 1 ha có khi có đến hàng trăm loài cây, cùng một lúc không thể kể
hết được. Vì vậy, người ta chỉ kể đến loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất
trong các tầng quan trọng, tác giả đưa ra công thức tổ thành là Xtb ≥ N/a
(Xtb là trị số bình quân của một loài, N là số cây điều tra, a là số loài điều
tra). Một loài được gọi là một thành phần chính của một loại hình phải có số
lượng cá thể lớn hơn hoặc bằng Xtb. Đây là một cách đánh giá thuận tiện
8
trong phân tích nghiên cứu phân bố các loài, diễn thế và sự phân bố các quần
lạc thực vật.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc và lớp cây tái sinh trong rừng
hỗn loài cũng đã được đề cập trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn
Trương (1983) [14]. Theo tác giả thì cần phải thay đổi cách khai thác rừng
cho hợp lý vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng.
Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải
tự nhiên hoạt động rõ ràng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây trên kế tiếp
nó ở phía trên. Điều kiện này không thể thực hiện được trong vùng tự nhiên
ổn định mà chỉ thực hiện được trong rừng chuẩn có sự tái sinh liên tục đã
được sự điều tiết khéo léo của con người.
Phùng Ngọc Lan (1984) [9] đã nghiên cứu về đảm bảo tái sinh trong
khai thác rừng. Tác giả cho biết do cây mạ có tính chịu bóng, nên một số
lượng lớn các cây tái sinh phân bố chủ yếu ở cấp chiều cao thấp trừ một số
loài cây ưa sáng, tổ thành loài tái sinh dưới tán rừng ít nhiều đều lặp lại và
giống tổ thành tầng cây cao của quần thể. Từ kết quả điều tra khu rừng chưa
khai thác ở Lạng Sơn đã chứng tỏ tiềm năng phong phú của tái sinh rừng ở
nước ta và tác giả đã đưa ra nhận xét phương thức khai thác có ảnh hưởng
quyết định đến tái sinh rừng.
Vũ Tiến Hinh (1991) [5], nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của
rừng tự nhiên Hữu Lũng – Lạng Sơn và vùng Ba Chẽ - Quảng Ninh đã nhận
khu vực nghiên cứu cũng chưa được đề cập. Chính vì vậy những nội dung
nghiên cứu của đề tài ở địa phương đã bổ sung vào những khoảng trống đó.
10
Chương 2
MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG, VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu
2.1.1. Mục tiêu chung
Đánh giá về cấu trúc và tái sinh rừng sau khoanh nuôi làm cơ sở cho
việc đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu một số đặc điểm cấu trúc trước khi đưa vào khoanh nuôi năm
2007
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh năm 2010
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào khu vực nghiên
cứu
2.2. Giới hạn của đề tài
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trạng thái rừng thứ sinh nghèo
phục hồi sau khoanh nuôi (trạng thái IIa, III
A1
). Các trạng thái rừng này phải
bao gồm những lô rừng phục hồi thành công và không thành công.
2.2.2. Địa điếm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại tiểu khu Đường Nội thuộc Ban
quản lý rừng phòng hộ Sơn Động - Bắc Giang.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Nghiên cứu cấu trúc tầng cây cao
- Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao của 2 trạng thái IIa và
IIb trước khi đưa vào khoanh nuôi năm 2007
(đặc điểm tầng cây
cao và cây tái sinh)
Khoanh
nuôi thành
công
Khoanh
nuôi không
thành công
Đưa ra các giải
pháp kỹ thuật lâm
sinh
Đưa ra các giải
pháp kỹ thuật lâm
sinh
Phân loại của
Loestchau
Biện pháp
tác động đã
thực hiện
Hình 01: Khung phân tích logic của đề tài
14
2.4.1. Phương pháp kế thừa
Đề tài đã kế thừa những thông tin cơ bản về khu vực nghiên cứu:
- Hồ sơ về đặc điểm cấu trúc rừng trước khi đưa vào khoanh nuôi năm 2007.
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế trong khu vực nghiên cứu
- Các tài liệu tham khảo về vấn đề nghiên cứu của đồng nghiệp, các tác giả
trong và ngoài nước.
2.4.2. Phương pháp bố trí và thu thập số liệu ngoài thực địa
2.4.2.1 Điều tra tầng cây cao
Lập OTC điển hình tạm thời, mỗi trạng thái ta tiến hành lập 3 OTC,
ĐT NB TB ĐT NB TB
1
2
…
Kết quả ghi vào mẫu biểu 2.2
Mẫu biểu 2.2: Điều tra cây tái sinh
Địa điểm……… Thực bì……… Ngàyđiều tra……….
Trạng thái rừng…… Độ che phủ……… Người điều tra………
ÔTC số……. Độ cao trung bình…… Người kiểm tra……
ODB
Loài
cây
Số cây theo cấp
chiều cao (m)
Nguồn gốc
Chất
lượng
Tổng số
cây tái
sinh
<0,5 0,5-1 … ≥2,5 Chồi hạt A B C
Thu thập các thông tin lâm phần: Thực bì, sâu bệnh, mức độ tác động,
phương thức lâm sinh tác động vào rừng.
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu
2.4.3.1. Xử lý thống kê các kết quả nghiên cứu đối với tầng cây cao
Tính toán các giá trị bình quân D
1.3
, H
VN
, D
S
n
Trong đó: n - số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong OTC
S - diện tích OTC
- Xác định phân bố số cây theo đường kính (N/D) và phân bố số cây theo
chiều cao (N/H) dựa vào việc xử lý thống kê số liệu.
2.4.3.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng
- Đối với cây tái sinh: Xác định số loài dựa vào công thức
n =
m
N
m
Ni
m
i
=
∑
=1
Trong đó:
m - là tổng số loài ở mỗi trạng thá
N
i
- là tổng số cây của mỗi loài ở mỗi trạng thái
N - tổng số cây ở các loài ở mỗi trạng thái
Nếu N
i
≥ N thì số loài đó được tham gia vào công thức tổ thành
Xác định hệ số tổ thành cho mỗi loài
K =
10x
2
=
( )
∑
−
−
1
2
n
xxi
X
i
- tổng số cây của loài thứ i
Xác định hệ số K của phân bố Poisson
K =
∑
X
S
2
Kết luận: K > 1 phân bố cụm
K = 1 Phân bố ngẫu nhiên
K < 1 phân bố đều
- Đánh giá nguồn gốc và chất lượng tái sinh
Việc đánh giá dựa vào cấp chất lượng được thống kê
N% =
100x
N
Ni
Trong đó: Ni - số cây thực tế của một cấp chất lượng
N - tổng số cây của các loài trong một trạng thái
Trong đó:
f
ij
- là tần số quan sát của mẫu i cấp chất lượng j
T
ai
- tổng tần số quan sát của mẫu thứ i
T
bj
- tổng tần số quan sát của cấp chất lượng j
TS - tổng tần số quan sát của các mẫu
Nếu χ
2
n
> χ
2
05[k=(a-1)(b-1)]
trạng thái không thuần nhất với nhau về chất lượng
Nếu χ
2
n
< χ
2
05[k=(a-1)(b-1)]
trạng thái thuần nhất với nhau về chất lượng
- Phương pháp nghiên cứu quy luật phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều
cao (N/H) và số loài cây tái sinh theo cấp chiều cao (N
lts
/H).
Để lập phân bố thực nghiệm số cây và số loài cây tái sinh theo cấp chiều
2
χ
=
∑
=
−
n
i
fl
flft
0
)(
so sánh với tiêu chuẩn
05
2
χ
(k)
với k = m – r – 1
Trong đó: flt - tần số lý thuyết
ftt- tần số thực nghiệm
m - số tổ sau khi gộp
r - số tham số cần kiểm tra
Nếu
2
χ
≤
05
2
χ
thì H
nghiệm có dạng giảm, lệch trái, lệch phải và đối xứng. Phân bố Weibull là
phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên liên tục với miền giá trị (o đến + ∞).
Hàm Weibull có dạng:
f
(x) =
a
x
e
a .
1
λ
λα
−
Χ
−
Với
λα
,
là hai tham số của phân bố Weibull. Khi các tham số của phân bố
Weibull thay đổi thì dạng đường cong phân bố cũng thay đổi theo. Tham số
α
đặc trưng cho độ lệch của phân bố.
Nếu
α
= 1: Phân bố có dạng giảm.
Nếu
α
t
là tần số thực nghiệm.
Kết quả được ghi ở mẫu biểu 2.3
Mẫu biểu 2.3: Biểu nắn phân bố thực nghiệm theo hàm Weibull
X
i
f
t
X
i
-a X
t
-a
( )
α
a
i
−Χ
u
eU
−
.
P
i
f
l
( )
2
l
lt
uu
eeP
−−
−=
,f
l
= n*P.
Từ các tham số α, λ tiến hành tính toán tần số lý thuyết (f
lt
) và kiểm tra
sự phù hợp của phân bố Weibull bằng tiêu chuẩn khi bình phương (χ
2
) của
Poisson. Sử dụng tiêu chuẩn χ
2
với mức ý nghĩa
α
= 0,05 để kiểm tra sự phù
hợp của phân bố lý thuyết so với phân bố thực nghiệm theo công thức:
( )
∑
=
−
=
m
i
l
lt
n
f
n
≤ χ
2
05
thì phân bố thực nghiệm tuân theo phân bố Weibull.
+ Nếu χ
2
n
> χ
2
05
thì phân bố thực nghiệm không tuân theo phân bố
Weibull.
2.4.3.4. Phương pháp phân loại rừng hiện tại
Đề tài sử dụng phương pháp phân loại của Loestchau (1960) được Viện
Điều tra Quy hoạch rừng nghiên cứu và bổ sung. Cụ thể phân chia các trạng
thái rừng như sau:
+ Kiểu trạng thái II: Rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai
thác trắng, kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, chủ yếu là
những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng mọc nhanh, nó có
thể được chia thành 2 kiểu phụ:
Kiểu phụ IIa: rừng phục hồi còn non và đặc trưng bởi lớp cây tiên
phong ưa sáng, mọc nhanh, thường đều tuổi và kết cấu một tầng, đường kính
D < 10 cm, ∑G < 10 m
2
/ha, trữ lượng chưa có hoặc > 25 – 30 m
3
, thuộc đối
tượng nuôi dưỡng.
Kiểu phụ IIb: rừng cây tiên phong tiên phong phục hồi phát triển đã
m
3
/ha. Tuỳ thuộc vào mật độ tái sinh mà có thể chia nhỏ hơn nữa.
Dạng trạng thái III
A2
: Rừng qua khai thác kiệt bắt đầu phục hồi, đặc
trưng của trạng thái này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế với
lớp cây cao, đại bộ phận có đường kính 20 – 30 cm. Rừng có 2 tầng trở lên,
tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây cũ còn lại,
còn những cây to khoẻ vượt tán. Độ tàn che của rừng S = 0,3 – 0,5, ∑G =
10 – 15 m
2
/ha,
∑G
D > 40
< 2 m
2
/ha, trữ lượng từ 80 – 120 m
3
/ha. Cũng tuỳ thuộc vào mật độ tái
sinh có thể chia nhỏ hơn thế nữa.
Dạng trạng thái III
A3
: Rừng đã có quá trình phục hồi tốt (rừng trung bình
có từ 2 tầng trở lên). Độ tàn che S = 0,5 – 0,7, ∑G 16 – 21 m
2
/ha, ∑G
D > 40
< 2
m
22
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Địa hình
BQL rừng phòng hộ có diện tích nằm trọn trong phần núi Đông Bắc
Bộ, do ảnh hưởng của các vòng cung Bắc Sơn – Đông Triều nên địa hình
chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, thuộc loại hình núi cao, hướng dốc đa dạng.
3.1.2. Địa chất, thổ nhưỡng
Đất đai trong vùng của BQL được hình thành trên nền đá mẹ chủ yếu là
phiến thạch sét, sa phiến thạch, sa thạch, cuội kết.
Các loại đất thường gặp:
- Đất feralit nâu xám mùn trên núi
- Đất feralit đỏ vàng chủ yếu ở vùng núi thấp, vùng đồi thoải, chiếm phần
lớn diện tích đất đai của BQL.
- Các loại đất dốc tụ ven sông suối hoặc ven đồi
3.1.3. Khí hậu, thủy văn
a. Khí hậu
Biểu 3.1: Biểu đồ khí tượng năm 2007 của khu vực nghiên cứu
Tháng Nhiệt độ(
0
C) Lượng mưa (mm)
Số giờ nắng
(h)
Số ngày
mưa(ngày)
1 15,6 23,1 63 7
2 20,7 25,8 79 5
3 20,8 22,8 22 13
4 23,3 47,5 91 7
tại khu vực nghiên cứu
Loại đất Diện tích (ha) Tỉ lệ(%)
Tổng diện tích tự nhiên 8.949,2 100
1 Đất lâm nghiệp 8.947 99,9
1.1 Đất có rừng 6.908,7 77,2
1.1.2 Rừng tự nhiên 5.831,2 84,4
1.1.3 Rừng trồng kinh tế 577,7 8,3
1.1.4 Rừng trồng phòng hộ 499,8 7,2
1.2 Đất trống 2.038,3 22,8
2. Đất trụ sở và vườn ươm 2,2 0,02
Như vậy: Với diện tích đất lâm nghiệp là 8.947 ha trong đó diện tích có
rừng chiếm 72%. Diện tích đất trống chiếm tỉ lệ cao 22,8% lại phân bố tập
trung ở những nơi độ dốc lớn, địa hình phức tạp. Việc phủ xanh diện tích này
gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, đến nay diện tích đất trống giảm đi chưa
đáng kể.
Rừng tự nhiên: có tổ thành loài cây rất đa dạng và phong phú, đặc
trưng cho rừng nhiệt đới vùng Đông bắc Việt nam: Lim xanh, Táu mật, Sến
24
mủ, Giổi, Lát hoa, các loài Dẻ, Re, Trám… rừng có nhiều tầng, tán, có độ
tàn che lớn và có thảm thực bì rất dày trên mặt đất.
- Rừng IIIA
2
(385,2 ha) chiếm tỷ lệ rất nhỏ 4% so với tổng diện tích đất lâm
nghiệp của BQL. Trạng thái rừng này có trữ lượng 120m
3
/ha.
- Rừng IIIA
1
(2497,8 ha) chiếm 28%. Đối tượng này đã thực hiện đóng cửa
rừng, không khai thác và đưa bảo vệ từ năm 1996, do vậy rừng phục hồi
- Địa bàn BQL rừng phòng hộ có 2 hệ thống đường giao thông chính:
- Quốc lộ 31 từ Hữu Sản đi Cẩm Đàn dài 40km, đường liên xã dài 30km.
25