phát triển công nghiệp xanh trong ngành dệt may việt nam - Pdf 23

MỤC LUC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ 3
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP XANH 3
Thành tựu đạt được 21
Những hạn chế khi triển khai thực hiện 22
1.4.2 Tiềm năng triển khai Công nghiệp xanh trong ngành Dệt may 25
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP XANH NGÀNH
DỆT MAY Ở VIỆT NAM 28
2.1. Thực trạng phát triển và các vấn đề môi trường ngành Dệt may Việt
Nam 29
2.1.1 Thực trạng phát triển ngành Dệt may Việt Nam 29
2.1.2 Hiện trạng môi trường ngành Dệt may 30
2.2. Thực trạng các hoạt động theo hướng CNX ngành DM VN 35
2.3. Tiềm năng phát triển CNX ngành DM VN – Phân tích SWOT 38
Các lợi ích của thực hiện CNX 43
Kết luận: 64
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP XANH NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 66
3.1. Các căn cứ đề xuất định hướng và giải pháp 66
3.2. Định hướng phát triển công nghiệp xanh ngành Dệt may 66
3.3. Các giải pháp phát triển công nghiệp xanh ngành Dệt may 70
+ Xây dựng năng lực và cung cấp dịch vụ: 72
+ Tài chính 72
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UNIDO : Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên hiệp Quốc
MOIT : Bộ công thương
CNX : Công nghiệp xanh
EU : Liên minh châu Âu
MEP : Bộ tài nguyên môi trường Trung Quốc
URENCO : Công ty môi trường đô thị

Bảng 2.5: Tiềm năng cải thiện hiệu quả tài nguyên trong ngành dệt may.Error:
Reference source not found
Bảng 2.6: So sánh mức độ tiêu thụ tài nguyên trong ngành dệt may Error:
Reference source not found
Bảng 2.7: Các phương án được phân tích độ nhạy Error: Reference source not
found
Bảng 2.8: Các loại chi phí, phương pháp lượng giá và nguồn số liệu Error:
Reference source not found
Bảng 2.9: Ước tính chi phí – lợi ích thực hiện CNX ngành Dệt may giai đoạn
2013 – 2020 Error: Reference source not found
Bảng 2.10: Các kịch bản CBA ngành Dệt May Error: Reference source not
found
Bảng 3.1: Dự báo tăng trưởng ngành Dệt may giai đoạn 2015-2020 Error:
Reference source not found
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, sau khi thực hiện chính sách "Đổi Mới", Việt Nam đã đạt được
những tiến bộ đáng kể trong phát triển công nghiệp và kinh tế. Quá trình công
nghiệp hóa đang diễn ra với tốc độ cao, tạo ra những thách thức và cơ hội mới liên
quan đến quản lý môi trường và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, tài nguyên
thiên nhiên, trong bối cảnh Việt Nam cũng đặc biệt dễ bị tổn thương bởi những tác
động do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Để hạn chế những tác động tiêu cực có
thể xảy ra do đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, Chính phủ Việt Nam đặc biệt
quan tâm đến lĩnh vực bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng
lượng, tài nguyên thiên nhiên cũng như xanh hóa các ngành công nghiệp, sản xuất
ra sản phẩm thân thiện với môi trường, giảm phát thải ra môi trường, giảm thiểu ô
nhiễm và tạo lập các ngành công nghiệp xanh hướng tới một nền công nghiệp
không chất thải gắn liền với tăng trưởng bền vững và đạt được mục tiêu cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Là nước ký Tuyên bố
Manila, Chính phủ Việt Nam đã cam kết thúc đẩy sự thích ứng và ứng dụng Công

UNIDO (United Nations Industrial Development Organisation) là Tổ chức
phát triển Công nghiệp Liên hiệp, bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 1976 với
vai trò là cơ quan chuyên môn, trợ giúp thực hiện về chuyển giao kỹ thuật cho các
dự án phát triển công nghiệp của Việt Nam. Tiếp nối sau cam kết tại tuyên bố
Manila, UNIDO phối hợp với Bộ Công Thương Việt Nam (Cục Kỹ thuật an toàn và
Môi trường Công nghiệp) đã xem xét, nghiên cứu và đánh giá tình hình và các hoạt
động công nghiệp hiện tại với kỳ vọng có thể đề xuất các khuyến nghị thiết thực
cho việc xây dựng một hệ thống chính sách phát triển Công nghiệp xanh (CNX) tại
Việt Nam.
Công nghiệp Xanh là một phương pháp tiếp cận theo hai hướng để phát triển
công nghiệp bền vững góp phần vào việc thực hiện tăng trưởng xanh, thúc đẩy sản
xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong công nghiệp chế tạo và các ngành
sản xuất liên quan. Thứ nhất là Công nghiệp Xanh, thông qua "xanh hoá các ngành
công nghiệp” nhằm đạt được giảm sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát
sinh chất thải và ô nhiễm trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào trên cơ sở liên tục, kể
cả thông qua các phương pháp tiếp cận đã được minh chứng như Sản xuất Sạch hơn
và sử dụng hiệu quả tài nguyên (RECP), hiệu quả năng lượng trong công nghiệp, và
quản lý hóa chất. Thứ hai, thông qua việc “tạo dựng các ngành công nghiệp xanh”.
Công nghiệp Xanh hiện thực hoá việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ môi trường chất
lượng cao một cách hiệu quả và công nghiệp, bao gồm cả các lĩnh vực như năng
lượng tái tạo, tái chế chất thải và khôi phục tài nguyên, và dịch vụ tư vấn môi trường.
Hai hướng tiếp cận của CNX, cụ thể là:
(a) Xanh hóa các ngành công nghiệp: đảm bảo rằng tất cả các ngành công
nghiệp, không phân biệt lĩnh vực, quy mô, quyền sở hữu, thị trường và địa điểm,
3
liên tục cải thiện môi trường và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên; và
(b) Tạo lập các ngành CNX: kích thích phát triển và tạo lập các ngành công
nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường.
Việc thực hiện phát triển CNX đòi hỏi một khung chính sách hỗ trợ, xây dựng
năng lực, công nghệ xanh dễ tiếp cận và phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp,

ngày càng thấp, giảm tác nhân gây ô nhiễm môi trường và an toàn đối với sức khỏe
người lao động, và gắn liền trách nhiệm quản lý trong suốt vòng đời của sản phẩm.
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến nội dung xanh hóa
ngành công nghiệp.
1.1.2. Nội dung của Công nghiệp xanh
Chương trình CNX là việc “xanh hóa” của các ngành công nghiệp, theo đó tất
cả các ngành công nghiệp liên tục nâng cao năng suất tài nguyên và môi trường của
họ. Nó cũng nhằm mục đích tạo ra các ngành công nghiệp xanh, cung cấp hàng hóa
và dịch vụ môi trường một cách công nghiệp, bao gồm: quản lý chất thải và các
dịch vụ tái chế, công nghệ năng lượng tái tạo, và các dịch vụ phân tích và tư vấn
môi trường. Xanh hóa các ngành công nghiệp đã trở thành một yếu tố quyết định
cốt lõi của năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế bền vững. Quá trình làm
“xanh hóa” của các ngành công nghiệp cũng đóng một vai trò quan trọng trong xóa
đói giảm nghèo, cung cấp năng lượng, bảo vệ sức khỏe, an ninh và an toàn lao
động, tạo công ăn việc làm, và giảm chi phí thông qua năng suất tăng lên. Được coi
là một khía cạnh của chính sách công, việc “xanh hóa” các ngành công nghiệp là
một nội dung xuyên suốt hàng loạt luồng chính sách quản lý môi trường mới.
Chúng bao gồm các chính sách công nghiệp (ví dụ như phát triển công nghệ thân
thiện với môi trường), chính sách môi trường (ví dụ như biện pháp bảo tồn tài
nguyên), và chính sách phát triển khu vực (ví dụ như cung cấp cơ sở hạ tầng địa
phương). Trong bối cảnh chính sách này, UNIDO đã đưa ra khái niệm "xanh hóa"
chính sách công nghiệp, trong đó tổ chức quá trình cũng như phát huy lợi thế so
sánh cho các nguồn lực hiệu quả và hạ thấp nguồn gây ô nhiễm môi trường trong
khu vực kinh tế. Đối với mục đích này, "chính sách công nghiệp xanh" tham khảo
5
hàng loạt các can thiệp của chính phủ; trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ phủ “xanh
hóa” các ngành công nghiệp. Như minh họa trong hình 1 (bên dưới), các chính sách
được nêu ra có chứa hỗn hợp các biện pháp “cứng” và “mềm” nhằm khen
thưởng/xử phạt, động cơ thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Minh họa
cho quan điểm này là một thành ngữ "củ cà rốt và cây gậy". Theo đó, chính sách

xanh hóa các ngành công nghiệp. Vì nó tạo ra môi trường pháp lý cho các hoạt
động thay đổi trong ngành công nghiệp xảy ra. Các tổ chức tài chính có vai trò quan
trọng để tạo cơ hội kinh doanh mới và phát triển và đầu tư các ngành công nghệ
mới. Chính phủ có thể sử dụng công cụ tài chính để thúc đẩy việc sử dụng tài
nguyên hiệu quả thông qua các tổ chức tài chính hoặc các quỹ độc lập, tạo điều kiện
quan trọng trong việc thúc đẩy các cơ hội thị trường mới, và cải thiện môi trường
thực tế giữa các công ty. Các chính phủ trên khắp thế giới đang sử dụng xanh hóa
mua sắm công theo đuổi các mục tiêu xã hội và môi trường, là tiền đề tạo ra nhu cầu
cho các sản phẩm và dịch vụ xanh.
Chính phủ cũng cần loại bỏ trợ cấp thiệt hại cho môi trường thông qua các quá
trình cải cách trợ cấp. Trợ cấp và các biện pháp bảo vệ môi trường phải dẫn đến
thúc đẩy đầu tư theo công nghệ mới và hiệu quả hơn. Chính phủ có thể khai thác
7
tổng lợi ích của các ngành công nghiệp thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn
lực nhờ sự hỗ trợ của các chính sách hợp tác quốc tế và chính sách thương mại và
đầu tư. Các doanh nghiệp đa quốc gia ngày càng chủ động tham gia tiếp cận vấn đề
môi trường toàn cầu, thông qua các hiệp định đa phương. Hiệp định thương mại có
thể giúp tăng cường việc thực thi pháp luật môi trường, bên cạnh việc nâng cao mức
độ tiêu chuẩn công nghiệp. Việc cung cấp cơ sở hạ tầng để hỗ trợ xanh hóa các
ngành công nghiệp (ví dụ như xử lý nước thải, tái chế tạo điều kiện thuận lợi cho
các mối quan hệ, và các nguồn cung cấp năng lượng bền vững) nên là một ưu tiên
cho các chính phủ. Huy động nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng vẫn còn là một
thách thức đáng kể cho các chính phủ, và do đó, những nỗ lực cần được thực hiện
để đòn bẩy tài chính từ quan hệ đối tác khu vực tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), và hợp tác quốc gia. Cuối cùng, xanh hóa các ngành công nghiệp được
khuyến khích thông qua việc hỗ trợ từ các cộng đồng địa phương được giáo dục tốt
về lợi ích môi trường, xã hội, kinh tế và hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn, và
có trách nhiệm trong phân tích chu kỳ sản xuất. Giáo dục và đào tạo kiến thức về
hiệu quả tài nguyên cần được xem như là một cam kết liên tục trong suốt chương
trình giáo dục. Thêm nữa, tăng cường hỗ trợ ngành công nghiệp bằng các sáng kiến

kiện thuận lợi cho chuyển giao bằng sáng chế và phổ biến các công nghệ môi
trường thông qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng như công viên khoa học, các cụm, vườn
ươm, mạng lưới hỗ trợ toàn cầu công cụ tài chính, như tìm kiếm lại phát triển (R
& D) các khoản trợ cấp, thuế quan, và liên doanh quỹ đầu tư là rất quan trọng để hỗ
trợ phát triển và sử dụng rộng rãi công nghệ môi trường. Chính phủ nên hỗ trợ các
chiến lược chương trình R & D liên quan đến ngành công nghiệp, như là một
phương tiện cung cấp nền tảng khoa học để tận dụng công nghệ mới về môi trường.
Cuối cùng, một hệ thống khoa học tích hợp và chiến lược là cần thiết để hỗ trợ
việc xanh hóa các ngành công nghiệp, bao gồm sự gắn kết giữa các chính sách môi
trường và đổi mới. Chính phủ có thể sử dụng các kỹ thuật như vậy để bám sát các
bước đột phá công nghệ mới, thúc đẩy việc xanh hóa các ngành công nghiệp.
Không thể sử dụng một công cụ duy nhất để thúc đẩy việc xanh hóa của các ngành
9
công nghiệp. Chính phủ cần phải cam kết rằng họ có một sự kết hợp tối ưu của các
công cụ tại chỗ, được hỗ trợ bởi các chiến lược và chính sách quốc gia tích hợp
khuôn khổ. Công cụ chính sách cần được đấu tranh, thiết kế, thông qua và thực hiện
bởi tất cả các cấp chính phủ - tức là ở cấp địa phương, quận huyện, quốc gia và
quốc tế và trên tất cả các lĩnh vực chính sách có liên quan. Thêm nữa, hỗn hợp công
cụ nên linh hoạt và trên diện rộng, và không nên chồng chéo lên nhau trong ứng
dụng của họ.
Khung chính sách nhắm mục tiêu xanh hóa ngành công nghiệp nên bao gồm
một hỗn hợp dựa trên thị trường, quy định, tự nguyện. Chính phủ nên xem xét dựa
trên thị trường (MBIs) như thuế, phí, giấy phép chuyển nhượng như chi phí chính
sách, thúc đẩy đổi mới công nghệ. Ví dụ như định mức, tiêu chuẩn và chính sách xử
lý chất thải… tạo thành cơ sở của hầu hết các chế độ quản lý môi trường. Để có
hiệu quả, chính sách quy định cần linh hoạt và được thiết kế tốt để không để kiềm
chế đổi mới công nghệ.
- Hiệp định tự nguyện (VAS)
Hiệp định tự nguyện: có thể là một công cụ hữu ích cho các chính phủ để giúp
nâng cao nhận thức ngành công nghiệp, và có thể cung cấp nhiều mục tiêu tham vọng

xuất sạch, quản lý hóa chất… như ban hành luật để các doanh nghiệp đi theo hướng
thân thiện với môi trường, sử dụng tài nguyên hợp lý. Hàn Quốc bắt đầu sản xuất
sạch từ năm 1995 với nhiều hình thức đa dạng và đạt được nhiều thành tựu. Cứ 5
năm một lần, Hàn Quốc lại đưa ra luật mới để việc thực hiện việc sản xuất sạch có
hiệu quả hơn.
+ Với sự khuyến khích và hỗ trợ mở rộng của Chính phủ, số lượng dự án của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp xanh được hiện thực hóa,
tăng hơn 40% kể từ năm 2009. Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng những cơ cấu
quỹ phù hợp với ngành công nghiệp xanh, tận dụng tối đa các thị trường vốn. Chính
phủ Hàn Quốc dự kiến sẽ tăng giá trị quỹ dành cho các công ty nhỏ từ 60 tỷ won
trong năm 2012 lên 1.100 tỷ won (khoảng 866 triệu USD) đến năm 2013.
+ Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và hướng tới là một
11
nước xuất khẩu mới về ngành công nghiệp xanh. Các ngành công nghiệp dựa trên
tri thức sẽ thay thế các ngành công nghiệp nhà máy chuyên sâu và là động cơ tăng
trưởng mới trong thế giới công nghiệp. Ngành công nghiệp thân thiện với môi
trường sẽ được chăm chút cho ngành công nghiệp trong tương lai. Nâng cao hiệu
quả năng lượng và ngành công nghiệp thân thiện môi trường. Thúc đẩy sản xuất các
sản phẩm sinh thái như xe hơi sinh thái, chất bán dẫn sinh thái và các loại vải sinh
thái để đem thu nhập quốc gia khoảng 30000 USD một năm trong lĩnh vực này.
Về hỗ trợ tài chính:
+ Ngoài ra, chính phủ cũng có kế hoạch hỗ trợ tài chính cho hoạt động nghiên cứu
của công nghiệp xanh với mức đầu tư tăng từ 1.577 triệu USD trong 2012 lên 2.209 triệu
USD vào năm 2013, gia tăng hỗ trợ đảm bảo tín dụng cho các doanh nghiệp.
+ Mô hình thuế xanh và hỗ trợ tài chính chủ động: Hệ thống thuế hiện hành
được sửa đổi và kết hợp với các yếu tố thân thiện hơn, bên cạnh đó chính phủ cũng
hỗ trợ tài chính để thúc đẩy đầu tư vào các ngành công nghiệp xanh. Khuyến khích
chuyển đổi sang tiêu thụ các-bon thấp và các mô hình sản xuất xanh theo nguyên
tắc nếu gây ô nhiễm phải trả tiền theo nguyên tắc nghiêm ngặt, chuyển dịch cơ cấu
giá bao gồm chi phí môi trường và xúc tiến các sản phẩm xanh.

được đưa vào theo dõi trên tài khoản của ngân hàng. MEP đã tạo ra một cơ sở dữ
liệu 10.000 vi phạm môi trường trong các dữ liệu của ngân hàng thương mại.
- Các doanh nghiệp có hành vi vi phạm môi trường nghiêm trọng phải chịu
lệnh cấm xuất khẩu trong 1-3 năm.
b) Năm 2008, MEP đã phát động "chứng khoán xanh " gây khó khăn hơn cho
các doanh nghiệp gây ô nhiễm trong khi huy động vốn và yêu cầu các doanh nghiệp
niêm yết tiết lộ thêm hồ sơ môi trường. Các công ty trong các lĩnh vực nhiệt điện,
thép, xi măng, nhôm, dệt may,… cần được MEP phê duyệt trước khi áp dụng lệnh
bán cổ phẩn niêm yết.
Nguồn OECD, 2009
13
Hộp 1.2: Tích hợp việc bảo vệ môi trường vào hệ thống kinh tế tại Trung Quốc
Trong năm 2008, Trung Quốc đã thông qua Thông tư khuyến khích các sáng
kiến liên quan đến giảm thải, tái sử dụng và tái chế trong sản xuất và tiêu dùng.
Phương pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên tích hợp với sản xuất sạch hơn và
công nghiệp sinh thái thành một hệ thống rộng lớn bao gồm các doanh nghiệp trong
ngành công nghiệp, mạng lưới, hoặc dây chuyền của các công ty, công viên sinh
thái công nghiệp thử nghiệm, và cơ sở hạ tầng khu vực để hỗ trợ sử dụng hiệu quả
nguồn tài nguyên.
Mục tiêu hành động:
- Cấp độ doanh nghiệp: nhà quản trị phải tìm kiếm các giải pháp hiệu quả cao
hơn thông qua việc sản xuất sạch hơn nội tại doanh nghiệp.
- Tái sử dụng, tái chế các nguồn tài nguyên trong các khu công nghiệp và các
ngành công nghiệp thành cụm hoặc chuỗi để cho các nguồn lực có thể lưu hành
trong hệ thống sản xuất địa phương.
- Tích hợp sản xuất và hệ thống tiêu thụ xuyên suốt giữa các ngành công
nghiệp và hệ thống đô thị.
Chính quyền các cấp và các ban liên quan phải có trách nhiệm tổ chức, phối
hợp và điều chỉnh phù hợp với Thông tư.
Nguồn: ekh.unep.org

Tăng đầu tư và chi tiêu trong các lĩnh vực thúc đẩy phát triển công nghiệp
xanh: giao thông, xây dựng, nông nghiệp, cơ khí, dệt may, xử lý chất thải
KẾT LUẬN:
Từ các kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về phát triển Công nghiệp
xanh, Việt Nam, với nỗ lực của chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng; chúng ta
hoàn toàn tin tưởng vào khả năng thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính,
ứng phó với biến đổi khí hậu theo công ước quốc tế trong tương lai. Tuy nhiên, để
lựa chọn các giải pháp theo đuổi tại mỗi quốc gia là khác nhau. Vì vậy, chúng ta cần
có sự phân tích chính sách, lựa chọn và hành động sáng suốt để theo đuổi mục tiêu
công nghiệp xanh, thay đổi mạnh mẽ nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng.
15
1.3. Thực tế phát triển CNX tại Việt Nam
1.3.1 Phát triển công nghiệp theo hướng xanh - Sản xuất sạch hơn
Năm 1998, Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã
giúp Việt Nam thành lập “Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam” tại Viện Khoa học
và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội trong khuôn khổ một
dự án US/VIE/96/063 do Chính phủ Thụy Sỹ tài trợ thông qua UNIDO. Dự án đã
hoàn thành nhiệm vụ phổ biến rộng rãi khái niệm SXSH và xúc tiến việc áp dụng
tiếp cận chủ động phòng ngừa ô nhiễm này vào các doanh nghiệp công nghiệp ở
nước ta. Trung tâm đã triển khai đánh giá SXSH thành công tại trên 300 doanh
nghiệp, mang lại cả lợi ích về kinh tế và môi trường. Đó thực sự là một công cụ
hiệu quả giúp các doanh nghiệp tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Trung tâm
sản xuất sạch Việt Nam đã đào tạo và xây dựng một mạng lưới các chuyên gia làm
nòng cốt tiếp tục đẩy mạnh việc áp dụng SXSH và phát triển dịch vụ này trên cơ sở
kết hợp với các dịch vụ khác về bảo vệ môi trường. Những hoạt động hỗ trợ nghiên
cứu chính sách, phổ biến thông tin đã giúp trung tâm tạo dựng được mối quan hệ
hợp tác và đối tác rộng rãi với các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế có cùng
quan tâm đến phát triển bền vững ở Việt Nam. Các giải pháp SXSH được đưa ra đã
giúp cải thiện đáng kể năng suất và hiệu suất hoạt động của các doanh nghiệp, mặc
khác cũng góp phần đáng kể giảm thiểu mức độ ô nhiễm trong môi trường làm việc

hoạch hành động về sản xuất sạch hơn sẽ đem lại hình ảnh môi trường có lợi về
doanh nghiêpj của bạn tới các nhà cho vay, do đó sẽ tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng
hơn với các nguồn hỗ trợ tài chính.
- Các cơ hội thị trường mới và được cải thiện
Việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề môi trường đã dẫn
đến sự bùng nổ nhu cầu về sản phẩm xanh trên thị trường quốc tế. Chính vì vậy, khi
bạn đã có những nỗ lực nhận thức về sản xuất sạch hơn, bạn sẽ có thể mở ra đựoc
nhiều cơ hội thị trường mới và sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn và
có thể bán ra với giá cao hơn. Các doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn sẽ đáp
ứng các tiêu chuẩn môi trường, ví dụ như ISO14001, hoặc các yêu cầu của thị
17
trường như nhãn sinh thái. Thực hiện đánh giá sản xuất sạch hơn sẽ giúp cho việc
thực hiện hệ thống quản lý môi trường như ISO 14001 dễ dàng hơn.
- Tạo nên hình ảnh công ty tốt hơn
Sản xuất sạch hơn phản ánh và cải thiện hình ảnh chung về doanh nghiệp của
bạn. Không cần phải nhắc lại, một công ty với hình ảnh "xanh" sẽ được cả xã hội và
các cơ quan hữu quan chấp nhận dễ dàng hơn.
- Môi trường làm việc tốt hơn
Việc nhận thức ra tầm quan trọng của một môi trường làm việc sạch và an toàn
đang ngày một gia tăng trong số các công nhân. Bằng cách đảm bảo các điều kiện
làm việc thích hợp thông qua thực hành sản xuất sạch hơn, bạn có thể làm tăng ý
thức của các cán bộ, đồng thời xây dựng ý thức kiểm soát chất thải. Các hoạt động
như vậy sẽ giúp cho doanh nghiệp của bạn đạt được khả năng cạnh tranh.
- Tuân thủ luật môi trường tốt hơn
Các tiêu chuẩn môi trường về phát thải các chất thải (lỏng, rắn, khí) đang trở
nên nagỳ một chặt chẽ hơn. Để đáp ứng được các tiêu này thường yêu cầu việc lắp
đặt các hệ thống kiểm soát ô nhiễm phức tạp và đắt tiền. Sản xuất sạch hơn hỗ trợ
cho việc xử lý các dòng thải, và do đó doanh nghiệp sẽ tuân thủ các tiêu chuẩn thải
một cách dễ dàng, đơn giản và rẻ tiền hơn. Sản xuất sạch hơn dẫn dến việc giảm
chất thải, giảm lượng phát thải và thậm chí giảm cả độc tố theo qui luật vòng tròn.

môi trường được phát triển. Hệ quả là, chưa có nhiều nhà đầu tư sản xuất thiết bị,
công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường. Hai là, hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật về BVMT chưa đầy đủ, chưa đồng bộ; các chế tài xử phạt chưa đủ mạnh để bắt
buộc mọi người dân, tổ chức phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Các
cơ chế, chính sách khuyến khích thì chưa rõ ràng, chưa đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư
vào phát triển công nghiệp môi trường. Nhà nước chưa có định hướng cụ thể để
phát triển lĩnh vực công nghiệp này. Mặt khác, uy tín của các nhà cung cấp công
nghệ, thiết bị và dịch vụ trong nước chưa đủ thuyết phục. Đội ngũ các nhà khoa học
và công nghệ môi trường còn yếu và thiếu, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao,
nhiều kinh nghiệm.
19
1.4. Quy trình và phương pháp đánh giá phát triển CNX ngành dệt may ở
VN
1.4.1 Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách bảo vệ môi
trường và phát triển công nghiệp của Việt Nam
1.4.1.1 Luật và các văn bản dưới luật
Những năm gần đây Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong
việc xây dựng một hệ thống pháp luật môi trường để điều chỉnh các hoạt động về
môi trường. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hệ thống pháp luật cũng vẫn còn
bộc lộ một số hạn chế nhất định.
Bảng 1.1a: Rà soát các văn bản Luật có liên quan đến phát triển CNX
STT Tên văn bản
Nội dung liên quan đến phát triển công nghiệp xanh
theo khái niệm của UNIDO
1 Luật Bảo vệ môi
trường 2005
- Quy định những ưu đãi đối với hoạt động môi trường
(điều 5) như: ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho
các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân
thiện với môi trường.

khích việc chuyển giao vào Việt Nam công nghệ tiên tiến,
công nghệ nguồn và các công nghệ để tạo ra sản phẩm
mới, nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh,
chất lượng sản phẩm, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả
nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, tài nguyên thiên
nhiên.
3 Bộ Luật dân sự
2005
Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm
môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô
nhiễm môi trường không có lỗi. (Điều 624)
4 Luật hóa chất
06/2007/QH ngày
21/ 11/2007
Dự án sản xuất, kinh doanh hóa chất phải sử dụng
công nghệ đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, giảm thiểu
việc sử dụng các hoá chất độc hại và giảm thiểu chất
thải hóa chất.
5 Bộ luật hình
sự năm 2009
Chương XVII Quy định một số tội phạm môi trường:
(i) gây ô nhiễm môi trường (Điều 182), (ii) vi phạm
các quy định về quản lý chất thải nguy hại ( Điều
182a), (iii) Vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố
môi trường để xảy ra sự cố môi trường hoặc vi phạm
quy định về ứng phó sự cố môi trường làm môi
trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả
nghiêm trọng khác (Điều 182b)
- Thành tựu đạt được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status