LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Bích Thuỷ
MỤC LỤC
Năm học 38
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NSNN : Ngân sách Nhà nước
HCSN : Hành chính sự nghiệp
SNCL : Sự nghiệp công lập
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
TSCĐ : Tài sản cố định
TK : Tài khoản
CBVC : Cán bộ viên chức
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG
Năm học 38
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục học thế giới đang có những bước chuyển mạnh mẽ đặc biệt là
giáo dục đại học. Việt Nam cũng không năm ngoài quy luật đó. Đổi mới giáo
dục đại học ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết đảm bảo nguồn nhân lực chất
lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một trong những yếu tố để các trường đại học có thể đứng vững và phát triển
là phải có nền tài chính đủ mạnh và phải tự chủ về tài chính. Vấn đề đặt ra
cho các trường đại học là làm sao tăng thêm nguồn thu, quản lý chi tiêu sử
dụng như thế nào cho hiệu quả nhất, nói cách khác nếu ngành giáo dục biết sử
dụng “ đồng tiền “ hợp lý – sẽ là một trong những giải pháp quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng giáo dục.
lượng đào tạo.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn.
Nghiên cứu và phân tích thực trạng tổ chức công tác kế toán tại trong
giai đoạn hiện nay.
Đề xuất những phương hướng các giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài
chính tại Trường Đại học Công đoàn Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận
về quản lý tài chính và tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp và thực
trạng tại Trường Đại học Công đoàn Việt Nam .từ đó đưa ra những phương
hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nhằm nâng cao tính tự
chủ về tài chính cho đơn vị
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực tế cơ chế
tự chủ tài chính tại Trường Đại học Công đoàn Việt Nam
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đã trình bày hệ thống và toàn diện về công tác quản lý tài
chính và tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp.
- Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính
và tổ chức công tác kế toán tại thấy được những ưu điểm và những mặt còn
tồn tại cũng như những nguyên nhân dẫn đến kết quả đó, từ đó đưa ra những
giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán nhằm phát huy hơn nữa
tính tự chủ tài chính tại Trường Đại học Công đoàn Việt Nam .
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, trang mục lục và danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục biểu, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán theo mô hình
tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán theo mô hình tự
chủ tài chính tại Trường đại học Công đoàn Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
1
trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không
vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước tổ chức,
duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm,
dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong
việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng
khi can thiệp vào thị trường. Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực
kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo
nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu
quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe văn háo,
tinh thần của nhân dân.
Sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ích chung có
tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị
tinh thần.
Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị
về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội…
Đây là những sản phẩm vô hình và có thể sung chung cho nhiều người, cho
nhiều đối tượng trên phạm vi rộng, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị
SNCL là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc
một lĩnh vực mà những sản phẩm đó khi tiêu dung thường có tác dụng lan
toả, truyền tiếp.
Mặt khác sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu tạo ra các”
hang hoá công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc
gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội.
Việc sử dụng những “ hàng hoá công cộng” do hoạt động sự nghiệp tạo
ra làm cho quá tình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt
hiệu quả cao.Hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem
lại tri thức và đảm bảo sức khoẻ cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao
2
động có chất lượng ngày càng tốt hơn. Hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hoá,
c. Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, kinh
phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ (gọi tắt là
đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động): là
những đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ
10% trở xuống và những đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu.
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp như trên được ổn định trong thời gian 3
năm, sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.
Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay
đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem
xét điều chỉnh phân loại lại cho phù hợp.
Cách xác định để phân loại đơn vị SNCL :
Mức tự bảo đảm chi phí
hoạt động thường xuyên
của đơn vị %
=
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
x 100 %
Tổng số chi hoạt động thường xuyên
• Nếu phân loại căn cứ vào lĩnh vực hoạt động thì đơn vị SNCL bao gồm:
* Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
* Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế.
* Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa thông tin.
* Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thể dục thể thao.
* Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực khoa học công nghệ, môi trường.
*Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực kinh tế.
* Đơn vị sự nghiệp khác.
Riêng trong lĩnh vực GD & ĐT, các đơn vị SNCL nhận các loại hình
- Cơ sở giáo dục mầm non.
- Các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
4
dung các nguồn tài chính.
Trong đơn vị sự nghiệp, Nhà nước là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý
là tài chính đơn vị sự nghiệp. Tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm các hoạt
động và quan hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước
trong lĩnh vực sự nghiệp. Là chủ thể quản lý Nhà nước có thể sử dụng tổng
thể các phương pháp, các hình thức và công cụ để quản lý hoạt động tài chính
của các đơn vị sự nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định.
Theo thông tư số 71/2006 /TT- BTC ngày 09/08/ 2006 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện nghị định 43 /2006/N Đ –CP ngày 25/4/2006 của Chính
phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập,công tác
quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâu công việc :
Thứ nhất : Lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước trong phạm vi được
cấp có thẩm quyền giao hàng năm.
Thứ hai: Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế
độ, chính sách của Nhà nước.
Thứ ba: Quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước.
Nội dung chi tiết ba khâu công việc như sau:
- Lập dự toán thu, chi NSNN trong phạm vị được cấp có thẩm quyền
giao hàng năm : Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền
giao, nhiệm vụ của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính ;căn cứ kết quả
hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề ;các
đơn vị sự nghiệp lập dự toán thu, chi năm kế hoạch;xác định số kinh phí đề
nghị NSNN bảo đảm hoạt động thường xuyên; lập dự toán kinh phí chi không
thường xuyên.
6
- Tổ chức chấp hành dự toán thu,chi tài chính hàng năm theo chế độ,
chính sách của Nhà nước: Đơn vị sự nghiệp sẽ được đơn vị chủ quản quyết
định giao dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách
(2) Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ( đối với các
đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);
(3) Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
(4) Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
(5) Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền đặt hàng ( điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);
(6) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
(7) Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà
nước quy định ( nếu có);
(8) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa
chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có
thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
(9) Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp
có thẩm quyền phê duyệt;
(10) Kinh phí khác ( nếu có)
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, bao gồm:
(1) Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy
định của Nhà nước;
(2) Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả
năng của đơn vị, cụ thể :
+ Sự nghiệp Giáo dục và đào tạo : Thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ
chức trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm…
+ Sự nghiệp Y tế, đảm bảo xã hội : Thu từ các hoạt động dịch vụ về
khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y tế dự phòng…
8
+ Sự nghiệp văn hoá, thông tin : Thu từ bán vé xem phim, các hợp đồng
biểu diễn, thu các hoạt động đăng, phát quảng cáo trên báo, tạp chí, phát
thanh truyền hình…
+ Sự nghiệp thể dục thể thao: Thu từ hoạt động dịch vụ sân bãi, quảng cáo
+ Sự nghiệp kinh tế: Thu tư vấn, thiết kế, quy hoạch, dịch vụ thuỷ lợi,
- Chi cho các hoạt động dịch vụ; gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản
phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí
công đoàn theo quy định hiện hành, nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua
ngoài; khấu hao tài sản cố định ; sửa chữa tài sản cố định, chi trả lãi tiền vay,
lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức; chi các khoản thuế
phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác ( nếu có)
b, Chi không thường xuyên
- Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
- Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
- Chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng ( điều tra, quy
hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo khung giá do Nhà nước quy định;
- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định
- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Chi thực hiện tinh giản biên chế the chế độ Nhà nước quy định;
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài
sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài, các hoạt
động liên doanh, liên kết; Các khoản chi khác theo quy định ( nếu có)
10
1.3 Tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo mô
hình đơn vị tự chủ tài chính
1.3.1. Bản chất, yêu cầu, nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong các
đơn vị sự nghiệp công lập.
1.3.1.1 Bản chất tổ chức công tác kế toán
Tổ chức công tác kế toán được hiểu là việc tổ chức các phương pháp kế
toán và tổ chức nhân sự kế toán theo từng phần hành kế toán cụ thể của một
đơn vị cụ thể trên cơ sở thực hiện đầy đủ các nguyên tắc,phương pháp của kế
toán nói riêng và các nguyên tắc tổ chức công tác kế toán nói chung trong đơn
vị nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các hoạt động kinh tế, tài
cơ bản sau:
- Tổ chức công tác kế toán theo đúng quy định của Luật kế toán, các văn bản
hướng dẫn Luật cho đơn vị kế toán Nhà nước và chế độ kế toán đơn vị HCSN
- Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm hoạt động, chức
năng nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp, phù hợp với quy mô,địa bàn hoạt
động của đơn vị nhằm thực hiện tốt yêu cầu quản lý của đơn vị.
- Tổ chức công tác kế toán phù hợp với trình độ chuyên môn nghiệp vị
của cán bộ làm công tác kế toán, trình độ, trang bị, công nghệ và kỹ thuật tính
toán và xử lý thông tin của đơn vị.
- Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, tài liệu,
thông tin kế toán phải đầy đủ, chính xác, kịp thời, có những bằng chứng tin
cậy, các chứng từ ghi sổ kế toán phải hợp pháp, hợp lệ.
- Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, thiết thực
và có hiệu quả.
1.3.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Tổ chức công tác kế toán là tổ chức thực hiện các công tác hạch toán ban
đầu, phân loại, tổng hợp bằng các phương pháp kế toán đúng với nguyên tắc,
12
chế độ thể lệ kế toán do Nhà nước ban hành phù hợp với đặc điểm, điều kiện
của đơn vị.
Tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp là tổ chức thu nhận, hệ
thống hoá và cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình sử dụng tài sản kinh phí
của đơn vị nhằm phục vụ công tác quản lý và công tác nghiệp vụ ở đơn vị đó.
Nội dung tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp bao gồm:
Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống tài khoản kế toán, tổ
chức sổ kế toán, tổ chức hệ thống báo cáo tài chính, tổ chức công tác kiểm tra
kế toán, tổ chức kiểm kê tài sản và tổ chức lưu trữ hồ sơ tài liệu kế toán.
1.3.2.1 Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu
Một trong những đặc trưng cơ bản của kế toán là giá trị pháp lý, tính
trung thực, khách quan của số liệu mà kế toán ghi nhận và cung cấp.Cơ sở
dẫn, các chỉ tiêu cơ bản, đặc trưng trên cơ sở đó các đơn vị lựa chọn vận dụng
vào điều kiện cụ thể mà có thể thêm, bớt hoặc thay đổi mẫu biểu, tuỳ thuộc
vào đặc điểm tình hình, yêu cầu quản lý cụ thể của từng đơn vị để xây dựng
những chứng từ nội bộ, phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý của đơn vị.
-Hệ thống chứng từ kế toán áp dụng cho các đơn vị SNCL hiện nay
được thực hiện theo Quyết định số 19/2006 /QĐ – BTC ngày 30/3/2006 của
Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán HCSN và các văn
bản pháp quy khác hiện hành. ( Phụ lục số 01)
- Nội dung các chứng từ kế toán theo quy định tại điều 17 của Luật kế
toán phải đảm bảo các nội dung sau:
(1) Tên và số hiệu của chứng từ kế toán.
(2) Ngày, tháng, năm của chứng từ
14
(3) Tên địa chỉ của đơn vị hoặc cá hân lập chứng từ kế toán.
(4) Tên, địa chỉ, đơn vị, cá nhân nhận chứng từ
(5) Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
(6) Số lượng, đơn giá, số tiền của nghiệp vụ kinh tế tài chính ghi bằng
số, bằng chữ, tổng số tiền của chừng từ kế toán dùng để thu, chi
(7) Chữ ký, họ tên người lập, người duyệt và những người có liên quan
đến chứng từ kế toán. Đóng dấu đơn vị với những chứng từ giao bên ngoài.
Trong trường hợp đơn vị sử dụng phần mềm kế toán, các chứng từ kế
toán phải được phân loại và mã hóa theo từng nội dung công tác kế toán có
liên quan Ngoài những mấu chứng từ kế toán bắt buộc theo quy định của Nhà
nước các đơn vị có thể tự thiết kế mẫu biểu chứng từ cho phù hợp với công
việc ghi chép và yêu cầu quản lý của đơn vị.
Tại các đơn vị SNCL, kế toán trưởng, trưởng phòng tài chính kế toán hay
phụ trách kế toán là người chịu trách nhiệm chính trước thủ trưởng đơn vị
cũng như trước Nhà nước về tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ kế toán vì thế
kế toán trưởng cần phải căn cứ vào tình hình cụ thể để tổ chức bộ máy kế toán
của đơn vị, bố trí phân công theo từng phần hành kế toán, tổ chức vận dụng
Bước 3: Phân loại, sắp xếp chứng từ ghi sổ kế toán.
Chứng từ sau khi kế toán kiểm tra cần được định khoản và phân loại theo
từng loại nghiệp vụ, theo tính chất của khoản chi phí, theo từng địa điểm phát
sinh phù hợp với yêu cầu ghi sổ sách của kế toán đơn vị.
Bước 4: Bảo quản chứng từ kế toán
Trong và sau khi hạch toán chứng từ luôn được bảo quản cẩn thận, nếu mất
chứng từ gốc phải báo cáo thủ trưởng đơn vị để có biện pháp xử lý kịp thời.
16
Bước 5: Chuyển chứng từ vào lưu trữ và hủy chứng từ
Chứng từ là căn cứ pháp lý để ghi sổ, đồng thời là tài liệu lịch sử của đơn
vị, vì thế sau khi ghi sổ và kết thúc kỳ hạch toán, chứng từ được chuyển sang
lưu trữ, bảo đảm an toàn,chứng từ không bị mất thì cần có thể tìm thấy nhanh
chóng, khi hết thời hạn lưu trữ chứng từ có thể được đem hủy
Tổ chức chứng từ là thiết lập các công việc, thủ tục cần thiết
1.3.2.2 Tổ chức hệ thống tài khoản( TK) kế toán
Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống
hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế và theo
trình tự thời gian. Tài khoản kế toán phản ánh và kiểm soát thường xuyên,
liên tục, có hệ thống tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí do
ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác, tình hình thu, chi hoạt
động kết quả hoạt động và các khoản khác ở các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Tài khoản kế toán được mở cho từng đối tượng kế toán có nội dung kinh tế
riêng biệt. Toàn bộ các tài khoản kế toán sử dụng trong đơn vị kế toán hình
thành hệ thống tài khoản kế toán. Bộ tài chính quy định thống nhất hệ thống tài
khoản kế toán áp dụng cho tất cả các đơn vị hành chính sự nghiệp trong cả nước.
Hệ thống tài khoản áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp do Bộ
tài chính quy định thống nhất về loại tài khoản, số lượng tài khoản, ký hiệu,
tên gọi và nội dung ghi chép của từng tài khoản.
Hệ thống tài khoản kế toán hành chính sự nghiệp được xây dựng theo
nguyên tắc dựa vào bản chất và nội dung của đơn vị hành chính sự nghiệp có
được quy định theo chế độ kế toán HCSN (Ban hành theo Quyết định số
19/2006/ Q Đ –BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính) gồm 7 loại,
từ Loại 1 đến Loại 6 là các tài khoản trong Bảng cân đối tài khoản và Loại O
là các tài khoản ngoài Bảng cân đối tài khoản.
18