Số phân loại: __________ Ký mã hiệu trường học: 10585
Mật cấp: ______________ Học
hiệu:105852008400017
Luận văn học vị thạc sỹ Học viện Thể dục thể thao
Quảng Châu
Đề tài luận văn
PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC THỂ CHẤT TẠI HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Nghiên cứu sinh : Nguyễn Thanh Nam
Giáo viên hướng dẫn (Trung Quốc) : Giáo sư Lương Lợi Dân
Giáo viên hướng dẫn (Việt Nam) : Giáo sư Nguyễn Đại Dương
Tháng 5 năm 2010
Dissertation Submitted to Guangzhou Sport University
for Master Degree
Methods of Improving Physical Education
Quality in Banking Institute
Master Candidate: Ruan Qing-nan
Chinese Supervisor: Liang Li-min
Viet Nam Supervisor: Ruan Dai-yang
May, 2010
Tuyên thệ ủy quyền sử dụng luận văn
Học viện Thể dục thể thao Quảng Châu- Trung Quốc
Tôi hoàn toàn hiểu rõ những quy định có liên quan đến việc sử dụng và
lưu giữ luận văn của Học viện như sau:
Các tài liệu kiến thức được nghiên cứu sinh sử dụng trong quá trình làm
luận văn tại Học viện thuộc quyền sở hữu của Học viện Thể dục Thể thao
Quảng Châu. Trong phạm vi quy định của pháp quyền, Học viện Thể dục Thể
thao Quảng Châu có quyền sử dụng luận đó văn như sau:
1. Các nghiên cứu sinh sau khi nhận được học hàm thạc sỹ bắt buộc phải
nộp luận văn theo quy định của Học viện. Học viện có thể dùng các biện pháp
sâu sắc tới thầy chỉ đạo, GS Lương Lợi Dân (Lieng Li Min)
Giáo sư Lieng Li Min có thái độ làm việc nghiêm khắc, tác phong công
việc nghiêm túc đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn thật
không giám phụ công thầy. Gần 2 năm qua GS Lương Lợi Dân (Lieng Li
Min) đã dành nhiều thời gian, tâm huyết chỉ đạo tôi học tập và nghiên cứu,
không chỉ nâng cao điều kiện học tập nghiên cứu mà quan trọng hơn là học
được nhưng tư duy trong khoa học kiến tôi phải khắc cốt ghi tâm.
Với lòng nhiệt tình và đạo đức nghề nghiệp Giáo sư Lương Lợi Dân
(Lieng Li Min) đã chỉ đạo dạy bảo tôi trong suốt quá trình học tập, quan tâm
và giúp đỡ tôi trong cuộc sống giúp cho tôi đạt được rất nhiều điều bổ ích.
Tác phong nghiên cứu và chỉ đạo của hai thầy tôi sẽ không bao giờ quên.
Nhân đây tôi muốn được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sức tới hai thầy.
Tôi rất biết ơn các thầy cô ở Học viện TDTT Quảng Châu- Trung Quốc,
ĐH TDTT Bắc Ninh- Việt Nam cùng toàn thể các quý thầy cô, bạn học đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Cuối cùng tôi cảm ơn gia đình, bạn bè người thân đã luôn bên cạnh động
viên quan tâm tôi trong thời gian qua.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
KẾT QUẢ 45
Các mức độ 49
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Các chữ viết tắt Xin đọc là
ĐTB Điểm trung bình
ĐLC Độ lệch chuẩn
GDTC Giáo dục thể chất
NTN Nhóm thực nghiệm
NĐC Nhóm đối chứng
TDTT Thể dục thể thao
giác ngộ chính trị cao, trình độ chuyên môn vững vàng, mà phải có thể chất
phát triển. GDTC trong trường học là thực hiện mục tiêu phát triển thể chất
cho học sinh, sinh viên góp phần vào việc đào tạo con người phát triển toàn
diện.
Song, thực trạng GDTC trong các trường Đại học còn bộc lộ nhiều khó
khăn và tồn tại. Mặc dù GDTC từ lâu đã trở thành môn học chính thức, bắt
buộc trong chương trình các cấp học, ngành học, nhưng cho đến nay vẫn còn
bị coi nhẹ. Nội dung, chương trình môn học chưa hợp lý, chưa phù hợp và
đáp ứng yêu cầu của tuổi trẻ học đường, cơ sở vật chất, dụng cụ và sân bãi
còn nghèo nàn và thiếu thốn, đội ngũ cán bộ giáo viên còn thiếu về số lượng
và yếu về chất lượng.
Nâng cao chất lượng GDTC trong trường học là một trong những hoạt
động đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm
chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho sinh viên góp phần đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. TDTT trường học là môi trường
thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho
đất nước. Phát triển giáo dục TDTT trường học theo hướng đổi mới và nâng
cao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt động
1
ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân
thể đối với người học.
Học viện Ngân hàng tiền thân là trường Cao đẳng Ngân hàng, sau đó
chuyển thành trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng chuyên đào tạo nghiệp vụ
cho các cán bộ đang công tác trong ngành ngân hàng. Bộ môn Giáo dục thể
chất truớc đây đã giải thể, sân bãi dụng cụ bỏ hoang, không sử dụng được.
Năm 1998 Bộ giáo dục và Đào tạo kí quyết định trở thành Học viện Ngân
hàng, tuyển sinh và đào tạo từ hệ trung cấp đến cao học trên toàn quốc. Từ đó
đến nay quy mô tuyển sinh và đào tạo không ngừng đuợc nâng cao, trong khi
cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên không phát triển kịp. Vì vậy, công tác giảng
dạy các môn học nói chung và môn GDTC nói riêng tại HVNH gặp rất nhiều
2
- Công tác GDTC tại Học viện Ngân hàng còn nhiều hạn chế là do một
số nguyên nhân chủ quan và khách quan mang lại.
- Có thể nâng cao chất lượng GDTC tại HVNH thông qua một số biện
pháp tác động tích cực như đổi mới phương pháp giảng dạy, nhận thức, thái
độ, động cơ học tập của sinh viên và trang bị điều kiện giảng dạy, tập luyện
phù hợp.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận, xác định những khái niệm công cụ liên quan
đến vấn đề nghiên cứu như: chất lượng, giáo dục, GDTC, chất lượng GDTC.
- Xác định thực trạng GDTC tại HVNH
- Đề xuất và làm rõ tính khả thi của một số biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng GDTC cho sinh viên HVNH
7. Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài tập chung làm rõ một số nội dung
cơ bản sau:
+ Khảo sát thực trạng công tác GDTC tại HVNH trên các mặt: Phương
pháp giảng dạy của giảng viên; nhận thức, thái độ, động cơ học tập của sinh
viên và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho môn học TDTT.
+ Xác định nguyên nhân của thực trạng trên
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTC tại
HVNH trong thời gian tới.
- Về địa bàn nghiên cứu
+ Nghiên cứu công tác GDTC tại HVNH
- Về khách thể nghiên cứu
+ 272 sinh viên đang học GDTC tại HVNH
+ Toàn thể giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại Bộ môn giáo dục thể
chất - HVNH.
8. Phương pháp nghiên cứu
được đề xuất bởi các học giả như: Felshin (1967) và Zeigler (1968) [30, tr.69].
- Trong những năm 70 của các học được đại diện bởi: Felshin (1972),
Seidel và Resick (1972), Siedentop (1972), Vanderzwaag (1972), Nixon và
Jewett (1974), Zeigler (1975) nghiên cứu GDTC và coi đó như hoạt động
chuyển động của con người. Thực tế là “chuyển động của con người” là một
cụm từ quan trọng trong định nghĩa của GDTC có thể được giải thích bởi các
trường hợp cụ thể, trong đó GDTC đã có để xác nhận tình trạng của nó như
là một ngành học quan trọng ở Mỹ[30,tr 68].
- Những năm 80 trở lại đây, việc nghiên cứu GDTC ở nước ngoài chủ
yếu tập trung vào việc nâng cao chất lượng GDTC trong trường học và các
nhà khoa học cố gắng tìm các giải pháp nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy
các môn học này cũng như xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC
cho phù hợp với hoạt động giảng dạy GDTC trong các trường Đại học như:
Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp
1.1.2. Nghiên cứu chất lượng giáo dục thể chất ở trong nước
Trong nền kinh tế hội nhập, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao, phát triển toàn diện đáp ứng đòi hỏi của xã hội được rất nhiều nhà khoa
học giáo dục quan tâm, nghiên cứu. Vĩ lẽ đó, nghiên cứu và đưa ra các giải
pháp nâng cao chất lượng GDTC ở Việt Nam cũng thu hút được rất nhiều nhà
khoa học, nhà giáo dục học nghiên cứu. Tuy nhiên, mỗi tác giả nghiên cứu và
đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng GDTC trên những bình diện khác nhau
và khác nhau về khách thể nghiên cứu.
Với đặc thù rất khác biệt của môn học GDTC, cho nên, mỗi giải pháp
của một nhà nghiên cứu chỉ phù hợp với đặc điểm của khách thể nghiên cứu
4
mà thôi. Vì thế, đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng GDTC tại
HVNH không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các đề tài trước. Hiện nay,
cũng chưa có công trình nào nghiên cứu và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng GDTC tại HVNH.
1.1.2.1.Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục- Đào tạo về công
khắc phục thực trạng giảm sút sức khoẻ thể lực của học sinh, sinh viên hiện
nay, hai ngành GD-ĐT và TDTT đã thống nhất những nội dung, biện pháp và
hợp đồng trách nhiệm chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTC
của học sinh, sinh viên: "hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu,
cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ, bồi dưỡng năng khiếu thể thao
5
học sinh, sinh viên kiến nghị với nhà nước phê duyệt thành chương trình
quốc gia và được đầu tư kinh phí thích đáng". [49]
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng giáo dục
thể chất
Nâng cao chất luợng GDTC trong trường học là một trong những vấn
đề được nhiều tác giả trong nước quan tâm. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày
theo các hướng nghiên cứu sau:
* Hướng nghiên cứu nhằm xây dựng nội dung, chương trình, giáo trình
tài liệu giảng dạy và nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất
Một số tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng việc giảng dạy GDTC trong
trường học như: Lê văn Lẫm (1997), Ngô văn Tôn (2000), Nguyễn Trọng
Vượng (2001), Phan Sinh (2003), Hồ Thị Thái (2005) Các tác giả cũng chỉ
rõ, muốn nâng cao chất lượng GDTC trong trường học đòi hỏi được sự quan
tâm của các cấp liên quan, từ việc kiện toàn tổ chức bộ máy thực hiện đến
việc hoàn thiện nội dung chương trình giảng dạy, điều kiện cơ sở vật chất cho
sinh viện học tập và luyện tập các giờ ngoại khóa.
* Hướng nghiên cứu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giáo dục
thể chất
Nghị quyết của hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung ương Đảng đã
chỉ rõ: “Để đảm bảo chất lượng của GD-ĐT, phải giải quyết tốt vấn đề thầy
giáo, kế thừa và phát triển truyền thống sư phạm, đào tạo và đào tạo mới một
đội ngũ giáo viên giỏi, có trách nhiệm, lương tâm, có lòng tự hào về nghề
nghiệp. Đó là điều quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục” [18].
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng xác định: “Khâu then
lượng GDTC ở các cấp học. Các tác giả Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu và các
cộng sự (1993) đã tiến hành nghiên cứu “Cải tiến công tác GDTC trong nhà
trường các cấp đến năm 2000”[39, tr. 4- 7]. Các tác giả đã xác định được cơ
sở lý luận, quan điểm chỉ đạo và mục tiêu chủ yếu của công tác GDTC trong
nhà trường các cấp cũng như chỉ ra mục tiêu quan trọng cần nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo trong các trường học ở các cấp học.
Các tác giả: Đặng Đức Thao, Nguyễn Trương Tuấn, Phan Đức Phú
nghiên cứu “Một số nét về công tác đào tạo giáo viên thể dục ngành giáo dục
từ 1956 đến nay”. Công trình nghiên cứu khá quy mô, tổng kết, đánh giá quá
trình đào tạo giáo viên của ngành TDTT cũng như dự báo nhu cầu đào tạo và
sử dụng giáo viên TDTT từ 1993 - 2000[23].
Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu “Nghiên cứu xác định cơ chế chính sách
và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quy hoạch công tác TDTT ngành giáo
dục và đào tạo từ năm 1998 - 2000 và định hướng đến năm 2005”[39]. Các
tác giả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp củng cố và phát triển các tổ
chức sự nghiệp về GDTC, biện pháp nâng cao trình độ quản lý, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, ý chí của đội ngũ cán bộ giáo
viên TDTT trong trường học.
Vũ Đức Thu và cộng sự “Nghiên cứu định hướng và giải pháp đào tạo
bồi dường đội ngũ cán bô, giáo viên TDTT trường học”. Đây là đề tài có quy
mô rất lớn khảo sát thực trạng nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng giáo viên TDTT
tại 21.000 trường phổ thông các cấp, 53 Sở GD- ĐT các tỉnh thành, 532/596
trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước. Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra một số nguyên nhân yếu kém của đội ngũ giáo viên
TDTT. Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm xây
dựng định biên, định chuẩn giáo viên, quy hoạch hệ thống các cơ sở đào tạo
giáo viên TDTT, nghiên cứu công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giáo viên
TDTT trong nhà trường các cấp[39].
7
Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên giảng dạy TDTT còn có rất nhiều tác giả
(2006); Nguyễn Hạc Thúy (1997); Nguyễn Hạc Thúy, Nguyễn Qúy Bình
(2000); Nguyễn Toán (2002); Trần Văn Vinh (2002); Quang Hưng
(2004) tập trung nghiên cứu các giáo trình về đo lường thể thao; Lý luận và
phương pháp TDTT; Huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật Cầu lông hiện đại; Cẩm
nang tư vấn tâm lý thể thao; Phương pháp tổ chức thi đấu và trọng tài cầu lông;
Bài tập chuyên môn trong điền kinh Hầu hết các tác giả đều cố gắng đưa ra các
phương pháp luyện tập các môn TDTT với mục đích giúp người dạy và người
học nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn GDTC.
* Hướng nghiên cứu đánh giá chung thực trạng công tác GDTC trong
trường học và đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng GDTC
8
Các tác giả: Nguyễn Thị Đào (2002), Nguyễn Thị Thu Phương (2006),
Nguyễn Văn Thảo (2006), Đỗ Hải Phong (2007), Vũ Văn Đức (2007), Trần
Minh Hằng (2009) nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng GDTC trong trường học ở các địa bàn nghiên cứu khác nhau như: Phú
Thọ, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Nội Các công trình nghiên cứu
kể trên đều nghiên cứu thực trạng từ các cơ sở đào tạo và đánh giá thực trạng
hoạt động giảng dạy GDTC của các trường cũng như chỉ ra một số yếu tố ảnh
hưởng đến thực trạng trên. Phần lớn các tác giả chỉ ra các hạn chế rất dễ nhận
thấy đó là: Tính bất cập của nội dung, chương trình GDTC; Điều kiện cơ sở
vật chất chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo; số lượng và trình độ giáo viên chuyên
trách giảng dạy GDTC; tính bất hợp lý của hoạt động luyện tập thể thao ngoại
khóa Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đề xuất các giải pháp phù hợp với
khách thể nghiên cứu.
Đặc biệt phải kể đến công trình nghiên cứu “Thực trạng thể chất người
Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi” do Viện Khoa học TDTT chủ trì. Đây cũng là một
trong những công trình có quy mô lớn tiến hành điều tra thể chất người Việt
Nam từ 6 đến 20 tuổi. Mẫu nghiên cứu được thực hiện ở 16 tỉnh thành với
44,400 người tham dự điều tra. Kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng thể
chất người Việt Nam độ tuổi từ 6 đến 20 trong thời điểm đề tài nghiên cứu.
sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”[33, tr.14].
Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được
phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó[35]. Quan niệm này
đã đồng nghĩa chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của
sản phẩm. Tuy nhiên, sản phẩm có nhiều thuộc tính hữu ích chưa chắc đã
được người tiêu dùng đánh giá cao (ví dụ quạt tích điện của Trung Quốc có 3
chức năng quạt, đèn, rađio )
Quan niệm của các nhà sản xuất thì: “Chất lượng sản phẩm là tổng
hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn các
yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”[35]. Như
vậy, theo quan niệm này thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một
sản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó với một tập hợp các yêu cầu, tiêu chuẩn,
quy cách đã được xác định trước.
Theo tính cạnh tranh của sản phẩm: là thuộc tính mang lại lợi thế
cạnh tranh của sản phẩm đó, giúp phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩm
cùng loại khác[35]
Như vậy, có thể thấy có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản
phẩm tuỳ theo góc độ tiếp cận, chính vì vậy để giúp cho hoạt động quản lý
chất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, tổ chức quốc tế
về tiêu chuẩn hoá (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã đưa ra khái niệm
chất lượng:
“ Chất lượng là mức độ thoả mãn của một tập hợp các thuộc tính (đặc tính)
đối với các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Theo cỏch hiểu
này, một sản phẩm (dịch vụ) có chất lượng khi sản phẩm (dịch vụ) đó có các
thuộc tính thoả mãn được các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên
quan.
* Quan điểm coi chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu
Theo International Network for Quanlity Assurance Agencies: “Chất
lượng là sự phù hợp với mục đích” (Quality as Fitness for Purpose)[33, tr.15].
Quan điểm này đã chỉ rõ, bất cứ một sản phẩm, dịch vụ nào được coi là có
hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người
học
theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người
học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu
cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại. Giáo dục
bao gồm việc dạy
và học
, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trình
truyền thụ, phổ biến tri thức
, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự
hiểu biết. Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa
từ thế
hệ này đến thế hệ khác. Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra
khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của
mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục
, một phương pháp nghiên
cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần,
làm chủ được các mặt như: Ngôn ngữ
, tâm lý
, tình cảm
, tâm thần
Từ những phân tích trên, chúng tôi xin đề xuất khái niệm “giáo dục” như sau:
Giáo dục là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích nhằm
khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và
người học theo hướng tích cực, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển.
1.2.3. Khái niệm giáo dục thể chất
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới: GDTC là việc hướng dẫn
thực hành các động tác nhằm phát triển và duy trì sức khỏe thể chất và sức
khỏe toàn diện. Điều này có được nhờ việc rèn luyện các động tác thể dục.
Tập luyện thường xuyên là yếu tố rất quan trọng giúp ngăn ngừa bệnh tật,
ngăn ngừa các "bệnh người giàu" như ung thư, bệnh tim, bệnh mạch vành,
tiểu đường…
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã
hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật.
Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù
thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế -
xã hội nào. Sức khỏe bao gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. Để có
sức khỏe thể chất cần tập luyện và chế độ dinh dưỡng tốt.
Một số quan điểm cho rằng GDTC chính là giáo dục sức khỏe (Health
Education): Giáo dục sức khỏe cũng giống như GDTC đó là quá trình tác
động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người. Phát triển
12
những thực hành lành mạnh mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được
cho con người.
Như vậy, theo cách hiểu này GDTC là cung cấp các kiến thức mới làm
cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ
đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia
đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, nhằm hay đổi tích cực giải quyết các
vấn đề bệnh tật sức khỏe. Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnh
đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là:
Kiến thức của con người về sức khỏe
GDTC như là một nền giáo dục thông qua các hoạt động thể chất cho sự phát
triển con người và hoàn thiện cơ thể, tâm trí và tinh thần [60].
13
Từ những phân tích trên, chúng tôi xác định khái niệm GDTC như sau:
Giáo dục thể chất là quá trình tổ chức có ý thức nhằm biến đổi nhận
thức, năng lực thể chất, tình cảm, thái độ, nhân cách của người học theo
hướng tích cực, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển.
1.2.4. Chất lượng giáo dục thể chất
Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học trên thế giới thể
hiện qua hệ thống quốc tế của các cơ quan bảo đảm chất lượng giáo dục đại
học (INQAAHE) được thành lập năm 1991 đồng ý rằng một trường đại học
chỉ có chất lượng khi mọi hoạt động trong trường đều đạt tiêu chuẩn, nghĩa là
từ mọi cấp quản lý trong trường, mọi hệ đào tạo (chính quy, tại chức, chuyên
tu ), mọi chương trình đào tạo (ngoại ngữ, các lớp ngắn hạn, cao đẳng, đại
học, trên đại học), mọi loại thu chi, mọi chương trình nghiên cứu và phát triển
(cấp trường, cấp bộ, cấp quốc gia, cấp quốc tế), đến các dịch vụ sinh viên,
dịch vụ cộng đồng, các hợp đồng tư vấn…đều đạt tiêu chuẩn về chất lượng.
Nếu hiểu về chất lượng như thế thì Việt Nam chưa có trường đại học nào có
thể nói là đã đạt được chất lượng.
Chất lượng GDTC không nằm ngoài quy luật trên, luôn là một trong
những vấn đề quan trọng được xã hội quan tâm bởi lẽ nó phản ánh giá trị thực
của một nền giáo dục toàn diện. Khi nước ta bước vào đổi mới, Đảng đã đề ra
mục tiêu xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, cùng với thế giới, chúng ta đang từng bước xây dựng một nền kinh
tế tri thức tuân theo sự điều tiết bởi cơ chế thị trường. Đào tạo đại học trở
thành một ngành sản xuất đặc biệt - “sản xuất nguồn nhân lực” và cũng phải
tuân theo quy luật cạnh tranh của kinh tế thị trường. Do đó giáo dục đại học
không chỉ cần có chất lượng cao, cung cấp kiến thức nghiệp vụ mà còn phải
có hiệu quả và hiệu suất cao trên mọi mặt, GDTC không nằm ngoài quy luật
cạnh tranh đó. Giáo dục đại học là một loại hình sản xuất đặc biệt vì sản xuất
trường học
1.3.1. Quan điểm về đánh giá chất lượng giáo dục thể chất
Theo Đặng Bá Lẫm và cộng sự: "Đánh giá chất lượng giáo dục là một
công việc được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của người
học đối với các mục tiêu dạy học hay đào tạo đã đặt ra. Nó có thể bao gồm sự
mô tả liệt kê định lượng hay định tính các kết quả đó kèm theo nhận xét khi
đem đối chiếu, so sánh chúng với mong muốn đã đặt ra"[16].
Các tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc (1995) cũng chỉ ra
rằng: “Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lý
thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương
trình, phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của trường
và của ngành giáo dục”. Quan điểm này nghiêng về ý nghĩa của quá trình
đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học nhằm hướng đến mục tiêu hoàn thiện
chương trình, phương pháp của trường và của ngành. Trong quá trình nghiên
cứu, các tác giả cũng phân biệt hai khái niệm “đánh giá chất lượng và hiệu
quả dạy học” và “đánh giá kết quả học tập”. Theo đó, “đánh giá kết quả học
tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện
mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó
nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường,
cho bản thân học sinh để học tập ngày một tiến bộ hơn” [28, tr.14].
GDTC đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục sinh viên phát
triển toàn diện. Giống như các môn học khác, đánh giá GDTC là dựa trên
những tiêu chuẩn khắt khe, xác định kết quả của sự tham gia tích cực trong
hoạt động học của sinh viên. GDTC là chương trình duy nhất cung cấp cho
sinh viên có cơ hội để tìm hiểu kỹ năng vận động, phát triển thể lực và đạt
được sự hiểu biết về tầm quan trọng của hoạt động thể chất. Sinh viên sẽ được
15
cung cấp một chương trình giảng dạy với kiến thức các môn học phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý và sức khỏe lứa tuổi. Bên cạnh đó, các em sẽ tự tin hơn,
có kỹ năng và động lực cần thiết để có lối sống lành mạnh. GDTC cũng có thể
- Tố chất thể lực và năng lực vận động
- Kiểm tra bằng kỹ năng vận động và nhào lộn[57]
Căn cứ vào những cơ sở lý luận đánh giá chất lượng giáo dục và mục
đích, yêu cầu của chương trình GDTC theo quyết định 203/QĐ TDTT ngày
23/1/1989 của Bộ giáo dục và Đào tạo, việc đánh giá chất lượng GDTC của
sinh viên được tiến hành theo các nội dung sau:
- Kiến thức lý luận về GDTC được quy định theo chương trình
- Kỹ năng thực hiện kỹ thuật các môn thể thao
16
- Thực hiện các chỉ tiêu thể dục theo nội dung, tiêu chuẩn rèn luyện
thân thể.
- Tính chuyên cần và hứng thú tập luyện, thi đấu thể thao [14].
Tóm lại, trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cho rằng:
Đánh giá chất lượng GDTC là một quá trình được tiến hành trên các
mặt của hoạt động dạy - học và điều kiện học tập. Trên cơ sở kết quả học tập
của sinh viên, tìm ra những nguyên nhân của thực trạng đó và đề xuất các giải
pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng GDTC tại HVNH trong thời gian
tới.
1.3.2. Mục đích của đánh giá chất lượng giáo dục thể chất
Đánh giá chất lượng GDTC luôn gắn liền với mục tiêu GDTC là hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của sinh viên, góp phần
đào tạo người lao động chất lượng cao, phát triển toàn diện, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, có sức khỏe học vấn
và nghề nghiệp, có ý thức cộng đồng, năng động, sáng tạo, có ý thức giữ gìn,
phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu đặt ra của thời kỳ hội
nhập kinh tế Quốc tế.
Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các cơ sở
giáo dục đại học và trường trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành
kèm theo Quyết định số 60 /2007/QĐ-BGDĐT ngày16 tháng 10 năm 2007
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã chỉ rõ mục đích việc đánh giá kết