VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ VĂN TUYÊN
ĐỊNH DANH SỰ VẬT
LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Công Đức
HÀ NỘI- 2013
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI – VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Công Đức
Phản biện 1: GS. TS. Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: GS. TS. Bùi Minh Toán
Phản biện 3: PGS. TS. Lê Hùng Tiến
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện, họp tại Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi,
Thanh Xuân, Hà Nội.
Vào hồi …… giờ……….ngày…….tháng…… năm ……….
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Định danh là một chức năng của ngôn ngữ và cũng là nhu
cầu của con người trước thế giới khách quan. Tên gọi giúp con người
nhận thức và phân định thế giới khách quan quanh mình.
đây nhằm hướng đến mục đích nghiên cứu đã xác định:
- Phương pháp điều tra điền dã;
- Phương pháp miêu tả;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp lập sơ đồ, mô hình hoá.
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lí luận, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp
phần làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết về định danh, bổ sung vào
sự phát triển của một số ngành học như Phương ngữ học Việt Nam,
đặc biệt là các bộ môn Danh học, Ngôn ngữ học xã hội - những
ngành học, có thể nói, mới chỉ bước đầu phát triển ở nước ta một vài
thập niên gần đây. Đồng thời, qua đó cũng sẽ góp phần làm rõ thêm
mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa và tư duy được thể hiện qua
hoạt động định danh (ngôn ngữ) của con người,
Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài
liệu tham khảo phục vụ cho việc biên soạn giáo trình về Phương ngữ
học và Văn hóa học, biên soạn từ điển địa danh Nam Bộ.
6. Tổng quan về tình hình nghiên cứu định danh
Việc nghiên cứu về lí thuyết định danh, về các loại đơn vị
định danh có thể kể đến các công trình như: Cơ sở ngữ nghĩa học từ
vựng (NXB Giáo dục, 1998) và cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
(NXB Giáo dục, 1999) của Đỗ Hữu Châu; “Từ ngữ tiếng Việt trên
đường tìm hiểu và khám phá” (trong Tuyển tập ngôn ngữ học – NXB
KHXH, 2010) của Hoàng Văn Hành; hai công trình Tìm hiểu đặc
trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy (trong sự so sánh
với những dân tộc khác) – (NXB ĐHQG HN, 2002) và Đặc trưng
văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy (NXB KHXH, 2008) của
Nguyễn Đức Tồn; luận án tiến sĩ Đặc điểm trường từ vựng – ngữ
nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1. Định danh
1.1.1.1. Lí thuyết về định danh
a. Khái niệm định danh (nomination): Định danh hiện nay
được hiểu khác nhau. Chúng tôi theo quan niệm của Từ điển giải
thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý – chủ biên): “Sự cấu
tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các
đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái
niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu”.
Luận án chỉ đi sâu nghiên cứu định danh dưới cấp độ từ vựng.
b. Về cơ chế định danh
Sau khi tri giác, phân cắt hiện thực khách quan phục vụ nhu
cầu nhận thức, quá trình tiếp theo là biểu hiện kết quả của quá trình
đó bằng ngôn ngữ.
c. Về đặc điểm và nguyên tắc định danh
- Theo V.G. Gac: đặc điểm định danh có thể được xét theo
ba tiêu chí sau: 1. Cách biểu thị tên gọi theo lối hòa kết hay phân
tích; 2. Mức độ về tính rõ lí do của tên gọi; 3. Cách chọn đặc trưng
của đối tượng để làm cơ sở định danh. Đối với loại hình ngôn ngữ
đơn lập như tiếng Việt thì tiêu chí (1) là cách biểu thị theo lối phân
tích (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng văn hoá - dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy, NXB KHXH, 2008).
- Nguyên tắc định danh: cái biểu hiện và cái được biểu hiện
phải có mối liên hệ với nhau, tên gọi của đối tượng phải có sự phân
biệt với các tên gọi khác và nếu định danh theo kiểu vay mượn thì
tên gọi phải được chuyển từ loại hình ngôn ngữ được mượn sang loại
hình ngôn ngữ mượn.
d. Các dạng định danh và phương thức định danh
G.V. Consanski chia định danh thành ba dạng: định
1.1.1.3. Về tính võ đoán trong định danh
a. Quan niệm tên gọi là võ đoán, quan niệm này xuất phát từ
lí thuyết về tín hiệu ngôn ngữ của F. de Saussure: “tín hiệu ngôn ngữ
là võ đoán” (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB KHXH, Hà
Nội, 1973).
b. Quan niệm tên gọi là phi võ đoán là quan niệm của hầu
hết các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực tri nhận luận ngôn ngữ học;
trong đó, ở Việt Nam, tiêu biểu là tác giả Nguyễn Đức Tồn. Ông cho
rằng, “tất cả mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải là võ
đoán” (Tài liệu đã dẫn). Chúng tôi chấp nhận quan niệm này. Có thể
chia lí do trong định danh thành hai loại: lí do khách quan và lí do
chủ quan.
1.1.2. Phương ngữ Nam Bộ
1.1.2.1. Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ (dialect) còn được gọi là phương ngôn/ tiếng
địa phương. Quan niệm về phương ngữ cũng có sự khác nhau trong
nhiều công trình nghiên cứu liên quan: 1. Nếu trừu tượng hóa,
phương ngữ hoàn toàn có thể coi là một hệ thống ngôn ngữ hoàn
chỉnh, chứ không phải là một bộ phận của ngôn ngữ toàn dân
(national language); 2. Bên cạnh, cũng có quan niệm, coi phương
ngữ chỉ là một biến thể địa lí/ khu vực của ngôn ngữ toàn dân.
1.1.2.2. Vấn đề phân vùng phương ngữ tiếng Việt và xác
định vùng phương ngữ Nam Bộ
Hiện có nhiều quan điểm phân chia vùng phương ngữ tiếng
Việt. Trong các vùng phương ngữ mà các nhà Việt ngữ học chia đều
có vùng PNNB. Vùng phương ngữ này cơ bản trùng với vùng địa lí
từ Bình Phước đến Cà Mau. Có thể nói, tiếng Việt ở ĐBSCL là
PNNB tiêu biểu.
1.1.2.3. Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ
Cũng như các phương ngữ khác, PNNB có đặc điểm riêng
sông nước vùng ĐBSCL.
Chương 2
CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH
SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1. Cấu tạo của tên gọi
2.1.1. Thành tố và mô hình cấu tạo của tên gọi
2.1.1.1. Tên chung
a. Thành tố cấu tạo của tên chung
Tên chung chỉ sự vật liên quan đến sông nước ĐBSCL có
hai dạng cấu tạo: dạng 1 là dạng có cấu tạo bằng một từ đơn, thường
có một âm tiết hoặc từ có nguồn gốc vay mượn, dạng này khó tìm
được lí do đặt tên; dạng 2 thường là từ ghép phân nghĩa, gồm hai
thành tố: thành tố về chủng loại sự vật (gọi tắt là thành tố A) và
thành tố phân biệt, cá thể hóa sự vật (gọi tắt là thành tố B). Thành tố
A là bộ phận chỉ chủng loại, đứng trước thành tố B trong tên chung.
Các thành tố A thường gặp là: nước, câu, xuồng, ghe, kênh, bưng,…
Thành tố B có một hoặc hai yếu tố phân biệt, cá thể hóa. Mỗi yếu tố
ở thành tố B có thể được cấu tạo bởi một hoặc nhiều âm tiết.
b. Cấu tạo đơn và phức của tên chung
Cấu tạo đơn của tên chung không có thành tố phân biệt, cá
thể hóa đối tượng, chiếm 19%. Ví dụ: ghe, xiệc, xịp,… Cấu tạo phức
của tên chung có thành tố phân biệt, cá thể hóa đối tượng và thường
có nhiều âm tiết, chiếm 81%. Ví dụ: ghe bản lồng,…
2.1.1.2. Tên riêng
a. Thành tố cấu tạo của tên riêng: Phức thể tên riêng có một
dạng cấu tạo gồm hai thành tố: thành tố loại hình địa danh - danh từ
chung (A) và thành tố khu biệt đối tượng - danh từ riêng (B).
b. Cấu tạo đơn và cấu tạo phức của tên riêng
Cấu tạo đơn của tên riêng, trong thành tố B chỉ có một yếu tố
điểm của đối tượng): ghe bất mãn, ghe điệu,…
* Tên công cụ, phương tiện đánh bắt thủy sản, những đặc
trưng được chọn để đặt tên cho sự vật này gồm: hoạt động (6/20 đơn
vị), ví dụ: kéo cào, câu giăng…; vị trí (4 đơn vị), ví dụ: đăng áp…;
âm thanh (1 đơn vị): xịp; cấu tạo (3 đơn vị): câu dây; vật liệu (1 đơn
vị): chà.
* Tên dòng nước, mực nước, loại nước, loại sóng, những đặc
trưng lựa chọn để đặt tên loại này khá phong phú: hoạt động của
dòng nước (26/54 đơn vị), ví dụ: nước chạy,…; mực nước (11 đơn
vị), ví dụ: nước lớn hai phần mà…; hình dạng (5 đơn vị), ví dụ: sóng
lưỡi búa…; lượng nước (4 đơn vị), ví dụ: nước kém…; chiều hướng
chảy (2 đơn vị): nước xuôi, nước ngược; thời gian (2 đơn vị): con
nước mười lăm,…; số lần (2 đơn vị): nước hai con,…; độ sạch (1 đơn
vị): nước cỏ; màu sắc (1 đơn vị): nước bạc.
* Tên địa hình sông nước, những đặc trưng đối tượng chọn
là: hình dạng (4 đơn vị), ví dụ: kinh đòn dông, gãy…; tính chất lớn
nhỏ, dài ngắn (3 đơn vị), ví dụ: xép, cái…; nguồn gốc (1 đơn vị):
kinh trời sanh; chức năng (1 đơn vị): búng tàu. Đa số tên chung sự
vật sông nước ĐBSCL đều rõ lí do và tập trung ở các tên có cấu tạo
phức, thường đa tiết (126/157, chiếm 80,25 %). Tuy nhiên vẫn còn
một số tên gọi chưa thể tìm được lí do hoặc đó là những tên gọi
mượn tiếng nước ngoài (31/ 157, chiếm 19,75 %).
b. Tên riêng
* Lấy thực vật điển hình mọc ở khu vực có đối tượng địa lí
để đặt tên chiếm số lượng nhiều nhất (91 đơn vị) và phần lớn là
những thực vật đặc trưng vùng sông nước Nam Bộ như dừa nước -
gọi tắt là lá, cóc, giá, tràm, xoài, vắp, bần, vang, bằng lăng, bèo, lá
buôn, rau ráng, ô rô, mù u, gòn, bông súng, bình bát… Ví dụ: rạch
Lá, kênh Bằng Lăng,…
* Lấy sự vật điển hình ở gần đối tượng về mặt địa lí để đặt
sau: ghép số vào thành tố A (kênh 2, ); ghép “Số” + số đếm vào
thành tố A (kênh Số 10, ); ghép “Thứ” + số (kênh Thứ Nhứt, ).
b. Ghép chữ cái để tạo tên gọi, chỉ có 3 đơn vị: kênh B,
Riêng ghép kết hợp chữ cái “T” + số là tên của 6 con kênh: T1,
T2, “T” là bí danh - chữ viết tắt từ “Thủ tướng”.
c. Ghép yếu tố Hán để tạo tên gọi xuất hiện trong 84 tên
riêng và 1 tên chung.
2.2.2. Phương thức chuyển hóa
- Chuyển đổi loại hình: Tên gọi có trước (nguồn) trở thành
thành tố khu biệt của tên gọi mới. Giữa tên có trước và tên mới khác
nhau về loại hình.
Cách thức chuyển đổi loại hình có 116 đơn vị. Trong tên gọi
có trước hoặc yếu tố nguồn loại tự nhiên sông nước chiếm ưu thế
(93/112 - 83 %). Loại hình kênh trong tên mới chiếm tỉ lệ khá cao
(31/ 112 – 27,6 %).
- Chuyển từ tên người sang tên kênh rạch: Sự chuyển hoá
theo kiểu này có 196 tên gọi và cũng chỉ gặp ở những tên riêng địa
hình sông nước. Trong đó, 7 tên gọi chuyển đầy đủ họ và tên chính
của người, ví dụ: kênh Dương Văn Dương,…; 133 tên gọi được
chuyển từ những từ nhân xưng “ông”, “bà” hoặc “thị” gắn với tên
riêng của người phía sau; 56 tên gọi chuyển từ hiệu, chức vị hoặc
danh pháp của người sang tên kênh rạch, ao đầm.
2.2.3. Phương thức vay mượn
Đặt tên cho sự vật sông nước ở ĐBSCL, ngoài việc định
danh bằng các yếu tố thuần Việt, chủ thể định danh cũng đã vay
mượn một số yếu tố tiếng Khmer (chiếm 33 %, 102/303 đơn vị
mượn) để cấu tạo tên gọi (tộc người Khmer chiếm một số lượng lớn
trong cơ cấu các tộc người thiểu số ở ĐBSCL, nên có thể coi những
đơn vị định danh như vừa nói trên là những tên gọi bằng những biến
thể của ngôn ngữ bản địa). Có thể nói, những tên gọi chỉ sự vật sông
để đặt tên và khu biệt từng cá thể.
Trong phương thức cơ sở, cách thức chọn đặc trưng của đối
tượng hoặc chọn yếu tố, sự vật gần gũi với đối tượng chiếm tỉ lệ cao
nhất (456/998, chiếm 44,7%). Điều này chứng tỏ người Việt ở
ĐBSCL quan sát đối tượng chủ yếu bằng thị giác. Sự tri giác ở đây
rất cụ thể, đầy tính trực cảm.
Chương 3
NGUỒN GỐC, NGỮ NGHĨA VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ
CỦA TÊN GỌI SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.1. Nguồn gốc tên gọi
Tên sự vật liên quan đến sông nước vùng ĐBSCL chủ yếu có
nguồn gốc thuần Việt. Vay mượn chiếm tỉ lệ ít hơn. Vay mượn từ
tiếng Hán, có số lượng cao nhất (199 đơn vị). Trong đó, tên chung
chỉ có 1 đơn vị (bè thủy lực); tên riêng có 198 đơn vị. Vay mượn
tiếng Khmer có tổng số 102 đơn vị (tên chung 10 đơn vị, tên riêng
92), chiếm 8,8%. Vay mượn ngôn ngữ khác (tiếng Anh 1, tiếng
Bahnar 1). Như vậy, tổng số đơn vị tên gọi vay mượn là 303/ 1127
(chiếm 26,7%,).
3.2. Ngữ nghĩa của tên gọi
3.2.1. Nghĩa phân biệt của tên gọi
- Đối với tên chung, nghĩa được phân biệt theo từng nhóm
tên. Ở mỗi nhóm, các tên lại được phân biệt thêm một bậc nữa. Cuối
cùng là phân biệt theo nghĩa từng tên gọi. Ví dụ, phân biệt: nước cạn
(có thể xắn quần lội qua hoặc ghe thuyền nhẹ có thể di chuyển bằng
cách dùng (cây) sào chống xuống đáy sông/ kênh/ rạch, và đẩy đi),
nước sát (nước rút tới đáy lòng sông), nước rặt (nước chỉ còn chảy ở
tim con rạch, sông), nước kiệt (hết nước chảy ra, có thể ở sông cái
nước bắt đầu chảy vào),
- Tên riêng có chức năng định danh nhưng đồng thời cũng có
sông nước vùng ĐBSCL đa số có lí do (80,25%). Trong đó, có cả lí
do chủ quan và lí do khách quan. Số lượng tên có lí do ở mảng tên
riêng cao hơn ở mảng tên chung.
3.2.4. Hiện tượng đồng sở chỉ trong tên gọi
Đồng sở chỉ là hiện tượng nhiều tên gọi khác nhau nhưng
cùng chỉ một đối tượng. Cụ thể: có 108 đối tượng (sự vật chung 12,
sự vật cá thể 96) nhưng có tới 252 tên gọi (tên chung 30, tên riêng
222). Như vậy, hiện tượng đồng sở chỉ chiếm tỉ lệ khá cao, hơn 22%.
3.3. Đặc trưng văn hoá trong tên gọi
Tên gọi sự vật sông nước vùng ĐBSCL không chỉ giúp cho
việc tìm hiểu về đặc điểm định danh, về đặc điểm của ngôn ngữ địa
phương mà qua đó còn có thể cho thấy nét đặc trưng văn hoá của
vùng đất này. Đặc trưng văn hoá trong tên gọi được biểu hiện qua
phương thức định danh, hiện tượng biến đổi tên gọi, nguồn gốc ngôn
ngữ, cấu tạo và ý nghĩa của tên gọi.
3.4. Tiểu kết
Tên gọi sự vật liên quan đến sông nước vùng ĐBSCL phần
lớn có khả năng xác định được nguồn gốc (ngôn ngữ). Tên gọi có
nguồn gốc thuần Việt chiếm tỉ lệ cao (73,3%) và thường là tên gọi
gốc, từ vựng gốc. Đa số tên gọi sự vật liên quan đến sông nước vùng
ĐBSCL xác định được lí do đặt tên. Số tên gọi chưa tìm được lí do ở
tên chung nhiều hơn ở tên riêng (tên chung 11%; tên riêng 0,3%).
Nguyên nhân vì tên riêng là đơn vị định danh bậc hai nên việc tìm lí
do ít khó khăn hơn.
Tên chung có nghĩa biểu niệm và biểu vật, tên riêng có nghĩa
biểu vật. Cả hai loại tên gọi này đều có nghĩa phân biệt.
Tên gọi sự vật liên quan đến sông nước vùng ĐBSCL phản
ánh môi trường tự nhiên, hiện thực lịch sử, văn hóa của vùng đất.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đặc điểm định danh sự vật
tố khu biệt, cá thể hóa. Phần lớn tên gọi được cấu tạo bằng hình thức
ghép (97,3%) và chủ yếu là ghép theo kiểu phân nghĩa hay chính
phụ. Cơ chế ghép cơ bản theo chiều tuyến tính thuận. Đây chính là
hệ quả của đặc điểm cấu tạo từ, cụm từ tiếng Việt nói chung và trong
PNNB nói riêng.
Yếu tố tham gia cấu tạo các tên gọi phần nhiều là các yếu tố
chỉ nước, loại hình sông nước, yếu tố nhân xưng, yếu tố Hán Việt (có
nghĩa chỉ sự mới mẻ, tốt đẹp) và yếu tố chỉ phương vị. Những yếu tố
này góp phần gợi nên diện mạo một vùng sông nước đặc trưng của
Nam Bộ, đồng thời thể hiện tâm lí, tư tưởng, tình cảm của cư dân
vùng đất mới.
Tên chung và tên riêng đều có hai dạng cấu tạo đơn và phức.
Tên có cấu tạo phức thường nhiều âm tiết, có khả năng phân biệt sâu
và nhiều đối tượng khác nhau, đáp ứng được nhu cầu định danh,
đồng thời phản ánh thực tế sự vật của vùng sông nước Cửu Long vốn
hết sức phong phú và đa dạng.
Kiểu cấu tạo phức của tên gọi phù hợp với sự phát triển vốn
từ chủ yếu theo hướng ghép yếu tố của loại hình ngôn ngữ đơn lập
như tiếng Việt. Số lượng từ đơn đơn tiết thuộc tên chung chỉ sự vật
liên quan đến sông nước vùng ĐBSCL có tỉ lệ thấp hơn từ ghép. Tỉ
lệ này phù hợp với tỉ lệ giữa từ đơn và từ phức trong vốn từ tiếng
Việt. Có thể nói, đặc điểm loại hình của tiếng Việt đã để lại dấu ấn
đậm nét trong cách cấu tạo tên gọi sự vật ở vùng sông nước này.
4. Các phương thức định danh chủ yếu của sự vật liên quan
đến sông nước vùng ĐBSCL gồm: cơ sở, chuyển hoá và vay mượn,
trong đó phương thức cơ sở được dùng nhiều hơn (chiếm 58,4%). Và
trong phương thức này, tỉ lệ cao nhất là chọn đặc trưng khu biệt của
chính đối tượng để làm căn cứ đặt tên gọi (chiếm 45,7%). Điều này
nói lên rằng chủ thể định danh đã căn cứ chủ yếu vào ngôn ngữ bản
địa và dựa vào đặc điểm của chính bản thân đối tượng để tạo ra các
tượng có tần số xuất hiện cao, thì ở tên riêng, đặc trưng chiếm tỉ lệ
cao lại là thực vật hoặc sự vật có quan hệ gần gũi với đối tượng địa lí
được định danh. Rõ ràng, khi định danh sự vật, chủ thể không chỉ ưu
tiên đặc biệt đến đặc điểm của chính đối tượng mà còn quan tâm cả
đến mối quan hệ giữa đối tượng với sự vật xung quanh, đặt đối
tượng trong môi trường mà nó tồn tại. Người Việt ĐBSCL sống
trong môi trường tự nhiên hoang sơ, trong một không gian mở, khiến
cho họ phải thường xuyên chú ý quan sát xung quanh và phải xác
định vị trí, định hướng cho mình giữa một không gian sông nước
rộng lớn. Việc quan tâm đến động thực vật, sự vật đặc trưng cho
vùng đất hay xác định phương vị của đối tượng để định danh sự vật
sông nước đã cho thấy điều này.
7. Định danh bằng phương thức vay mượn tiếng Khmer chủ
yếu được thực hiện theo lối sao phỏng phức hợp âm và nghĩa. Đây là
một biểu hiện sinh động kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ ở
vùng đất phương nam này. Tên gọi sự vật liên quan đến sông nước
ĐBSCL không chỉ cung cấp cứ liệu về sự tiếp xúc ngôn ngữ trong
vùng mà còn cho một cái nhìn cụ thể hơn về những nét tương đồng
và dị biệt giữa phương ngữ Nam Bộ và ngôn ngữ toàn dân.
Lấy tên người làm thành tố tạo tên sông nước nhằm “đánh
dấu”, phân biệt và có cả mục đích ghi ơn các tiền nhân là biểu hiện
của truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tên người
trong thành phần cấu tạo tên sự vật liên quan đến sông nước là tên
của những danh nhân từng có công với dân tộc, đặc biệt là trong sự
nghiệp mở cõi, cải tạo vùng đất, phát triển kinh tế, phục vụ đời sống
nhân dân.
8. Định danh sự vật liên quan đến sông nước ĐBSCL chủ
yếu theo lối miêu tả. Do vậy, mức độ rõ lí do của các định danh này
rất cao. Đa số tên gọi được khảo sát đều cho thấy rõ lí do đặt tên. Đó
có thể là lí do chủ quan xuất phát từ chủ thể đặt tên, có thể là lí do