Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành hệ thống báo
cáo tài chính của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh việc
hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh
nghiệp. Trước đây báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể được lập hoặc không
tuỳ theo khả năng và điều kiện của doanh nghiệp, nhưng hiện tại, báo cáo
lưu chuyển tiền tệ trở thành báo cáo bắt buộc phải lập để cung cấp thông
tin. Để cho phép các nhà quản trị nội bộ cũng như các nhà nghiên cứu trả
lời được những vấn đề quan trọng liên quan đến tiền như:
Liệu doanh nghiệp có đủ tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn
cho nhà cung cấp và những chủ nợ khác mà không phải đi vay không?
Doanh nghiệp có những khoản đầu tư hiệu quả cao không?
Doanh nghịêp có thể tự tạo ra dòng tiền tệ để tài trợ cho các khoản
đầu tư cần thiết mà không phụ thuộc vào vốn từ bên ngoài không?
Doanh nghiệp có đang thay đổi cơ cấu nợ không?
Đó chính là ý nghĩa của báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong việc cung
cấp thông tin tài chính. Mặc dù báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tác dụng quan
trọng trong việc phân tích, đánh giá , dự báo khả năng tạo ra tiền, khả năng
đầu tư, khả năng thanh toán …nhằm giúp các nhà quản lý, các nhà đầu tư
và những ai có nhu cầu sử dụng thông tin có những hiểu biết nhất định đối
với hoạt động của doanh nghiệp nhưng nhận thức về tầm quan trọng cũng
như lượng thông tin được chuyển tải từ các báo cáo này vẫn còn thực sự
chưa rõ rang thậm chí còn rất mơ hồ đối với nhiều người. Bài viết dưới đây
bàn về phương pháp lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chế độ
kế toán hiện hành sẽ làm rõ hơn về vấn đề trên.1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NỘI DUNG
sở hữu tài sản. Thu tiền và chi tiền đối với các khoản có vòng quay nhanh,
thời gian đáo hạn ngắn như: mua bán ngoại tệ, mua các khoản đầu tư, các
khoản đi vay hoặc cho vay ngắn hạn khác có thời hạn thanh toán không quá
3 tháng.
-Các luồng tiền phát sinh từ các giao dịch bằng ngoại tệ phải được
quy đổi ra đồng tiền chính thức sử dụng trong ghi sổ kế toán và lập báo cáo
tài chính theo tỷ giá hối đoái tại thời điểm phát sinh giao dịch.
-Các giao dịch về đầu tư tài chính không trực tiếp sử dụng tiền hay
các khoản tương đương tiền không được trình bày trong báo cáo lưu
chuyển tiền tệ.
-Các khoản mục tiền và tương đương tiền đầu kỳ và cuối kỳ, ảnh
hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi tiền và các khoản tương đương
tiền bằng ngoại tệ hiện có cuối kỳ phải được trình bày thành các chỉ tiêu
riêng biệt trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ để đối chiếu số liệu với các khoản
mục tương ứng trên bảng cân đối kế toán.
-Doanh nghiệp phải trình bày giá trị và lý do của các khoản tiền và
tương đương tiền có số dư cuối kỳ lớn do doanh nghiệp nắm giữ nhưng
không được sử dụng do có hạn chế của pháp luật hoặc các rang buộc khác
mà doanh nghiệp phải thực hiện.
Theo đó việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ được thực
hiện như sau:
1.1 Trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trong kỳ trên Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ theo 3 loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu
tư và hoạt động tài chính.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.1 Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có
khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền. Các luồng tiền
chủ yếu từ hoạt động đầu tư, gồm:
(a) Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác,
bao gồm cả những khoản tiền chi liên quan đến chi phí triển khai đã được
vốn hóa là TSCĐ vô hình;
(b) Tiền thu từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các tài sản dài hạn
khác;
(c) Tiền chi cho vay đối với bên khác, trừ tiền chi cho vay của ngân
hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính; tiền chi mua các công cụ
nợ của các đơn vị khác, trừ trường hợp tiền chi mua các công cụ nợ được
coi là các khoản tương đương tiền và mua các công cụ nợ dùng cho mục
đích thương mại;
(d) Tiền thu hồi cho vay đối với bên khác, trừ trường hợp tiền thu hồi
cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính; tiền thu
do bán lại các công cụ nợ của đơn vị khác, trừ trường hợp thu tiền từ bán
các công cụ nợ được coi là các khoản tương đương tiền và bán các công cụ
nợ dùng cho mục đích thương mại;
(đ) Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền chi
mua cổ phiếu vì mục đích thương mại;
(e) Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền
thu từ bán lại cổ phiếu đã mua vì mục đích thương mại;
(g) Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận nhận được.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.3 Luồng tiền từ hoạt động tài chính
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan
đến việc thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của
doanh nghiệp. Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động tài chính, gồm:
(a) Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu;
(l) Tiền thu vào hoặc chi ra về mua, bán chứng khoán ở doanh nghiệp
kinh doanh chứng khoán;
(m) Tiền chi mua chứng khoán vì mục đích thương mại;
(n) Tiền thu từ bán chứng khoán vì mục đích thương mại;
(o) Thu nợ khó đòi đã xóa sổ;
(p) Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh;
(q) Tiền chi khác từ hoạt động kinh doanh.
1.2. Phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
1.2.1 Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp phải báo cáo các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh
theo một trong hai phương pháp sau:
(a) Phương pháp trực tiếp: Đặc điểm của phương pháp này là các chỉ
tiêu được xác lập theo các dòng tiền vào hoặc ra liên quan trực tiếp đến các
nghiệp vụ chủ yếu, thường xuyên phát sinh trong các loại hoạt động của
doanh nghiệp. Tần số phát sinh và độ lớn của loại nghiệp vụ kinh tế ảnh
hưởng trực tiếp đến lưu chuyển tiền trong kỳ kế toán của doanh nghiệp.
Theo phương pháp này các chỉ tiêu phản ánh các luồng tiền vào và các
luồng tiền ra được trình bày trên báo cáo và được xác định theo một trong 2
cách sau đây:
- Phân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu và chi theo từng
nội dung thu, chi từ các ghi chép kế toán của doanh nghiệp.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Điều chỉnh doanh thu, giá vốn hàng bán và các khoản mục khác
trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho:
+ Các thay đổi trong kỳ của hàng tồn kho, các khoản phải thu và các
khoản phải trả từ hoạt động kinh doanh;
+ Các khoản mục không phải bằng tiền khác;
+ Các luồng tiền liên quan đến hoạt động đầu tư và hoạt động tài
phải nộp khác sau thuế thu nhập doanh nghiệp);
- Lãi lỗ từ hoạt động đầu tư.
- Các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh theo
phương pháp gián tiếp có thể nhận diện dễ dàng qua công thức sau:
Lợi nhuận trước thuế = Doanh thu - Chi phí tạo ra doanh thu
= (Tiền + Nợ phải thu) - (Tiền + Hàng tồn kho + Chi phí trả trước phân bổ
+ Nợ phải trả + Khấu hao + Dự phòng + Chi phí lãi vay).
= Tiền (lưu chuyển) + Nợ phải thu – Hàng tồn kho – Chi phí trả trước phân
bổ - Nợ phải trả – Khấu hao – Dự phòng – Chi phí lãi vay.
Lưu chuyển tiền = Lợi nhuận trước thuế + Khấu hao + Dự phòng +
Chí phí lãi vay + Hàng tồn kho – Nợ phải thu + Nợ phải trả + Chi phí trả
trước phân bổ .
Qua công thức này thấy rằng, lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh
doanh nếu được xác định bắt đầu từ lợi nhuận trước thuế thì các chỉ tiêu
điều chỉnh bao gồm: Khấu hao (điều chỉnh tăng), Dự phòng (điều chỉnh
tăng), Chi phí lãi vay (điều chỉnh tăng), con các chỉ tiêu: Hàng tồn kho, Nợ
phải thu, Nợ phải trả và Chi phí trả trước thì việc điều chỉnh tăng, giảm phụ
thuộc vào số dư cuối kỳ và số dư đầu kỳ của các tài khoản nằm trong các
chỉ tiêu này:
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Đối với hàng tồn kho:
° Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm
(chứng tỏ có một bộphận tiền được chuyển thành hàng tồn kho).
° Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK < 0: Điều chỉnh tăng
(chứng tỏ có một bộphận hàng tồn kho được chuyển thành tiền).
+ Đối với Nợ phải thu:
° Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm
(chứng tỏ có một bộphận tiền được chuyển thành nợ phải thu).
-Đối với hoạt động đầu tư thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan
đến việc mua sắm, thanh lý, nhượng bán TSCĐ; xây dựng cơ bản, hoạt
động cho vay, mua bán các công cụ nợ của đơn vị khác, hoạt động đầu tư
vào các đơn vị khác. Do vậy, các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt
động đầu tư thường bao gồm: thu về thanh lý, nhượng bán TSCĐ, thu nợ
cho vay, thu hồi các khoản vốn đầu tư vào đơn vị khác, chi mua sắm
TSCĐ, xây dựng cơ bản, chi cho vay, chi đầu tư vào các đơn vị khác.
1.2.3 Luồng tiền từ hoạt động tài chính
- Đối với hoạt động tài chính thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan
đến các nghiệp vụ nhận vốn, rút vốn từ các chủ sỡ hữu và các nghiệp vụ đi
vay, trả nợ vay. Do vậy các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động tài
chính thường bao gồm: tiền thu do chủ sở hữu góp vốn, tiền chi trả vốn góp
cho chủ sở hữu, tiền vay nhận được, tiền trả nợ vay…
-Ngoài ra nếu doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ trong giao dịch thì
khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư cuối kỳ của tiền và
tương tiền bằng ngoại tệ khi lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng là một chỉ
tiêu nằm trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp
Trừ trường hợp các luồng tiền được báo cáo trên cơ sở thuần.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.4 Báo cáo các luồng tiền trên cơ sở thuần
Các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu
tư hay hoạt động tài chính sau đây được báo cáo trên cơ sở thuần:
(a) Thu tiền và chi trả tiền hộ khách hàng:
- Tiền thuê thu hộ, chi hộ và trả lại cho chủ sở hữu tài sản;
- Các quỹ đầu tư giữ cho khách hàng;
- Ngân hàng nhận và thanh toán các khoản tiền gửi không kỳ hạn, các
khoản tiền chuyển hoặc thanh toán qua ngân hàng.
(b) Thu tiền và chi tiền đối với các khoản có vòng quay nhanh, thời