một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tay-chân-miệng tại tỉnh hòa bình năm 2011 và các biện pháp phòng chống dịch đã triển khai - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay-chân-miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ
gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh
thường gặp là Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71 (EV.71). Biểu hiện
chính là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt
như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể
gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù
phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời.
Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV.71 [1][2].
Trên Thế giới từng xảy ra nhiều vụ dịch tay-chân-miệng lớn với những
diễn biến phức tạp. Tại Đài Loan năm 1998, vi rút EV71 đã gây ra một vụ
dịch bùng nổ lớn với 78 ca tử vong [13], chủ yếu trẻ bị mắc bệnh tay-chân-
miệng và tử vong rất nhanh do biến chứng viêm não, suy tim và viêm phổi.
Trong những năm gần đây, bệnh tay-chân-miệng có xu hướng bùng phát trở
lại. Năm 2007 - 2008, dịch tay-chân-miệng rất lớn đã xảy ra tại tỉnh Sơn
Đông và tỉnh An Huy - Trung Quốc với 83.344 ca mắc và 17 trường hợp tử
vong năm 2007, 22 trường hợp tử vong năm 2008, bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ
em dưới 5 tuổi [12] [13][21]. Một số nước khác tại khu vực châu Á cũng bùng
phát dịch như Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Mông Cổ, Singapore [12]. Sự
bùng nổ dịch bệnh tay-chân-miệng tại Đài Loan, Trung Quốc và một số nước
khác đã cho thấy toàn cầu cần quan tâm đến bệnh này.
Ở Việt Nam, bệnh tay-chân-miệng cũng đã xuất hiện từ khoảng 10 năm
gần đây, đặc biệt là ở khu vực miền Nam. Năm 2005 vụ dịch tay-chân-miệng
xảy ra tại miền Nam - Việt Nam với 746 trẻ nhập viện (BV Nhi đồng), 3
trường hợp tử vong [24]. Từ năm 2008 đến nay dịch bệnh tay-chân-miệng vẫn
1
tiếp tục xảy ra ở nước ta với số lượng bệnh nhân nhập viện và tỉ lệ tử vong
ngày càng cao so với những năm trước.
Tại khu vực miền Bắc, trước năm 2011 tay-chân-miệng không phải là
bệnh phải báo cáo trong hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm do vậy số liệu
bệnh tay-chân-miệng trong khoảng thời gian này không có hoặc có không

Bệnh tay-chân-miệng do các virut thuộc họ Picornaviridae là loại vi rút
có bản chất là RNA sợi đơn (+) gây ra như: Coxsackievirus A từ 2 đến 8, 10,
12, 14, 16 (thường gặp A16); Coxsackievirus B 1, 2, 3, 5; Echovirus;
Enterovirus (thường gặp EV71, EV68, hoặc CV-B2). Trong đó, tác nhân gây
bệnh thường gặp nhất là Coxsackievirus A16 và EV71 là tác nhân cần
quan tâm nhất vì có thể gây ra các bệnh cảnh trầm trọng, biến chứng về
thần kinh, tim mạch, hô hấp dẫn tới tử vong nhanh chóng, đặc biệt là ở trẻ
nhỏ. [2] [13] [21]
Coxsackievirus A16: vius coxsackie lần đầu tiên được phân lập trong
phân người tại thị trấn Coxsackie, Newyork vào năm 1948 bởi G.Dallfort. Vi
rút này thuộc thọ Picornaviridae chủng Enterovirus, chỉ có một chuỗi
ribonucleic acid (RNA) làm vật liệu di truyền. Vius cosxackie chia làm 2
nhóm A và B:
Nhóm A gây hoại tử cơ và chết. Vius type A (chủ yếu serotype A16)
gây herpangina (các mụn nước ở họng, hầu, tay, chân). Bệnh tay-chân-miệng
là tên thường gọi của bệnh nhiễm vi rút này.
3
Nhóm B gây tổn thương nội tạng nhưng tình trạng ít nặng hơn. Vi rút
type B gây tình trạng viêm màng phổi, biểu hiện bằng sốt, đau ngực, đau
bụng, nhức đầu trong vòng 2 đến 12 ngày. Còn được gọi là bệnh Bornholm.
Cả 2 type A và B có thể gây viêm màng não, viêm cơ tim, và viêm màng
ngoài tim nhưng thường ít gặp.
Do EV71 là tác nhân gây bệnh chủ yếu thường gặp ở khu vực Châu Á
và gây nhiều bệnh cảnh nặng như: gây biến chứng thần kinh, tim mạch… nên
các khảo cứu tập trung nhiều trên vi rút này.
EV71 là một loại RNA vi rút, kích thước nhỏ, khoảng 30 nm, không có
bao, chỉ có 1 sợi ribonucleic acid 7,4kb. Vỏ của EV71 có 60 tiểu đơn vị
(promoter). Mỗi tiểu đơn vị chứa 1 trong 4 kiểu phiên bản protein cấu trúc là
VP1, VP2, VP3, VP4. Vì VP4 nằm hoàn toàn ở mặt trong vi rút nên không
gây đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Tất cả protein cấu trúc đều được mã hóa

mũi, hầu, hong, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng, hoặc phân của bệnh
nhân. [4]
Vi rút gây bệnh tay-chân-miệng có thể lây truyền từ người sang người
qua tiếp xúc trực tiếp với vi rút tiết ra từ dịch mũi, họng, nước bọt, dịch tiết từ
các nốt phỏng, phân bệnh nhân hoặc người lành mang trùng. Vi rút thường
lây truyền qua bàn tay và tiếp xúc với các bề mặt bị nhiễm bẩn. Người bị
nhiễm vi rút thường dễ truyền bệnh cho người khác trong tuần đầu mắc bệnh.
Vi rút gây bệnh tay-chân-miệng có thể tồn tại trong cơ thể một vài tuần
sau khi hết các triệu chứng của bệnh. Điều này có nghĩa là người bệnh sau khi
đã phục hồi sức khỏe trong thời gian đầu vẫn có thể làm lây truyền bệnh cho
người khác [6][12].
1.1.2.2 Phương thức lây truyền
Bệnh lây truyền qua đường phân – miệng hoặc tiếp xúc trực tiếp, nhưng
chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước
bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng, hoặc tiếp xúc gián tiếp với các chất tiết và bài
tiết của bệnh nhân trên đồ chơi, bàn, ghế, dụng cụ sinh hoạt, nền nhà… Đặc
biệt khi bệnh nhân có biểu hiện bệnh đường hô hấp thì việc hắt hơi, ho, nói
chuyện sẽ tạo điều kiện cho vi rút lây trực tiếp từ người sang người [4][25].
Những ngày đầu của bệnh là thời gian lây lan mạnh nhất và vi rút tồn tại
trong phân đến vài tuần sau khi không còn dấu hiệu bệnh nên bệnh nhân vẫn
là nguồn lây quan trọng.
6
Bệnh không lây truyền qua động vật. Nếu không vệ sinh sạch sẽ bàn tay
của người lớn dễ trở thành nguồn lây bệnh khi chăm sóc trẻ ốm rồi truyền
bệnh cho các trẻ khác. Thông thường, thời gian ủ bệnh là 3 đến 7 ngày, sốt là
dấu hiệu đầu tiên của bệnh [4][21].
1.1.2.3 Tính cảm nhiễm
Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi rút gây bệnh, tuy nhiên không
phải ai nhiễm vi rút cũng bị bệnh. Trẻ nhỏ hay bị bệnh và thường có biểu hiện
nặng hơn vì hệ thống miễn dịch chưa được hoàn thiện [4].

miệng có biến chứng hô hấp- tuần hoàn chủ yếu là trẻ từ 12-24 tháng (47,8%)
và không có trẻ nào dưới 6 tháng tuổi [5].
Tại Singapore năm 2000, tiến hành thống kê 3.790 ca được báo cáo
nhận thấy có 2.987 trẻ nhỏ hơn 4 tuổi chiếm 78,8%. Tại thành phố Lâm Nghi
– Quảng Đông – Trung quốc năm 2007 có 2 vụ dịch lớn bùng phát được báo
cáo, trẻ mắc bệnh trong số đó phần lớn là trẻ dưới 5 tuổi (84,4%) [6].
1.1.3 Diễn biến bệnh
1.1.3.1 Giai đoạn ủ bệnh
Khoảng một tuần và thường không biểu hiện triệu chứng
8
1.1.3.2 Giai đoạn khởi phát
Từ 1 đến 2 ngày, bệnh nhân thường có biểu hiện sốt nhẹ, đau rát họng
hoặc chán ăn, đôi khi có kèm theo nôn, tiêu chảy vài lần trong ngày, phân
không nhày máu.
1.1.3.3 Giai đoạn toàn phát
Có thể kéo dài từ 3 đến 10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh.
- Các dấu hiệu trên da tập trung ở:
o Trong lòng bàn tay, ngón tay
o Gan bàn chân, ngón chân
o Bọng nước đôi khi có ở mông, đầu gối, hoặc các vùng khác của cơ
thể
o Ban da không ngứa nhưng hơi đau khi đè tay lên. Khi bọng nước
khô để lại vết thâm trên da, không loét.
- Các tổn thương niêm mạc miệng và họng tiến triển nhanh thành bọng
nước và được bao quanh bởi quầng hồng ban kích thước 2 – 3 mm. Các bọng
nước này nhanh chóng thành vết loét gây đau nên trẻ quấy khóc, chán ăn hoặc
không ăn uống, chảy nước bọt liên tục dẫn đến mất nước.
- Sốt: bệnh nhân thường sốt nhẹ, có khi sốt cao 38 – 39
o
C và kéo dài 24

một tuần và không để lại di chứng. Tuy nhiên nếu tác nhân là EV71 có thể
biểu hiện bệnh cảnh nặng nề, có thể biểu hiện biến chứng thần kinh bao gồm:
hội chứng giả bại liệt, viêm màng não vô khuẩn, viêm não, viêm não tủy,
viêm tủy cắt ngang, tăng áp lực nội sọ lành tính, thất điều tiểu não cấp. Bệnh
nhân có thể rơi vào tình trạng rối loạn tâm thần, co giật và tử vong [2] [4].
1.2 Tình hình bệnh tay-chân-miệng trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình trên thế giới
Bệnh tay-chân-miệng do virut đường ruột được phát hiện ở nhiều nơi
trên Thế giới. Bên cạnh những tác nhân phổ biến như Coxsackie A và B, vi
rút Echo và các virut đường ruột khác, những vụ dịch gần đây đặc biệt ở khu
vực Châu Á đã nổi lên những chủng EV71 gây bệnh nặng hơn. Từ khi được
phát hiện lần đầu vào năm 1969 tại California ở một bệnh nhi viêm não [19],
EV71 đã gây ra những vụ dịch lớn nhỏ rải rác ở nhiều khu vực. Theo báo cáo
tại Đài Loan đã có 129.106 ca bệnh tay-chân-miệng vào năm 1998 trong đó
405 trường hợp bệnh nặng với 78 ca tử vong [8] [12]. Singapore có 9000 ca
bệnh tay-chân-miệng, 7 ca tử vong vào giai đoạn 2000 - 2001 và từ đó dịch
tiếp diễn 2 - 3 năm một lần. Trong 8 tháng của năm 2008, Singapore đã có
19.530 ca bệnh và 1 trường hợp tử vong do tay-chân-miệng. Malaysia xuất
hiện dịch này vào năm 1997 ở Sarawak, với 13/14.875 ca tử vong. Năm 2007,
Thái Lan có 2/16.846 ca bệnh tử vong [12]. Cũng vào năm 2007, Trung Quốc
có 83.344 trường hợp xác định bệnh tay-chân-miệng. Tỷ lệ mắc được báo cáo
là 6,34/100.000 với tổng số 17 người chết và tỷ lệ tử vong là 0,02% [9]. Đến
năm 2008, số ca tử vong tại Trung Quốc là 22 ca [12].
Mặc dù tay-chân-miệng thường được coi là một bệnh lành tính không
có nhiều biến chứng thần kinh nhưng với tác nhân mới nổi EV71, nhiều
11
nghiên cứu cho thấy thường có liên quan đến hệ thần kinh trung ương và gây
biến chứng nguy hiểm [15] [16] [17]. Ishimaru và cộng sự đã mô tả 2 vụ dịch
ở Nhật Bản như vậy với hơn 1000 ca bệnh [15]. Những vụ dịch do EV71
cũng gây ra hơn 20 ca tử vong ở Bungari vào năm 1975 [21], Hungary vào

Bệnh tay-chân-miệng lưu hành phổ biến ở miền Nam Việt Nam. Năm
2005, 746 trẻ em đã phải nhập viện Nhi tại TP. Hồ Chí Minh do mắc bệnh
tay-chân-miệng. Tác nhân chủ yếu là CA16 (chiếm 52,1%), và EV71 chiếm
42,1%. Trong những trường hợp được chẩn đoán là EV71 có 29,5% biến
chứng viêm não cấp và 1,7% tử vong. EV71 phân lập được trong suốt năm, có
xu hướng thịnh hành vào tháng 10 đến 11. Phân tích phả hệ cho thấy virut này
thuộc 3 nhóm gen C1, C4, C5; vi rút lưu hành gây bệnh chính thuộc nhóm
gen C5 [24].
Ở miền Bắc chưa có một vụ dịch lớn nào do EV71 gây ra nhưng vẫn
phân lập được chủng EV71 rải rác ở những ca bệnh lâm sàng khác nhau từ
bệnh nhân bệnh tay-chân-miệng. Nghiên cứu chủng vi rút EV71 phân lập
trong các năm 2003 [1], 2005 - 2007 [2] đã cho thấy có sự lưu hành của vi rút
EV71 nhóm gen C, nhóm gen phụ C5. Tuy nhiên, kết quả chưa thể cung cấp
đầy đủ một bức tranh tổng quát về các nhóm gen đã và đang lưu hành ở Việt
Nam cũng như khả năng dịch tễ học và bệnh học của chúng.
Tích lũy số ca mắc tay-chân-miệng trong năm 2011 cả nước ghi nhận
110.987 trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệng tại 63 địa phương, trong đó có
169 trường hợp tử vong tại 30 tỉnh. Số trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệng
bắt đầu gia tăng từ tuần thứ 20 với 850 ca mắc/tuần, cao nhất là tuần thứ 27,
13
tính đến ngày 31/12/2011 vẫn đang duy trì ở mức cao với trên 2000 ca
mắc/tuần [1].
1.3 Các biện pháp phòng chống dịch TCM
1.3.1 Các biện pháp dự phòng
• Nguyên tắc phòng bệnh:
- Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu.
- Áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa đối với
bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây.
 Phòng bệnh tại các cơ sở y tế:
- Cách ly theo nhóm bệnh.

1.3.2 Biện pháp chống dịch
- Sở Y tế tham mưu cho Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
tiếp chỉ đạo, huy động nguồn lực và các ban, ngành, đoàn thể triển khai các
biện pháp phòng chống dịch tại địa phương.
- Quản lý và điều trị bệnh sớm theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh
tay-chân-miệng ban hành kèm theo quyết định số 2554/QĐ-BYT ngày 19/7/2011
của bộ trưởng bộ y tế để hạn chế tối đa biến chứng nặng và tử vong.
15
- Tổ chức: báo cáo theo quy định. Một nơi được gọi là ổ dịch khi ghi
nhận 2 ca lâm sàng trở lên (trong đó có ít nhất 1 ca được phòng xét nghiệm
xác định dương tính), trong thời gian 7 ngày.
- Các biện pháp chuyên môn:
Tại gia đình bệnh nhân:
+ Bệnh nhân phải được cách ly, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác.
+ Phân và các chất thải của bệnh nhân phải được khử khuẩn bằng
Chloramin B 2%.
+ Người chăm sóc bệnh nhân: Thực hành vệ sinh cá nhân, đặc biệt rửa tay
ngay sau khi thay tã cho trẻ. Hạn chế hôn, sử dụng chung các dụng cụ với trẻ.
+ Khi trẻ còn triệu chứng tay-chân-miệng, không cho phép tham gia các
hoạt động, gặp gỡ đông trẻ em khác như đến lớp, đi bơi, …
+ Theo dõi các biểu hiện sốt, loét miệng, phỏng nước đối với các thành
viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em để thông báo cho cơ quan y tế.
+ Chưa có vắc xin phòng bệnh.
Tại nhà trẻ, mẫu giáo:
+ Trẻ mắc bệnh không đến lớp ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởi bệnh và
chỉ đến lớp khi hết loét miệng và các phỏng nước.
+ Đảm bảo có đủ xà phòng rửa tay tại từng lớp học.
+ Cô nuôi dậy trẻ/thầy cô giáo cần theo dõi tình trạng sức khỏe cho trẻ
hàng ngày. Khi phát hiện trong lớp, trong trường có trẻ nghi ngờ mắc bệnh
phải thông báo cho gia đình và cán bộ y tế để xử lý kịp thời.

- Chuyển tuyến: đối với bệnh tay-chân-miệng độ 2b trở lên hoặc độ 2a có
bệnh phối hợp kèm theo.
- Điều kiện: Bác sỹ, điều dưỡng đã được tập huấn chẩn đoán, điều trị
bệnh tay-chân-miệng.
• Bệnh viện đa khoa, đa khoa khu vực, chuyên khoa Nhi tuyến tỉnh.
- Khám, điều trị bệnh tay-chân-miệng tất cả các độ.
- Chuyển tuyến: Đối với bệnh tay-chân-miệng độ 3,4 khi không có đủ
điều kiện hồi sức tích cực Nhi, đảm bảo chuyển tuyến an toàn.
- Điều kiện:
+ Bác sỹ, điều dưỡng được huấn luyện nâng cao về điều trị và hồi sức
bệnh tay-chân-miệng.
+ Có đơn nguyên điều trị bệnh tay-chân-miệng.
• Bệnh viện Nhi, Truyền nhiễm và các bệnh viện được Bộ Y tế phân
công là bệnh viện tuyến cuối của các khu vực.
- Khám, điều trị bệnh tay-chân-miệng tất cả các độ.
- Điều kiện:
+ Bác sỹ, điều dưỡng được huấn luyện nâng cao về điều trị và hồi sức bệnh
tay-chân-miệng.
+ Có đầy đủ trang thiết bị cấp cứu, hồi sức bệnh tay-chân-miệng.
+ Có đơn vị huấn luyện bệnh tay-chân-miệng.
18
1.3.3.3 Điều trị cụ thể:
 Độ 1: Điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở.
- Dinh dưỡng đầy đủ theo tuổi. Trẻ còn bú cần tiếp tục cho ăn sữa mẹ.
- Hạ sốt khi sốt cao bằng Paracetamol liều 10 mg/kg/lần (uống) hoặc 15
mg/kg/lần (toa dược) mỗi 6 giờ.
- Vệ sinh răng miệng.
- Nghỉ ngơi, tránh kích thích.
- Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 8-10 ngày đầu của bệnh. Trẻ có sốt phải
tái khám mỗi ngày cho đến khi hết sốt ít nhất 48 giờ.

- Immunoglobulin. Sau 24 giờ đánh giá lại để quyết định liều thứ 2 như
nhóm 2.
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, kiểu thở, tri giác, ran phổi
mỗi 1- 3 giờ trong 6 giờ đầu, sau đó theo chu kỳ 4-5 giờ.
- Đo độ bão hòa oxy SpO2 và theo dõi mạch liên tục (nếu có máy).
 Độ 3: Điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút, sau 30 – 60 phút nếu đáp ứng kém nên
đặt nội khí quản giúp thở sớm.
- Chống phù não: nằm đầu cao 30
o
, hạn chế dịch (tổng dịch bằng 1/2-3/4
nhu cầu bình thường), thở máy tăng thông khí giữ PaCO2 từ 30-35 mmHg và
duy trì PaO2 từ 90-100 mmHg.
20
- Phenobarbital 10 - 20 mg/kg truyền tĩnh mạch. Lặp lại sau 8-12 giờ khi
cần. Liều tối đa: 30 mg/kg/24 giờ.
- Immunoglobulin (Gammaglobulin): 1g/kg/ngày truyền tĩnh mạch chậm
trong 6-8 giờ, dùng trong 2 ngày liên tục.
- Dobutamin được chỉ định khi suy tim mạch > 170 lần/phút, liều khởi
đầu 5µg/kg/phút truyền tĩnh mạch, tăng dần 1-2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho
đến khi có cải thiện lâm sàng; liều tối đa 20µg/kg/phút (không dùng
Dopamin).
- Milrinone truyền tĩnh mạch 0,4 – 0,75 µg/kg/phút chỉ dùng khi HA cao,
trong 24-72 giờ. Nếu huyết áp ổn định trong 12-24 giờ, giảm dần liều
milrinone 0,1 µg/kg/phút mỗi 30-60 phút cho đến liều tối thiểu 0,25
µg/kg/phút. Nếu huyết áp ổn định ở liều tối thiểu này trong ít nhất 6 giờ thì
xem xét ngưng milrinone.
- Điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, toan kiềm, điều trị hạ đường huyết.
- Hạ sốt tích cực.
- Điều trị co giật nếu có: Midazolam 0,15 mg/kg/lần hoặc Diazepam 0,2-0,3

Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
1.4.1 Địa điểm nghiên cứu:
- Tại viện vệ sinh dịch tễ trung ương (NIHE: National Insitute of
Hygiene and Epidemiology)
 Ở miền Bắc Việt Nam số liệu bệnh truyền nhiễm được báo cáo
thông qua chương trình giám sát được thực hiện bởi NIHE và trung
tâm y tế dự phòng các tỉnh, thành phố trực thuộc.
 Theo quy định của thông tư 48/2010/TT –BYT ngày 31/12/2010tay-
chân-miệng là bệnh truyền nhiễm bắt buộc phải báo cáo trong hệ thống
giám sát (bao gồm báo cáo ngày, báo cáo tuần, báo cáo tháng, báo
cáo năm, báo cáo tổng kết vụ dịch…)
 Các trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệngđược ghi nhận, báo cáo
chủ yếu dưa trên triệu chứng trên lâm sàng của bệnh nhân, xét
nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ cho một số mẫu để khẳng định.
1.4.2 Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 11/2011 đến tháng 5/2012
1.5 Đối tượng nghiên cứu
- Báo cáo dịch hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và báo cáo tổng hợp ca
bệnh, vụ dịch từ trung tâm y tế dự phòng tỉnh Hòa Bình gửi lên.
- Báo cáo danh sách ca bệnh theo mẫu sẵn có theo quy định của Bộ Y tế.
23
- Phiếu điều tra dịch tễ ca bệnh nghi mắc tay-chân-miệng theo quy định
của Bộ Y tế.
- Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm nghi mắc bệnh tay-
chân-miệng.
Định nghĩa ca bệnh tay-chân-miệng giám sát
- Ca bệnh lâm sàng: trẻ em dưới 15 tuổi với các biểu hiện
o Sốt (trên 37,5

- Nghiên cứu được sự đồng ý của Viện vệ sinh dịch tễ trung ương
(NIHE) và số liệu thu thập chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không sử
dụng cho mục đích khác.
- Đánh giá và xứ lý số liệu khách quan, trung thực
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status