nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BÙI VĂN TÂM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM ẤU TRÙNG
SÁN LÁ SONG CHỦ TRÊN CÁ CHÉP VÀ CÁ TRẮM CỎ
TẠI THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ NHẬT THẮNG THÁI NGUYÊN - 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi. Các kết
quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng
cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đã đều
được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi
rõ nguồn gốc.

Tác giả
Bùi Văn Tâm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN



i
MC LC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệ u, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Lớp sán lá song chủ (Trematoda) 4
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh sán lá song chủ 15
1.1.3. Chẩn đoán bệnh sán lá song chủ 17
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 18
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 18
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tượng nghiên cứu 31
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 31
2.2.1. Địa điểm 31
2.2.2. Thời gian 31
2.3. Nội dung nghiên cứu 31
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi 31
2.5. Phương pháp nghiên cứu 32
2.5.1. Phương pháp thu thập mẫu 32
2.5.2. Phương pháp tiêu cơ 32


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

WHO
Tổ chức y tế thế giới
cm
Centimet
ml
Mililit
Nxb
Nhà xuất bản
Min
Nhỏ nhất
Max
Lớn nhất
H. pumilio
Haplorchis pumilio
H. taichui
Haplorchis taichui
C. formosanus
Centroestus formosanus
C. sinensis
Clonorchis sinensis


Bảng 3.12. Đề kháng của ấu trùng C. sinensis với dung dịch NaCl 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Cấu tạo cơ thể của Sán lá song chủ 8
Hình 1.2: Hệ bài tiết của Sán lá song chủ 10
Hình 1.3: Hệ thần kinh của Distomium caudatum (theo Grasse) 10
Hình 1.4: Vòng đời của sán lá song chủ truyền qua cá 15
Hình 1.5: Phân bố tình hình nhiễm sán lá gan Clonorchis/Opisthorchis ở
Việt Nam tính đến năm 2002 19
Hình 1.6. Bản đồ dịch tễ bệnh sán lá gan nhỏ trên thế giới 24
Hình 3.1: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo giai
đoạn phát triển của cá chép 42
Hình 3.2: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo cơ
quan cá chép 46
Hình 3.3: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo giai
đoạn phát triển của cá trắm cỏ 49
Hình 3.4: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo cơ
quan của cá trắm cỏ 53
Hình 3.5. Tỷ lệ nhiễm metacercaria trên cá Chép và cá Trắm cỏ 55
Hình 3.6. Cường độ nhiễm metacercaria trên cá Chép và cá Trắm cỏ 56


cá cho thấy tại Nam Định cá nuôi nhiễm ấu trùng sán lá song chủ là 45,7%,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
đây là nơi có tập quán ăn gỏi cá cho nên tỷ lệ số người nhiễm sán lá truyền
qua cá lên đến 65%. Có trường hợp bệnh nhân được phát hiện mang trong
người tới 4.834 sán lá ruột nhỏ và sán lá gan nhỏ.
Đáng chú ý, đã phát hiện ấu trùng sán lá ruột và sán lá gan nhỏ thuộc
giống Heterophyopsis sp, Echinostoma, Procerovum sp., Clonorchis Looss
trên cá mè trắng và cá rôhu, cá trắm cỏ tại Ninh Bình cũng bị nhiễm với tỷ lệ
80%, cá nuôi và 86 - 95% cá tự nhiên. Do đó việc các địa phương có tập tính
ăn cá gỏi một số loài cá như cá mè trắng, cá chép, cá trắm cỏ… có nguy cơ
nhiễm một số loại sán lá là không tránh khỏi. Việc nghiên cứu sự nhiễm ấu
trùng sán lá song chủ trên một số loài cá nuôi là một việc làm cần thiết nhằm
ngăn chặn sự rủi ro cho con người mắc phải ấu trùng sán lá song chủ khi ăn cá
sống ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế và sự đồng ý của Khoa Sau đại học
Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên, Trung tâm nghiên cứu Quan trắc
cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch Bệnh Thủy sản khu vực miền Bắc -
Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I. Chúng tôi đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá
trắm cỏ tại Thái Nguyên”
2. Mục tiêu đề tài
Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép, cá trắm
cỏ tại hai huyện Phú Lương và Phú Bình - Thái Nguyên.
Xác định một số nguyên nhân chính gây nhiễm ấu trùng (metacercaria)
sán lá song chủ - Trematoda các loài cá trên.
Đề xuất một số giải pháp chính nhằm giảm thiểu mức độ nhiễm ấu trùng
(metacercaria) sán lá song chủ - Trematoda đối với cá nuôi tại Thái Nguyên.

Bộ Fascolata Skrjanbin et Shulz, 1937
Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955
Họ Galactosomidae Looss, 1899
Loài Haplorchis pumilio Looss, 1899
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomata Odhner, 1905
Bộ Fasciolata Skrjanbin et Schulz, 1937
Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955
Họ Galactosimidae Morosov, 1950
Giống Haplorchis Looss, 1899
Loài Haplorchis taichui Nishigori, 1924
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomata Odhner, 1905

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Bộ Fasciolata Skrjanbin et Schulz, 1937
Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955
Họ Galactosimidae Morosov, 1950
Giống Procerovum Onji et Nishio, 1924
Loài Procerovum sp
Bộ Opisthorchida La Rue, 1957
Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955
Họ Heterophyidae Odhner, 1914
Giống Centroestus Looss, 1899
Loài Centrocestus formosanus Nishigori, 1924
Sán lá song chủ nhỏ hoặc sán lá gan nhỏ ấu trùng có tên gọi là
metacercaria. Loài sán này có vòng đời sống ký sinh trên các loại ốc hoặc
nhuyễn thể, vật chủ trung gian thứ hai có thể là cá, hoặc động vật có vú trong

trầu (Fasciolopsis buski) sống ký sinh trong ruột non của lợn và ruột tá của
người. Mỗi ngày sán lá ruột lợn có thể đẻ ra 5.000 trứng, phát triển qua 3-7
tuần, vật chủ trung gian của sán lá ruột lợn là ốc đĩa dày Polypilis
hemisphoerula. Kén của sán bám trên bề mặt của bèo Nhật bản, rau lấp, rau
muống phổ biến ở vùng đồng bằng. Sán lá ruột lợn hay Sán bã trầu ký sinh trên
lợn gây bệnh tắc ruột, phù gan thiếu máu và giảm hiệu quả kinh tế cho người
chăn nuôi; (3) Sán lá gan nhỏ sống ký sinh trong ống dẫn mật của người, mèo,
chó… Người bị nhiễm bệnh do ăn gỏi cá, triệu chúng phù gan, vàng da, viêm
túi mật sán phát triển qua 2 vật chủ trung gian là ốc Melanoides tuberculatus
hay ốc Parafossarulus striatulus và vật chủ trung gian thứ 2 là các loài cá trong
họ cá chép (chép, trắm cỏ, mè trắng, rô phi… ). Bệnh khá phổ biến ở Việt
Nam, vùng đồng bằng hay Tây nguyên; (4) Sán máu có 3 loài phổ biến là
Schistosoma haematobium (ký sinh ở bọng đái của người gây đái ra máu); S.
mansoni (ký sinh ở ruột người và vật nuôi gây bệnh lở loét ruột); S. japonicum
(sống ký sinh ở gan của người và vật nuôi gây sưng gan, lách). Bệnh gan do
sán máu S. japonicum rất phổ biến trên thế giới, theo thống kê hiện nay có
khoảng 200 triệu người bị nhiễm bệnh và hàng năm có khoảng 800.000 người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
bị chết (WHO, 1995) [44]. Sán tuyến tuỵ (Eurytrema pancreayticum, E.
coelomaticus, E. tonkinensis).
Nhìn chung các loại sán lá song chủ trên có vòng đời phát triển qua hai
vật chủ trung gian, giai đoạn trưởng thành đều ký sinh trên người và động vật
gây bệnh cho vật chủ bằng cách chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ. Tuy
các loài sán lá song chủ có vòng đời phát triển phức tạp, và trải qua nhiều giai
đoạn với nhiều vật chủ trung gian. Nhưng chúng ta chỉ cần phá vỡ một khâu
trong vòng đời phát triển của sán lá song chủ thì sẽ loại bỏ được sự lây truyền
ấu trùng sán sang người và vật nuôi. Chính vì vậy chúng ta cần tìm cách để

Theo Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang (2005) [1] cấu tạo cơ thể sán lá
song chủ Trematoda trưởng thành có những đặc điểm chính như sau: Hình 1.1. Cấu tạo cơ thể của Sán lá song chủ

A. Sơ đồ chung; A - G. Biểu hiện ở Sán lá gan lớn
1. Giác miệng; 2. Hầu; 3. Thực quản; 4. Lỗ sinh dục; 5. Giác bụng; 6. Tuyến
noãn hoàng; 7. Ống Laurer; 8. Ôôtyp; 9. Ống noãn hoàng; 10. Nhánh ruột;
11. Tuyến tinh; 12. Bọng đái; 13. Tử cung; 14. Ống dẫn tinh; 15. Tuyến vỏ;
16. Túi nhận tinh; 17. Tuyến trứng; 18. Cơ quan giao phối; 19. Đĩa bám.
(Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
- Cơ thể sán lá song chủ thường dẹp hình trứng, hình lá đối xứng hai
bên hoặc không đối xứng, một số cơ thể còn chia làm 2 phần trước sau, có

Hình 1.2. Hệ bài tiết của Sán lá song chủ
(Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1]
- Hệ thần kinh: Sán lá song chủ có hệ thần kinh bao gồm đôi hạch não
nằm trên hầu và các đôi dây thần kinh chạy dọc, thường là 3 đôi. Dây thần
kinh bên hoặc dây thần kinh bụng phát triển hơn cả.

Hình 1.3. Hệ thần kinh của Distomium caudatum (theo Grasse)
(Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
- Sán lá song chủ tiêu giảm các giác quan, chúng tiêu giảm để thích
nghi phù hợp với vòng đời ký sinh trong vật chủ.
- Hệ sinh dục: Sán lá song chủ trừ một số họ như Schistomatidae,
Didymozoidae còn lại đều có hệ thống sinh dục lưỡng tính, đực cái trên cùng
một cơ thể. So với sán lá đơn chủ, sán lá song chủ có hệ thống sinh dục đa
dạng hơn.
+ Cơ quan sinh dục đực: Gồm 1 - 2 tuyến tinh lớn chiếm gần hết thân
còn gọi là tinh hoàn, có hai ống dẫn tinh nhỏ chạy về phía trước, tập trung
với nhau thành ống phóng tinh và tận cùng là cơ quan giao phối nằm trước
giác bụng.
+ Cơ quan sinh dục cái: Cơ quan sinh dục cái nằm ở khoảng giữa thân,
bao gồm tuyến trứng, từ tuyến trứng có ống dẫn trứng ngắn đổ vào khoang bé
gọi là ôôtyp. Từ khoang ôôtyp đi ra là tử cung uốn khúc chạy đến lỗ sinh dục
cái cạnh lỗ sinh dục đực trong huyệt sinh dục. Tử cung là một ống ngoằn
nghèo gấp khúc. Tuyến noãn hoàng ở hai bên cơ thể đổ vào hai nhánh nhỏ sau
đó hợp thành bầu rồi dẫn đến khoang ôôtyp để làm vỏ. Khoang ôôtyp có túi
nhận tinh. Thể melít có dạng hình tròn gồm nhiều tế bào bao quanh ôôtyp.
- Quá trình thụ tinh xẩy ra như sau: Noãn từ tuyến trứng được chuyển

sporocyste có hình tròn hay hình túi, bề mặt có khả năng thẩm thấu dinh
dưỡng. Bào nang sporocyste có thể xoang lớn, chúng tiến hành sinh sản đơn
tính (vô tính) rất nhanh cho nhiều ấu trùng redia.
+ Giai đoạn ấu trùng redia: Ấu trùng redia hình túi có thể di động, cấu
tạo cơ thể có hầu và ruột dạng hình túi ngắn. Ấu trùng redia lớn lên, phá
màng của bào nang để ra khỏi tổ chức gan rồi di chuyển đến cơ quan tiêu hoá
của ốc. Cơ thể ấu trùng redia phát triển dài ra, hầu và ruột phát triển, có hai
ống bài tiết. Phía sau cơ thể ấu trùng redia có một đám tế bào mầm tiến hành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
sinh sản đơn tính cho nhiều ấu trùng cercaria. Có chủng loại sán lá song chủ
không qua giai đoạn ấu trùng redia mà phát triển trực tiếp qua cercaria.
Còn một số giống loài ấu trùng cercaria sau khi tách khỏi cơ thể redia
hình thành bào nang (kén) ngay trong cơ thể ốc hoặc chui ra nhưng lại tiếp tục
xâm nhập vào cơ thể ốc đó. Cercaria rời khỏi cơ thể ốc ra ngoài, nhờ có đuôi
mà có thể hoạt động tự do trong nước. Sau một thời gian, cercaria bám vào lá
cây thuỷ sinh rụng đuôi, kết vỏ cứng tạo thành bào xác (abdocercaria). Cũng
có khi cercaria có phần đầu kết vỏ trong suốt nằm trong nội quan của vật
chủ trung gian thứ hai trước khi vào vật chủ chính (được gọi là metacercaria).
Các giống loài sán lá song chủ lấy cá là ký chủ trung gian thứ 2, đa số
ấu trùng cercaria chủ động xâm nhập vào cơ thể cá và hình thành
metacercaria, một số ít giống loài ngoài môi trường, ký chủ cuối cùng trực
tiếp nuốt bào nang metacercaria.
Dạng cercaria hay metacercaria đều là dạng nhiễm bệnh sán lá gan ở
trâu bò và các loại vật nuôi khác. Khi trâu bò ăn cỏ, hoặc vật nuôi ăn phải ấu
trùng sán lá song chủ bào xác vào ruột và tại ruột vật chủ thứ hai vỏ bào xác
sẽ bị dịch tiêu hoá của vật chủ phân huỷ, sau đó sán lá song chủ non được
giải phóng, chúng di chuyển theo ống mật vào gan và sống ký sinh ở trong đó.

chủ cuối cùng ăn vào phát triển thành trùng trưởng thành như sán lá ruột
lợn (sán bã trầu).
+ Ấu trùng cercaria không ra khỏi ký chủ trung gian thứ nhất mà ở
trong đó hình thành bào nang metacercaria ví dụ sán lá gan lớn ở trâu bò.
* Có hai ký chủ trung gian:
+ Cả hai ký chủ trung gian là nhuyễn thể.
+ Ký chủ trung gian thứ hai là các loài giáp xác hay côn trùng, lưỡng
thê hoặc cá nước ngọt.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15

Hình 1.4. Vòng đời của sán lá song chủ truyền qua cá
(Nguồn: Dự án FIBOZOPA)
Để hoàn thành vòng đời, các giai đoạn phát triển cần các điều kiện nhất
định nên xác suất để sán lá song chủ xâm nhập được vào vật chủ thích hợp và
kết thúc vòng đời là không cao. Bởi vậy, sán lá song chủ nói chung cần phát
triển cơ quan sinh dục để hình thành nhiều trứng, sinh sản đơn tính làm tăng
nhanh số lượng ấu trùng để tăng xác suất gặp vật chủ.
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh sán lá song chủ
Metacercaria của sán lá song chủ sống ký sinh trong cơ thể cá nước
ngọt (Pseudorasbora parva), chúng có thể tồn tại ở nhiệt độ -12
0
C trong thời
gian 10 - 20 ngày, ở nhiệt độ -20
0
C trong thời gian 3 - 7 ngày, hoặc trong môi
trường muối với nồng độ cao (cá/muối = 10 gm/gm
3

người bệnh đau vùng gan nhiều hơn, kèm theo thiếu máu, vàng da và cổ
trướng, có thể xuất hiện ở giai đoạn muộn. Nếu mắc bệnh bội nhiễm do vi
khuẩn, bệnh nhân có thể sốt thành từng cơn hoặc sốt kéo dài.
Ở trong ống dẫn mật, sán gây ra một phản ứng viêm, biểu mô tăng sản

Trích đoạn Kết quả nghiên cứu khối lượng của cá chép và cá trắm cỏ Mức độ nhiễm metacercaria trên cá trắm cỏ qua các giai đoạn Mức độ nhiễm các loài metacercaria trên các cơ quan của cá Sức đề kháng của ấu trùng sán lá song chủ Các biện pháp ngăn chặn sự lây nhiễm metacercaria trên cá giống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status