Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
LỜI CẢM ƠN
Trước khi bắt đầu bài viết chuyên đề tốt nghiệp này em xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới trường “Đại Học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh”. Nơi mà trong
suốt thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được học tập, rèn luyện và tìm
hiểu thêm những kiến thức mới những trí thức mới.
Và em xin được gửi lời cám ơn chân thành và lời tri ân sâu sắc đến thầy cô
giáo trường Đại Học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh chi nhánh Thanh Hóa, đã
truyền đạt những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm bổ ích trong suốt quá trình
học tập, đặc biệt cô giáo Trần Thị Hường là những người đã trực tiếp tham gia
giảng dạy, tận tình quan tâm hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt
nghiệp.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Khánh
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
PHẦN II: NỘI DUNG…………………………………………………………….8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NHTM
VIỆT NAM……………………………………………………………………… 7
1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM………………………… 7
1.2 Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM…………………… 9
1.3 Sự cấp thiết và nội dung xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM……………11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT
NAM……………………………………………………………… 16
2.1 Thực trạng và nguyên nhân nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam… 16
2.1.1 Thực trạng nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam……………… 16
2.1.2 Nguyên nhân nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam…………… 21
2.2 Đánh giá chung về tình hình nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam… 24
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XỬ LÍ NỢ XẤU VÀ PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ
NỢ XẤU GIA TĂNG TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM ………….27
3.1 NHTM chủ động xử lý nợ xấu ………………………………………….27
3.2 Giải pháp đối với khách hàng vay vốn của NHTM……………………29
3.3 Giải pháp về cơ chế chính sách……………………… …………………30
3.4 Giải pháp về thanh tra giám sát………………………………………….43
3.5 Thành lập công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam theo
đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt…………………………….44
PHẦN III: KẾT LUẬN………………………………………………………….46
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………….47
PHẦN I. MỞ ĐẦU
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
1. Lý do chọn đề tài
Sau 20 năm đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển đáng kể.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng cao, ổn
định, có môi trường đầu tư an toàn trong khu vực và trên thế giới. Đóng góp vào sự
3. Nội dung chuyên đề
Chuyên đề gồm 3 chương sau:
• Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam
• Chương 2: Thực trạng nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam
• Chương 3: Giải pháp xử lí nợ xấu và phòng ngừa, hạn chế nợ xấu gia tăng
trong hệ thống NHTM Việt Nam
PHẦN II. NỘI DUNG
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG
NHTM VIỆT NAM
1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM
1.1.1 Khái niệm rủi ro
Rủi ro là một sự cố không chắc chắn xảy ra hoặc ngày giờ xảy ra không chắc
chắn.
Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những
tình trạng không chắc chắn có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là
rủi ro.
Nguyên nhân gây rủi ro trong hoạt động NHTM: Nguồn tiền của các NHTM
đang thay đổi mạnh mẽ do gia tăng cạnh tranh trong hệ thống NH, giữa các NH với
các tổ chức tài chính dưới ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn vốn do
ngân hàng huy động được ngày càng di chuyển một cách dễ dàng từ ngân hàng này
sang ngân hàng khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Sự thay đổi của tỷ giá
hối đoái, lãi suất làm phá vỡ sự ổn định của thị trường vốn và thị trường tiền tệ và
có khả năng gây ra rủi ro cho hoạt động NHTM.
1.1.2 Bản chất của rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dung là hoạt động kinh doanh
đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro
rất lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy rủi to tín dụng chiếm đến 70% trong
tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ
vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo
lãnh, bao thanh toán của NH.
Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi
ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của NH.
Bản chất
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất
của NHTM. Khi quyết định thực hiện một khoản tài trợ NH xét xét phân tích nhằm
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
đảm bảo độ an toàn cao nhất cho khoản vay. Tuy nhiên khả năng hoàn trả tiền vay
của khách hàng chịu sự tác động của nhiều yếu tố những yếu tố bất ngờ không thể
dự đoán trước. Mặt khác việc phân tích tín dụng còn phụ thuộc vào khả năng hay
các yếu tố củ quan của cán bộ NH. Vì vậy có thể nói rủi ro tín dụng là không thể
tránh khỏi và tồn tại khách quan gắn liền với hoạt động kinh doan của NH, nó chỉ
có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Rủi ro tín dụng chính là khoản lỗ
tiềm tàng vốn có, được tạo ra khi NH cấp tín dụng.
1.2 Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM
• Theo quan điểm quốc tế
Ở các nước trên thế giới khái niệm về nợ quá hạn ( Non- Performing Loan) là
khoản nợ mà NH không thu hồi được khi đến hạn. Nợ xấu ( Bad Debt) là khoản nợ
mà hầu như không có khả năng thanh toán, nợ tồn đọng dây dưa khó có thể thu
hồi.
Theo chuẩn quốc tế, nợ xấu là những khoản nợ quá hạn không đòi được và
không được tái cơ cấu.
Các NH lớn trên thế giới hiện nay phân loại nợ xấu gắn với nguyên nhân xảy ra
để xác định mức độ rủi ro tương ứng. Theo một số tiêu chí của NHTW Liên Minh
Châu Âu, có thể xác định nợ xấu của các NHTM như sau:
- Những khoản nợ không thể thu hồi được:
+ Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc không có căn cứ bồi thường.
+ Người mắc nợ bỏ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
mãi không đủ trang trải nợ gốc lẫn lãi.
+ Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày.
- Theo Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN của Thống đốc NHNN thì nợ xấu được
hiểu như sau: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4,5 bao gồm:
+ Nợ dưới tiêu chuẩn ( nợ nhóm 3): các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu
lại. Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc
và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một phàn nợ gốc và lãi.
+ Nợ nghi ngờ ( nợ nhóm 4): gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360, các
khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã
được cơ cấu lại. Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao.
+ Nợ có khả năng mất vốn ( nhóm 5): gồm các khoản nợ quá hạn trên 360, các
khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ
quá hạn trên 180 ngày theo thời gian đã được cơ cấu lại. Các khoản nợ này được
TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi vốn, mất vốn.
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
Ngoài ra, trong trường hợp 1 khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với
TCTD mà có bất cứ khoản nợ nào chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao thì TCTD bắt
buộc phải phân loại khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào nhóm nợ rủi ro cao
hơn tương ứng với mức độ rủi ro; trường hợp các khoản nợ ( kể cả các khoản nợ
trong hạn theo thời hạn nợ cơ cấu lại) mà TCTD có đủ cơ sở để đánh giá khả năng
trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì TCTD chủ động tự quyết định phân loại các
khoản nợ đó vào nhóm nợ rủi ro cao hơn.
1.3 Sự cấp thiết và nội dung xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM
1.3.1 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động của ngân hàng thương mại
Nếu các khoản nợ xấu này lớn, tức là khả năng thu hồi các khoản nợ khách
hàng của NH thấp. Do đó NH phải dùng vốn để trang trải cho các khoản thất thoát
này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc "xóa sổ" những
khoản thất thoát này, ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh
cho vay. Nổi bật nhất là khó khăn trong việc thu ngân và tổn thất có thể xảy ra đối
với khoản cho vay, trong trường hợp này NH phải áp dụng hình thức thu ngân bắt
buộc theo luật. Bên cạnh đó có các yếu tố như sự thật thà và thái độ của người vay
đối với các khoản nợ, sức mạnh tài chính là khả năng chi trả của người vay, mặc
dù cần thiết thời gian đáng kể, giá trị của người vay đối với NH, chi phí kèm theo
việc thu NH khôi phục cho người vay và phương pháp nào sẽ đem lại lợi ích lớn
nhất cho ngân hàng trên số vốn đã và đang bị khó khăn. Một yếu tố cuối cùng cần
phải quan tâm là thái độ của chủ nợ, mà điều này xảy ra rất nhiều. Trong việc xử lí
ngoài phạm vi của toà án, sự sắp xếp các việc phải làm cần được những người liên
quan chấp nhận. Một người phản đối có thể làm cho kế hoạch không được thực
hiện phải thuyết phục của chủ nợ này rằng, họ được lợi bằng cách cộng tác với một
kế hoạch được đề nghị hơn là hoạt động đơn phương
Khi người vay gặp khó khăn về tài chính, NH thường tham gia tổ chức khai
thác, dĩ nhiên phải đặt trong giả thuyết người vay thật thà thái độ của họ đối với
khoản nợ và chi trả là thoả đáng. Điều này đặc biệt đúng, nếu như người vay có
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
vốn lớn trong doanh nghiệp, một số tài sản cố định có giá trị, một tổ chức có thể
tạo lợi nhuận đủ số lượng để hoàn trả khoản vay đáng nghi vấn, cũng như những
khoản cho vay khác cần cho việc duy trì doanh nghiệp, nếu người vay không thể
trả nợ theo nghĩa sự vỡ nợ thì NH nên thực hiện thanh lí. Hầu hết các khoản cho
vay khó đòi tại NHTM được xử lí bằng phương pháp khai thác, nghĩa là người vay
được phép tự khắc phục khó khăn tài chính và hoàn trả các khoản nợ NH càng
nhanh càng tốt. Vì tổ chức khai thác không phải là một công cụ pháp lí, nó có thể
có một số hình thức khác nhau giữa những khoản cho vay các biện pháp có thể bao
gồm lời khuyên trên nhiều chủ đề nhằm tác động đến khả năng tạo ra và thu lợi tức
của người vay, gia hạn hoặc điều chỉnh hợp đồng cho vay để giảm bớt quy mô
hoàn trả cấp phát thêm vốn nhằm tạo cho người vay có được vị thế tài chính mạnh
hơn NH nắm phần chủ động trong hoạt động kinh doanh nó, cho đến khi bảo đảm
rằng, khoản cho vay sẽ được hoàn trả. Khi bất cứ khoản cho vay nào đến giai đoạn
các chủ nợ và ai cũng muốn lấy lại tiền và có vị thế mạnh tương ứng như NH thì
một uỷ ban chủ nợ có thể được thành lập. Cách giải quyết này không áp dụng cho
trường hợp phá sản và cũng có thể áp dụng phương pháp khai thác. Phá sản có 2
hình thức bồi thường cơ bản cho các chủ nợ, thanh lí và hồi phục. Phá sản có thể
miễn cưỡng hay cố ý. Nó là biện pháp cuối cùng theo quan điểm của các chủ nợ.
NH hay bất cứ chủ nợ nào khác bao giờ cũng mong muốn nhận được phần đáng kể
các khoản cho vay từ quá trình thanh lí nhưng thực tế thường không được như
mong muốn. Trong nhiều trường hợp, nó được áp dụng khi các chủ nợ không thể
đạt thoả thuận hợp lý liên quan đến các biện pháp phải thực hiện để thu hồi được
vốn vay, hay khi 1 chủ nợ nhỏ nào đó từ chối tiến hành một thoả thuận hợp tác hay
khi người vay từ chối làm việc với chủ nợ để cố gắng giải quyết khó khăn tài
chính.
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU TRONG
HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
2.1 Thực trạng và nguyên nhân nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam
2.1.1 Thực trạng nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam
Tình hình "nợ xấu" trong những năm gần đây đã được đề cập đến nhiều
nhưng hầu như bài toán hóc búa này chưa có lời giải cuối cùng.
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
Ta có thể thấy, tỷ lệ nợ xấu của các NHTM liên tục tăng từ năm 2009, và
đỉnh điểm là năm 2012, tỷ lệ nợ xấu đã lên đến 7,8% dư nợ của các NHTM và có
giảm nhẹ xuống 6% vào năm 2013.
Đến tận thời điểm này, tức là gần 21 tháng kể từ thời điểm Thống đốc
Nguyễn Văn Bình đưa ra một con số nợ xấu ước tính xấp xỉ 10% tại kỳ họp quốc
hội vào tháng 6/2012, NHNN vẫn chưa thể, hoặc chưa dám, công bố con số chính
thức và đáng thuyết phục về quy mô nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Thị trường đã tự có các ước tính của mình, và con số ước tính giao động trong
khoản vào vào nhóm nợ xấu ở các TCTD cũng có những điểm khác nhau.
Cụ thể tình hình nợ xấu ở các NHTM như sau:
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
Từ biểu đồ trên ta có thể thấy được, Ngân hàng TMCP Xăng Dầu (PG Bank)
đang là ngân hàng dẫn đầu về tỷ lệ nợ xấu, tính đến hết tháng 9.2013, PGBank có
1.240 tỉ đồng nợ xấu chiếm 9,5% trên tổng dư nợ 13.057 tỉ đồng. Ngân hàng
TMCP Nam Việt (Navibank) xếp thứ hai về tỷ lệ nợ xấu khi có 1.034 tỉ đồng nợ
xấu, chiếm 8,87% dư nợ. Navibank có tổng dư nợ cho vay chín tháng đầu năm đạt
11.786 tỉ đồng, âm 9% so với đầu năm. Ngân hàng Phương Nam có tỷ lệ nợ xấu
3,79% (1.650 tỉ đồng) trên tổng dư nợ 43.539 tỉ đồng. So với đầu năm, số tuyệt đối
thì nợ xấu của ngân hàng này đã tăng 474 tỉ đồng. Đặc biệt, nợ có khả năng mất
vốn tăng 25% lên 999 tỉ đồng. Ngân hàng TMCP Đại Dương (Ocean Bank) là
trường hợp ngân hàng có mức độ tăng nợ xấu thuộc loại nhanh nhất trong các ngân
hàng. Thời điểm đầu năm chỉ có 666 tỉ đồng nợ xấu, chiếm 2,26% trên tổng dư nợ.
Tuy nhiên đến 30.9 nợ xấu của Ocean Bank đã tăng lên 1.458 tỉ đồng, chiếm
5,21% trên tổng dư nợ cho vay 27.948 tỉ đồng. Trong cơ cấu nợ xấu, nợ có khả
năng mất vốn chiếm đến 986 tỉ đồng, tương đương 67,7% tổng nợ xấu và gấp hơn
hai lần so với con số 355 tỉ đồng nợ có khả năng mất vốn hồi cuối năm 2013.
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
Trong các ngân hàng có mức vốn hoá nhỏ thì ngân hàng TMCP Nam Á
(Nam A Bank) có tỷ lệ nợ xấu khá thấp 2,17% trên tổng dư nợ. Nam A Bank đã
kiểm soát khá tốt chất lượng tín dụng của mình khi chỉ có 188,5 tỉ đồng nợ xấu trên
8.664 tỉ đồng dư nợ cho vay. So với cuối năm 2012 thì tỷ lệ nợ xấu của Nam A
Bank đã giảm 0,30%. Thời điểm đầu năm 2013, tỷ lệ nợ xấu của Dong A Bank
chiếm 3,95% với gần 2.000 tỉ đồng, nhưng nhờ triển khai các biện pháp xử lý
mạnh đã kéo nợ xấu giảm xuống còn 1.503 tỉ đồng, chiếm 2,93% trên tổng dư nợ.
Nợ xấu của các ngân hàng “top dưới” kể trên có trường hợp tăng hoặc giảm,
thì đối với các ngân hàng được cho là “top trên” nợ xấu hầu hết đều tăng, đặc biệt
Về con số cụ thể, ngân hàng BIDV có khoản nợ có khả năng mất vốn cao
nhất, lên tới 3.984,4 tỷ đồng; của Vietcombank cũng hơn 2.261 tỷ; của Vietinbank
là 5.431 tỷ đồng. Ngân hàng ACB hiện có 829,1 tỷ đồng nợ có khả năng mất vốn;
MB có 629,4 tỷ; Techcombank là 610,8 tỷ…
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
So với thời điểm cuối năm 2011, nợ có khả năng mất vốn của các ngân
hàng đặc biệt tăng rất mạnh, ngoại trừ KienLongBank giảm gần 4%. Có thể kể đến
một số cái tên như LienVietPostBank tăng đến 53 lần so với cuối 2011 (từ 4,48 tỷ
lên 243,8 tỷ); của BaoVietBank tăng hơn 6 lần từ 23,5 tỷ lên hơn 170 tỷ.
Một số khác cũng có mức tăng nợ nhóm 5 khá mạnh như tại Techcombank
là 1,7 lần; của ACB gần 1,8 lần; Sacombank hơn 1,5 lần, Vietinbank 1,82 lần Ngân
hàng Vietcombank tăng nợ nhóm 5 thêm 41%; của MB tăng 33,5%; của Navibank
tăng 79%.
Tuy nhiên, triển vọng nợ có khả năng mất vốn của các ngân hàng sẽ tăng
chậm lại trong năm 2014, bởi vì các NH đã bắt đầu đẩy mạnh tự xử lý nợ xấu bằng
cách tăng đòi nợ, giãn nợ, khoanh nợ cho các đối tượng khách hàng từ đầu quý 4
năm 2012.
2.1.2 Nguyên nhân nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam
Thứ nhất, do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh và
tài chính của các doanh nghiệp suy giảm:
Kể từ cuối năm 2008, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao.
Những tác động tiêu cực này khiến cho Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu
chậm lại, năm 2012 tăng trưởng kinh tế ước chỉ đạt 4,38% so với năm 2011. Các
chỉ số tiêu dùng (Gồm cả chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp và chỉ số tiêu dùng
cá nhân) tăng chậm so với cùng kỳ các năm trước. Trong khi đó, tại các doanh
nghiệp chỉ số tồn kho tăng mạnh và ở mức cao so với cùng kỳ các năm trước, tại
thời điểm 1/12/2012, chỉ số hàng tồn kho của ngành công nghiệp chế biến tăng
26% so với cùng kỳ năm 2011. Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn trong sản
Ngoài ra, nợ xấu còn nằm ở dạng “chuyển vốn cho vay thành vốn góp.” Khoản nợ
này không chỉ “rất xấu” mà còn nguy hiểm ở chỗ đôi khi chỉ tồn tại trên sổ sách
của con nợ và chủ nợ.
Thứ tư, do tình trạng sở hữu chéo:
Một nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright công bố mới
đây về sở hữu chéo giữa Ngân hàng với doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam cho thấy
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
hệ thống Ngân hàng đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo
quan hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm NH, thu xếp vốn cho những dự án
đầu tư chưa minh bạch. Theo đó, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn
kinh tế Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính
nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược
trong các NHTM. Chưa kể, các NH cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các
NHTM là các công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào những NH khác có tiềm năng.
Hiện không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở
hữu chéo khi họ có trong tay khá nhiều NH. Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đến
nay, gần 40 Doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân sở hữu trên 5% tại các NHTM cổ
phần và các doanh nghiệp này lại sở hữu các công ty đầu tư tài chính. Tình trạng
sở hữu chéo này có thể dẫn tới rất nhiều hệ lụy, một trong số đó là làm tăng tỷ lệ
xấu của các NH. Bởi lẽ, việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các NHsẽ tạo điều
kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu NH này có thể dễ dàng vay được vốn từ NH
kia, hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại NH
vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối NH khác
và biến ngân hàng này thành "sân sau” của mình, họ có thể buộc NH bị chi phối
cấp tín dụng cho những dự án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ
thân thiết. Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay
thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu. Do đó, tình trạng sở hữu chéo được xem
là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong thời gian
gần đây.
tài sản đảm bảo (giá trị 134.8% giá trị các khoản nợ)". So với tổng dư nợ cấp tín
dụng cho nền kinh tế Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu hiện nay ở mức 4,47% theo báo cáo
của TCTD hay 8,6% theo kết quả giám sát vẫn thấp hơn so với tỷ lệ nợ xấu của
một số nước trong khu vực tại thời điểm Chính phủ phải đứng ra xử lý nợ xấu, cụ
thể: Hàn Quốc 17% (tháng 3/1998), Thái Lan 47,7% (tháng 5/1999), Malaysia
11,4% (tháng 9/1998), Indonesia trên 50% (năm 1999).
● Một số yếu tố giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các TCTD
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường
Mặc dù các TCTD Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ tín dụng khá lớn
(8,6% theo kết quả giám sát) và đang có chiều hướng tăng nhưng vẫn còn thấp hơn
so với nhiều nước (Albania: 18,8%; Latvia: 17,5%; Lithuania: 16,4%; Montenegro:
15,5%; Romania: 14,1%; Serbia: 18,8%; Kazakhstan: 30,8%; Tajikistan: 14,9%;
Ukraine: 14,7%; Pakistan: 16,2%). Bản chất nợ xấu hiện nay của các TCTD có
nhiều yếu tố góp phần làm giảm thiểu tổn thất, cụ thể:
- Thứ nhất, đến cuối tháng 12/2013 các TCTD đã trích lập dự phòng rủi ro được
70000 tỷ đồng, chiếm 34% nợ xấu.
- Thứ hai, phần lớn nợ xấu được bảo đảm bằng tài sản (84% các khoản nợ có tài
sản đảm bảo) nhờ đó TCTD có thể thu hồi được một phần hoặc toàn bộ khoản nợ
xấu từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm (tuy nhiên việc xử lý tài sản đảm bảo, thu
hồi nợ trong thực tiễn là không dễ dàng và cần một thời gian dài).Tổng giá trị tài
sản bảo đảm bằng 134,8% tổng nợ xấu.
Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng và an toàn hoạt
động tín dụng. Điều quan trọng nhất là nợ xấu phải được phân loại, ghi nhận và
SVTH: Nguyễn Khánh MSSV: 10012203 Trang 25