1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Loạn năng thái dương hàm (tiếng Anh là TMD: TemporoMandibular
Disorders) [1] là một bệnh lý của bộ máy nhai, có nguyên nhân chủ yếu là rối
loạn khớp cắn và nó thường gồm những hội chứng chính như: loạn năng cơ
nhai và loạn năng khớp thái dương hàm [2], [3], [4].
Loạn năng thái dương hàm (LNTDH) có thể tác động lên khớp thái
dương hàm, ban đầu làm nhuyễn sụn khớp, sau đó là thoái hóa và có thể đi
đến dính khớp [5]. Nếu không được điều trị thì dẫn đến hư khớp, tiêu các đầu
xương, gây xơ cứng khớp, làm hạn chế vận động hàm một phần hay toàn bộ.
Ngoài ra LNTDH còn thường kèm theo những tổn thương ở răng, co thắt cơ
nhai gây đau và những rối loạn của cơ quan lân cận [1]
Theo một nghiên cứu của Lipton (1993) thì 12,1% dân Mỹ trưởng
thành có đau do LNTDH [6]. Theo một nghiên cứu cắt ngang tình trạng
LNTDH trên dân Mỹ của hiệp hội LNTDH Mỹ cho thấy 75% dân Mỹ có dấu
hiệu LNTDH, trong đó 33% có triệu chứng của LNTDH và 5 - 7% cần được
điều trị [7]. Theo nghiên cứu của Solberg (1979) thì chỉ 20,1% sinh viên Mỹ
là không có triệu chứng của LNTDH [8]. Một nghiên cứu khác trên 250 nữ Y
tá Mỹ cho thấy 69% có triệu chứng LNTDH tại cơ và khớp, trong đó 6% có
biểu hiện nặng cần phải được điều trị [9].
Theo nghiên cứu của Hồ thị Ngọc Linh (2003) [10] trên 1020 công
nhân của công ty dệt phong phú TP HCM cho thấy số người có biểu hiện
LNTDH chiếm tỷ lệ rất cao đến 60,5%. Triệu chứng hay gặp nhất là tiếng kêu
khớp chiếm 39,1%.
Theo nghiên cứu của Phạm Như Hải (2006) [11] trên 544 người dân Hà
nội về tình trạng LNTDH, cho thấy tỷ lệ đối tượng điều tra có một trong
những triệu chứng của LNTDH là 64,7%. Trong đó tỷ lệ có biểu hiện loạn
năng từ trung bình đến nặng chiếm 20,6% đối tượng.
Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh cao nhưng công tác chẩn đoán và điều trị
LNTDH vẫn là 1 chủ đề gây nhiều tranh cãi. Bệnh nguyên vẫn còn nhiều giả
thuyết trái ngược nhau, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng LNTDH có
loạn năng bộ máy nhai và đánh giá lại theo các tiêu chí khớp cắn và
biểu hiện ở khớp thái dương hàm.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhất là
trong những năm cuối của thế kỷ XX nhưng LNTDH vẫn còn là một chủ đề
gây nhiều tranh cãi [2], [10], [13], [3], [4].
1.1. Khái niệm về LNTDH
Xương hàm với khớp thái dương hàm và các răng trên cung hàm là các
thành phần hoạt động chính của bộ máy nhai. Chuyển động nhai sẽ đạt hiệu
quả cao nếu các thành phần của khớp vận động hài hòa, các răng tiếp khớp
đúng với nhau không gây cản trở khi nhai. Hiệu quả nhai sẽ giảm khi có bất
thường ở khớp (di lệch đĩa khớp, biến dạng đĩa khớp, viêm khớp) hay các
răng tiếp khớp với nhau không tốt (răng mọc lệch, mất răng ), dẫn đến các
cơ nhai phải tăng hoạt động để bù lại phần giảm hiệu quả, làm cho các cơ nhai
mệt mỏi, lâu ngày dẫn đến mất bù và biểu hiện ra thành các triệu chứng của
LNTDH như: đau khớp hàm, đau cơ, há miệng hạn chế (các triệu chứng
thường xuất hiện khi có thêm yếu tố thuận lợi: mắc 1 bệnh cấp tính, cơ thể
mệt mỏi, suy giảm sức đề kháng, căng thẳng trí óc ).
Về định nghĩa LNTDH:
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, rõ ràng cho
LNTDH [14]. Tuy nhiên định nghĩa của Kirveskari (1998) được nhiều tác giả
chấp nhận nhất [15],[16],[8], theo Kirveskari LNTDH được xem như là một
tập hợp hỗn tạp những tình trạng ảnh hưởng lên cơ nhai và khớp thái dương
hàm [7], nó được xem là kết hợp của 2 hội chứng chính:
- Loạn năng cơ nhai (Muscle Disorders): Đau và co thắt cơ.
- Loạn năng khớp thái dương hàm (Temporo Mandibular Joint
Dysfunction): Đau khớp, tiếng kêu khớp, há miệng hạn chế.
4
chuyển động hài hòa của đĩa khớp - lồi cầu. Khả năng chịu lực tối đa của đĩa
khớp trên thực nghiệm là 180 kg [10],[14],[18].
Bao khớp:
Bao khớp là một bao hình trụ tạo bởi những sợi đàn hồi, chiều dày 2-3
mm. Phía trên bám vào bờ trước chỏm thái dương, đáy gai bướm, bờ trước
của khe Glaser, mỏm gò má. Phía dưới bám quanh lồi cầu. Bao khớp gồm có
2 lớp nông và sâu. Lớp sâu do bám vào đĩa khớp nên chia làm 2 phần: Bao
khớp thái dương - đĩa, bao khớp đĩa - lồi cầu. Lớp nông không bám vào đĩa
khớp mà chỉ phủ ngoài lớp sâu. Hầu như không có ranh giới giữa hai lớp
nông và sâu.
Ở phía sau, những sợi thái dương - đĩa khớp tạo thành một dây phanh,
hãm chuyển động ra trước của đĩa. Những sợi ở phía sau này tạo thành một
đệm sau lồi cầu, rất giàu mạch máu, giãn ra khi há miệng và nhờ vào tính đàn
hồi mà kéo đĩa trở về lại vị trí cũ khi ngậm miệng. Khi lồi cầu ở tư thế tương
quan trung tâm thì những sợi dây phanh sau này sẽ xếp nếp lại, thu vào
trong khe Glaser. Trước khi xương thái dương bị canxi hóa hoàn toàn thì ta
thấy có sự nối thông giữa hòm nhĩ với khoang khớp thái dương hàm và
đường nối này sau đó là chỗ bám của dây chằng sau đĩa và dây chằng búa
hàm [27],[28]. Qua trung gian dây chằng búa hàm này mà LNTDH gây ra
các triệu chứng ở tai [29].
Phía trước: Bao khớp được chia thành hai phần là trên và dưới, chiều
dài không bằng nhau. Phần trên là do biệt hóa của bám tận cơ chân bướm
ngoài (phía trong) và cơ thái dương (phía ngoài). Phần dưới là do biệt hóa của
bám tận cơ cắn [30].
6
Dây chằng:
Có nhiều dây chằng nối lồi cầu với nền sọ, có nhiệm vụ giới hạn phạm
vi vận động của lồi cầu [31]. Các dây chằng lại được chia thành thành 2
nhóm: Dây chằng tại khớp và dây chằng ngoài khớp.
1.2.2. Hệ thống cân, cơ nhai
cửa và răng nanh hàm dưới ăn khớp với mặt trong của răng cửa và răng nanh
hàm trên, vì các múi này chịu trách nhiệm nâng đỡ kích thước dọc tại vị trí
lồng múi nên chúng được gọi là múi chịu [100]
Các múi ngoài của cung răng trên và các các múi trong của cung răng
dưới có khuynh hướng tiếp xúc nhai chỉ khi hàm dưới đang vận động trượt
theo chiều ngang, các múi này được gọi là múi hướng dẫn
Múi chịu được chia thành 3 nhóm [100], hai nhóm ở hàm dưới và 1
nhóm ở hàm trên:
+ Nhóm 1: Gồm các múi ngoài của răng hàm nhỏ và răng hàm lớn hàm
dưới, các múi này ăn khớp vào vùng gờ bên hoặc trũng tam giác răng đối
diện, trừ các múi xa ngoài của răng cối lớn hàm dưới ăn khớp với trũng giữa
của răng đối diện, Các điểm chịu cắn khớp của nhóm này đóng vai trò quyết
định đảm bảo cho sự ổn định cắn khớp ở tư thế LMTĐ, đây là nhóm múi chịu
quan trọng nhất
Hình 1.2. Múi chịu nhóm 1
+ Nhóm 2: Gồm rìa cắn của các răng cửa và răng nanh hàm dưới, dữ
vai trò chính trong chức năng hướng dẫn ra trước và trước bên
8
Hình 1.3. Múi chịu nhóm 2
+ Nhóm 3: Gồm các múi trong của răng hàm lớn và răng hàm nhỏ hàm
trên, các múi gần trong của các răng cối lớn trên ăn khớp vào trũng giữa của
răng đối diện, các múi khác vào vùng gờ bên hoặc trũng tam giác răng đối
diện
Hình 1.4. Múi chịu nhóm 3
Trong quá trình điều chỉnh khớp cắn bằng mài chỉnh cần phải mài các
mũi hướng dẫn, tôn trọng tối đa các múi chịu, nếu bắt buộc phải can thiệp vài
múi chịu thì ưu tiên bảo tồn nhóm 1 đến nhóm 2 đến nhóm 3 theo thứ tự ưu
tiên bảo tồn
Rãnh:
Giữa 2 múi răng có một rãnh chính, giữa 3 múi răng có một hố (trũng).
tối ưu. Một khớp cắn lý tưởng phải cho thấy khớp thái dương hàm ở vị trí
10
chức năng tối ưu khi các răng lồng múi tối đa. Vị trí lồi cầu tối ưu với các lồi
cầu bình thường về cấu trúc, tựa vào đĩa khớp có cấu trúc và vị trí bình
thường, đĩa khớp tựa mặt lõm vào lồi khớp theo hướng trước trên và với hoạt
động cơ tối ưu cũng như với sự ổn định tối đa về mặt khớp cắn.
Khớp cắn trung tâm. Khớp cắn trung tâm ( CO : centric occlusion) được định
nghĩa là" Sự ăn khớp của các răng đối diện nhau khi hàm dưới ở tương quan
trung tâm. Vị trí này có thể trùng hoặc không trùng với vị trí lồng múi tối đa".
Tương quan trung tâm: là vị trí mà lồi cầu trên nhất và trước nhất trong ổ
khớp (theo Wikipedia, the free encyclopedia). Theo Dawson tương quan trung
tâm là tương quan của hàm dưới so với hàm trên khi mà lồi cầu ở vị trí cao
nhất trong ổ khớp không quan tâm đến tầm đứng hay vị trí của các răng, ở vị
trí cao nhất này lồi cầu nằm về phía gần, ở vị trí này phức hợp lồi cầu - đĩa
khớp có khả năng chịu lực tốt nhất mà không có triệu chứng khó chịu.
Trên một khớp cắn lý tưởng, khớp cắn trung tâm trùng với khớp cắn
lồng múi tối đa. Ở khớp cắn trung tâm, các răng sau phải có sự tiếp xúc đồng
thời và cân bằng hai bên, các răng trước chỉ tiếp xúc nhẹ. Tương quan này
cho phép sự ổn định tối đa đối với khớp thái dương hàm và giảm tối đa lực
nhai lên mỗi răng. Như vậy, ở khớp cắn trung tâm, răng sau giữ ổn định các
tiếp xúc răng và hàm.
* Trong hoạt động chức năng và tiếp xúc lệch tâm, các răng sau được sắp xếp
sao cho nó chịu được các lực nhai theo chiều dọc. Ngược lại, các răng trước
nghiêng về phía môi, không thích ứng để chịu được lực theo chiều thẳng
đứng. Như vậy các răng sau giúp bảo vệ các răng trước tránh được các lực
nhai quá mức theo chiều thẳng đứng khi nhai, ngược lại các răng trước duy trì
sự tiếp xúc nhẹ ở khớp cắn trung tâm. Trong vận động tiếp xúc ra trước và
sang bên, các răng sau nhả khớp do hướng dẫn của các răng trước. Các răng
trước hướng dẫn hàm dưới trong vận động ra trước và sang bên: trong vận
động ra trước, các răng cửa tiếp xúc và hướng dẫn (hướng dẫn răng cửa), các
răng, không có sự dày khoảng day chằng nha chu, răng không mòn bất
thường hay nhạy cảm ngà.
- không có những dấu hiệu thay đổi của hệ thống nhai (do hoạt động cận
chức năng) mang tính đang bị phá huỷ. Hàm dưới thực hiện chức năng một
cách thoải mái, không đau, không khó chịu (đau và/hoặc khó chịu là dấu hiệu
của loạn chức năng)
- Hàm dưới vận động dễ dàng trơn tru nghĩa là không có cản trở cắn khớp
trong các vận động trượt của hàm dưới. Ở tương quan trung tâm (TQTT) hàm
được tự do tìm dến hoặc được hướng dẫn đến LMTĐ.
- Không có than phiền về thiếu sức nhai (do mất răng) , không bị mỏi cơ
không đau khớp thái dương hàm.
- Khớp cắn sinh lý cũng thỏa đáng về mặt thẩm mỹ đối với bệnh nhân
Như vậy, một người có khớp cắn sinh lý chức năng thì không có nhu cầu/yêu
cầu điều trị
* Sự ổn định khớp cắn: Trên bộ răng tự nhiên, sự ổn định khớp cắn phụ thuộc
vào tất cả vác lực tác động lên răng. Có thể nêu tóm tắt các lực, bao gồm các
lực do thực hiện chức năng, gồm:
- Lực của hệ thống môi- má - lưỡi
- Các thói quen chức năng và cận chức năng
- Sự toàn vẹn của răng và nha chu về mặt hình thái theo nghĩa rộng của
từ này
- Tình trạng và sự phối hợp hoạt động của các cơ hàm
- Tình trạng khớp TDH. Không thể mô tả một cách chính xác các lực
gây mất ổn định khớp cắn: Các răng thực hiện việc điều chỉnh vị trí trong suốt
đời sống để đáp ứng với những thay đổi tự nhiên của lực nhai liên quan đến
mòn răng; đáp ứng với những thay đổi bệnh lý nha chu hoặc trương lực cơ,
cũng như các phục hồi, phục hình và thủ thuật nha khoa khác. Hình mẫu lực
tác động lên răng phức tạp hơn nhiều so với các phân tích lực thường được sử
13
dụng trong vậy lý học. Tuy nhiên trong khả năng thích ứng của hệ thống nhai,
nha chu, vì: Lực nhai được phân bố đều trên nhiều răng, đảm bảo cho
sự nhả khớp lập tức và toàn bộ bên không làm việc.
Chức năng nhóm là chức năng khó thực hiện trong mài điều chỉnh khớp
cắn vì các răng tham gia vận động sang bên phải đạt được tiếp xúc đồng
thới và cùng cường độ hướng dẫn suốt hành trình từ LMTĐ đên vị trí đối
đầu. Trên bộ răng tự nhiên có thể có sự thay đổi từ hướng dẫn răng nanh
sang hướng dẫn nhóm sau một thời gian hoạt động chức năng do sự mòn
của răng nanh
1.3.2.2. Cản trở cắn trong vận động đưa hàm sang bên
* Cản trở bên làm việc.
Cản trở bên làm việc là một tiếp xúc răng bất thường bên làm việc gây
cản trở sự trượt hài hòa của hàm dưới sang bên làm việc, cản trở bên làm việc
gây đau, lung lay hoặc chấn thương răng cản trở, nếu cản trở bên làm việc đi
kèm với những hoạt động cận chức năng sẵn có như nghiến răng, thường sẽ
làm nặng thêm tình trạng nghiến răng của bênh nhân, cản trở bên làm việc
thường gặp ở nội phần của múi ngoài răng trên
Cản trở bên không làm việc: Cản trở không làm việc là một tiếp xúc
răng bất thường bên không làm việc, gây nhả khớp các răng bên làm việc; cản
trở bên không làm việc có thể gây đau, lung lay, chấn thương răng gây cản
trở. Cần lưu ý là một tiếp xúc răng bên không làm việc không phải là một cản
trở cắn khớp nếu không gây nhả khớp các răng bên làm việc, không gây đau
hoặc lung lay, hoặc các dấu hiệu của loạn chức năng ở răng, cơ và khớp thái
dương hàm.
15
Cản trở bên không làm việc thường là tiếp xúc giữa nội phần của hai
múi chịu răng trên và dưới. Bệnh nhân thường thích ứng với cản trở bên
không làm việc.bằng cách nhai một bên (bên có cặp răng gây cản trở) để
nghiền được thức ăn và tránh được cảm giác vướng, cộm hoặc đau khi nhai,
chính sự né tránh này lại đưa đến những rối loạn ở cơ và khớp như làm tăng
co thắt cơ một bên, đau cơ và đau khớp TDH . Trong một số trường hợp để
Theo Henry và Katzberg (1980) khoảng 20% bệnh nhân LNTDH có tiền
sử chấn thương hàm mặt [1], theo một số tác giả khác thì đến 44% [43].
- Đụng dập khớp thái dương hàm làm tổn thương tổ chức sau đĩa khớp,
dây chằng đĩa khớp hay chính đĩa khớp [31]. Đụng dập cơ nhai.
- Gập cổ đột ngột: Gặp trong tai nạn giao thông hay khi tập thể thao.
- Gãy vùng lồi cầu xương hàm dưới: Làm đĩa khớp bị kéo ra trước, tổn
thương đĩa khớp, diện lồi cầu, diện thái dương. Giảm chiều cao cành lên hay
do tăng vận động khớp bù trừ.
Há miệng thụ động quá mức: Khi banh miệng để đặt nội khí quản hay
để nhổ răng, phẫu thuật.
Gãy xương hàm không được điều trị tốt làm liền cal xấu.
1.4.2.Rối loạn tâm lý
Yếu tố tâm lý ngày càng được chú ý trong bệnh nguyên của LNTDH
[2],[44],[45].
Lo lắng và rối loạn tâm lý có vai trò như chất xúc tác cho LNTDH [46],
do nó làm giảm ngưỡng (khả năng) đề kháng của bộ máy nhai, làm tăng co
thắt cơ và những sai lệch chức năng [3],[47].
1.4.3. Nguyên nhân toàn thân
Rất khó chẩn đoán nguyên nhân này. Trong một số trường hợp ta có thể
phát hiện được những rối loạn chuyển hóa hay nội tiết, là một trong những nguyên
nhân của LNTDH hay gặp ở phụ nữ trẻ (do ảnh hưởng của Hormon) [48],[49].
17
Lứa tuổi cũng đóng vai trò quan trọng. Trẻ em có khả năng dung nạp
tốt do lồi cầu đang phát triển có thể thích nghi tốt về giải phẫu chức năng.
Khả năng thích nghi và dễ uốn nắn của khớp thái dương hàm sẽ giảm dần
theo lứa tuổi.
Một trong những yếu tố cần chú ý nữa là rối loạn vi lượng do dinh
dưỡng (thiếu Magnesium ), do nội tiết (ảnh hưởng của oestrogen ).
Không rõ nguyên nhân:
Khoảng 20% LNTDH không tìm ra nguyên nhân và được xem là vô căn [1].
- Cơ chân bướm trong 35% trường hợp.
- Các cơ cổ 43% trường hợp.
Đau nguyên phát tại cơ nguyên nhân:
Thường rõ ràng, đôi khi chỉ dưới dạng khó chịu, căng cơ, mỏi cơ. Cơn
đau cơ thường lan tỏa rộng hơn là cơn đau tại khớp. Đau cơ có thể ở một bên
hoặc hai bên, có thể chỉ ở một cơ nhưng cũng có thể ở nhiều cơ, có thể đau
toàn bộ cơ hay chỉ một bó cơ [14].
Bệnh nhân có thể chỉ ra được vùng cơ đau: Tại khớp (cơ chân bướm
ngoài), thái dương (cơ thái dương), má (cơ cắn), mặt trong góc hàm (cơ chân
bướm trong), dưới tai (bụng sau của cơ nhị thân).
Lúc đầu đau chỉ xuất hiện trong hay sau khi vận động hàm dưới. Sau đó
đau xuất hiện ngay cả khi nghỉ không vận động và tăng lên khi vận động, làm
giảm biên độ vận động hàm dưới [71]. Cơn đau tồn tại ngay cả khi co cơ đồng
bộ chống lại lực cản (cố há miệng trong khi bác sĩ đẩy ngược lại) [27].
Đau ở xa:
Đau ở xa cơ nguyên nhân, đau biến mất khi ta tiêm tê hay gây tê lạnh
cơ nguyên nhân.
Theo nghiên cứu của J. Travell (1983) thì mỗi cơ gây đau ở một vùng
nhất định:
19
- Các cơ cổ: Gây đau ở vùng sọ - cổ.
* Há miệng hạn chế:
Há miệng hạn chế từng lúc là dấu hiệu của co thắt các cơ nâng hàm.
Nếu bệnh nhân có nghiến răng ban đêm đi kèm thì há miệng hạn chế nặng
nhất lúc mới ngủ dậy sau đó giảm dần trong ngày. Ngược lại nếu há miệng
hạn chế là hậu quả của co thắt cơ ban ngày hay do hậu quả của nghề nghiệp
thì nó sẽ nặng nhất vào cuối ngày và giảm dần khi ngủ [72],[73].
Há miệng hạn chế nhưng vẫn còn đưa ra trước và sang bên được thì chủ
yếu là do cơ. Há miệng hạn chế với rối loạn chuyển động sang bên thì thường
là do khớp. Hàm dưới không đưa lệch trong trường hợp bị tổn thương cơ cả
lại làm tăng biên độ há miệng (giãn quá mức). Đôi khi há miệng bình thường.
Biểu hiện khớp của LNTDH có thể là tổn thương bao khớp hoặc dây
chằng, cũng có thể là tổn thương đĩa khớp hoặc bề mặt xương.
+ Tổn thương bao hoạt dịch hay dây chằng:
Tổn thương bao hoạt dịch biểu hiện bằng:
- Viêm khu trú: Viêm bao hoạt dịch (synovite), thường là viêm bao
hoạt dịch sau đĩa khớp.
21
- Viêm quanh khớp: Viêm bao khớp (capsulite) hay viêm dây chằng
(tendinite) thứ phát sau chấn thương dây chằng vi thể (giãn quá mức) hay đại
thể (bong gân).
Viêm bao hoạt dịch sau (viêm bao hoạt dịch sau đĩa khớp: retro-discite):
Đau ở phần sau khớp, đau tăng khi cử động hàm và khi có lực nén quá
mức lên khớp, ấn đau phần sau khớp. Đau sẽ giảm khi bệnh nhân cắn chặt lên
một vật cứng. Mọi nguyên nhân làm ép lên khớp (ví dụ như đẩy cằm ra sau)
hay ở tư thế lồng múi tối đa thì đều làm đau tăng thêm (Hình 1.3).Ở tư thế
nghỉ hàm dưới bị lệch về bên lành. Khi há miệng thì điểm giữa hai răng cửa
lệch về bên bệnh.
Viêm bao khớp:
Do chấn thương hay do quá tải khớp. Đau ở phần ngoài của khớp khi
có cử động làm kéo giãn bao khớp, há miệng hạn chế. Ngược lại khi nén gián
tiếp lên khớp hay đưa hàm về tư thế lồng múi tối đa thì lại không làm đau
tăng. Cắn chặt cây đè lưỡi bằng gỗ thì cũng không làm giảm đau.
Sờ đôi khi thấy khớp sưng, tiến triển hay không.
+ Tổn thương đĩa khớp:
- Bất thường về vị trí:
Di lệch đĩa khớp còn hồi phục (hồi qui):
Đĩa khớp thường di lệch trước trong, đôi khi di lệch trong, hiếm khi di
lệch ra ngoài và rất hiếm ra sau [75]. Di lệch dần dần làm mất tiếp xúc lồi cầu
- đĩa khớp (Hình 1.7).
khớp). Giai đoạn tiến triển này thường thoáng qua và đôi khi bệnh nhân có thể
tự nắn chỉnh lại được, nên nó còn được gọi là bán trật khớp (subluxation). Sau
đó giai đoạn này sẽ tiến triển tiếp sang giai đoạn trật khớp thật sự (Hình 1.8).
Hình 1.8: Giãn khớp thái dương hàm Hình 1.9: Trật khớp thái dương hàm
Trật khớp thái dương hàm (cản trở há miệng): Giai đoạn trật khớp thái
dương hàm là tình trạng bệnh lý do sự di lệch kéo dài, không hồi phục một
hay cả hai bên (Hình 1.9).
- Bất thường về cấu trúc:
Chuyển động của phức hợp lồi cầu đĩa khớp có thể bị rối loạn do những
bất thường về cấu trúc bao hoạt dịch (dính) hay bất thường cấu trúc đĩa khớp
(thoái hóa nhầy, thủng).
Bất thường của bao khớp (dính khớp):
Do tân tạo tổ chức đặc biệt là
của bao hoạt dịch làm đĩa khớp dính
vào xương thái dương (ở phần
trước) hay đầu của lồi cầu (ở phần
sau) (Hình 1.10).
Hình 1.10: Dính khớp
24
Bất thường của đĩa khớp: Trong
số những bất thường này thì có:
- Thoái hóa nhầy:
Có thể xác
định được khi khám lâm sàng (có
bệnh cảnh di lệch đĩa khớp hồi phục
và không hồi phục), cận lâm sàng
(IRM) giúp xác định bất thường về
cấu trúc của đĩa. Chẩn đoán xác
Hình 1.11: Thái hóa nhầy
- Thủng: Do hậu quả của di lệch đĩa khớp không hồi phục cũ và do
• Đau đầu:
Dựa vào sự miêu tả của bệnh nhân thì đó có thể là đau đầu đơn thuần,
Migran, đau dây thần kinh mặt. Đau thường xuất phát từ cơ thái dương. Vì
vậy những đau cơ thái dương một hoặc hai bên đều phải nghĩ đến LNTDH
nhất là khi nó xảy ra liên tục (1 lần/tuần) kết hợp với những rối loạn chức
năng (nghiến răng).
• Đau tai:
Thường gây đau tai một bên, đôi khi đi kèm với những rối loạn khác.
Đau tai, ù tai, cảm giác tai bị bịt kín nhưng khi khám tai thì không thấy các
tổn thương thực thể.
Đau tai gặp trong 15% trường hợp bị LNTDH có thể do bó sâu của cơ
cắn, cơ ức đòn chũm, cơ chân bướm ngoài, cơ chân bướm trong, bó sau của
cơ thái dương.
Khi bệnh nhân có cảm giác bị ù tai và bị bịt tai (đôi khi thay bằng tăng
thính lực) thì ta phải chú ý, vì đôi khi cũng có thể có tổn thương tai giữa do cơ
chân bướm ngoài và cơ căng màng nhĩ đều được vận động bởi dây thần kinh
tam thoa, nên khi co thắt cơ chân bướm ngoài có thể dẫn đến co thắt cơ căng
màng nhĩ.
1.5.2.2. Biểu hiện ở mặt
Với những dạng đau khác nhau: