A. Lời nói đầu
Ngành kiểm toán độc lập lần đầu xuất hiện tại Việt Nam với sự thành
lập của hai công ty kiểm toán Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và
Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) trực thuộc Bộ
Tài chính trong năm 1991.
Ngày nay trong xu thế hội nhập quốc tế, cùng với sự đổi mới, phát
triển của nền Tài chính quốc gia, việc hình thành và phát triển hoạt động
Kiểm toán độc lập vừa là đòi hỏi của nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của Hệ thống
công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế - tài chính góp phần tích cực vào công
cuộc phát triển nền kinh tế xã hội. Hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam ra
đời năm 1991 và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty kiểm toán độc lập và 15 nhân viên thì đến
nay cả nước đã có 136 công ty với hơn 5 nghìn nhân viên, cung cấp hơn 20
loại dịch vụ nghề nghiệp cho khách hàng. Từ thực tiễn đó cho thấy tính cấp
thiết của việc nghiên cứu đề tài kiểm toán độc lập trong tình hình nước ta
hiện nay.
Trong chuyên đề này, đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các
phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, rút ra các kết luận, nhận xét đánh
giá trên nền tảng của các tư liệu sau:
+ Từ lý thuyết:
* Các cơ sở lý luận từ sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo khác
trong và ngoài nước
* Các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và quốc tế đã ban hành
+ Từ thực tế
* Các bước và phương pháp xác lập mức trọng yếu và việc vận dụng
trong thực tế khi kiểm toán khách hàng
* Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm toán và các thành phần của rủi
ro kiểm toán( rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện).
Chuyên đề gồm có 2 phần chính:
P1: Những lý luận chung về công tác kiểm toán
của doanh nghiệp tiến hành. Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập trong
doanh nghiệp, thực hiện kiểm toán theo lệnh của giám đốc hoặc chủ tịch hội
đồng quản trị và báo cáo kết quả trực tiếp với người ra lệnh kiểm toán.
- Kiểm toán Nhà Nước: là loại kiểm toán do cơ quan kiểm toán
Nhà Nước tiến hành theo lệnh tổng kiểm toán nhà nước và chỉ kiểm toán ở
các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp được Nhà Nước cấp kinh
phí hoạt động. Kiểm toán Nhà Nước chủ yếu thực hiện các cuộc kiểm toán
tuân thủ thông qua kết quả kiểm toán, kiểm toán Nhà Nước có quyền góp ý
với đơn vị được kiểm toán sửa chữa các sai phạm và báo với cấp có thẩm
quyền xử lý các sai phạm.
2
- Kiểm toán độc lập: là loại kiểm toán do các kiểm toán viên
độc lập thuộc các tổ chức kinh tế chuyên nghiệp tiến hành. Thực chất là hoạt
động dịch vụ được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Kiểm toán độc lập thực
hiện các cuộc kiểm toán theo lời mời của đơn vị có nhu cầu kiểm toán,
không phân biệt chức năng, nhiệm vụ, tổ chức hoạt động, hình thức sở hữu
của doanh nghiệp. Để thực hiện việc kiểm toán 2 bên sẽ kí kết hợp đồng, kết
thúc hợp đồng công ty kiểm toán phải lập báo cáo kiểm toán giao cho đơn vị
được kiểm toán, đơn vị được kiểm toán phải trả tiền chi phí kiểm toán.
3. Trình tự kiểm toán:
Trình tự kiểm toán khác nhau ở các đơn vị khác nhau nhưng nói
chung một cuộc kiểm toán thường gồm 3 bước:
B1: Lập kế hoạch và chương trình kiểm toán: đây là bước đầu
tiên cần thiết đối với mọi cuộc kiểm toán nhằm đảo vảo cho cuộc kiểm toán
được thực hiện đạt được kết quả như mong muốn. Nội dung của kế hoạch
kiểm toán thường bao gồm:
- Đạt được sự hiểu biết về hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội
bộ của đơn vị được kiểm toán
- Xác định độ tin cậy dự kiến vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn
vị được kiểm toán
Dựa vào mối quan hệ kinh tế giữa các chỉ tiêu mà kiểm toán viên
tiến hành phân tích, so sánh nhằm phát hiện những sai lệch không bình
thường của số liệu tài liệu trong các báo cáo tài chính. Việc phân tích có thể
cùng một chỉ tiêu. Kiểm toán viên so sánh số liệu giữa các kì hoặc giữa các
đơn vị hoặc giữa thực hiện với kế hoạch và có thể phân tích tỷ suất: cùng 1
nội dung kiểm toán so sánh giữa các chỉ tiêu có liên quan như tỷ suất khả
năng thanh toán, tỷ suất tài trợ, tỷ suất khả năng sinh lời.
- Phương pháp kiểm tra các nghiệp vụ và số dư các tài khỏan:
Áp dụng phương pháp này kiểm toán viên kiểm tra một cách chi
tiết quá trình hạch toán và việc tính số dư của các tài khoản, cơ sở số liệu lập
các báo cáo tài chính. Tuy nhiên việc kiểm tra này cũng là chọn mẫu.
- Phương pháp theo dấu hiệu chỉ dẫn(dấu hiệu khả nghi);
Áp dụng phương pháp này kiểm toán viên dựa vào các dấu hiệu
khả nghi để định hướng cuộc kiểm toán, thu thập bằng chứng kiểm toán. Với
khả năng chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp, kiểm toán viên phân tích
các bằng chứng thu thập được để có thể xóa tan nghi ngờ hoặc chứng minh
những gian lận và sai sót trong các báo cáo tài chính.
II. Một số ý kiến về kiểm toán độc lập ở Việt Nam
2.1. Quy định chuẩn mực kiểm toán hiện hành
Chuẩn mực kiểm toán là quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc và
thủ tục kiểm toán làm cơ sở để kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán
thực hiện kiểm toán và làm cơ sở kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán.
4
Chuẩn mực kiểm toán hiện hành(đợt 7) gồm 4 chuẩn mực:
2.1.1. Chuẩn mực 260 - Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm
toán với Ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán;
Nội dung:
- Kiểm toán viên và nhân viên kiểm toán phải xác định những người liên
quan đến ban lãnh đạo và những người sẽ trao đổi những vấn đề quan trọng,
trong đó có vấn đề quản trị đơn vị phát sinh khi kiểm toán ở đơn vị được