đánh giá hiệu quả của phác đồ antagonist trong kích thích buồng trứng làm ivf tại bệnh viện phụ sản hà nội - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh là vấn đề bức xúc hiện nay, chiếm tỷ lệ khá cao trên thế giới
cũng như ở Việt Nam. Vô sinh trên thế giới chiếm tỷ lệ khoảng 9 % [1], theo
tổ chức Y tế Thế giới vô sinh ảnh hưởng đến khoảng 50 - 80 triệu phụ nữ trên
toàn thế giới và có khuynh hướng ngày càng gia tăng [2]. Hiện nay vô sinh
nằm trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng do ảnh hưởng rất lớn đến
hạnh phúc gia đình, tác động không nhỏ về mặt y tế và xã hội. Tại Việt Nam,
theo Nguyễn Viết Tiến (2010) tỷ lệ vô sinh chiếm 10 - 15%. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến vô sinh, trong đó vô sinh nam chiếm 40%, vô sinh nữ chiếm
40% và 20% không rõ nguyên nhân.
Sự ra đời của Louise Brown năm 1978, đứa trẻ đầu tiên được sinh ra
thành công từ kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm là một bước đột phá trong điều
trị vô sinh, sự thành công của phương pháp này đã
mang lại nhiều hy vọng và
niềm vui cho các cặp vợ chồng bị vô sinh nói chung, đồng thời
cũng tạo ra một bước
ngoặt lớn trong điều trị vô sinh tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, kích thích buồng trứng là quy trình cơ
bản và đóng vai trò quan trọng trong thụ tinh ống nghiệm. Mục đích của
kích thích buồng trứng là đạt được số lượng nang noãn và số noãn cần thiết,
có nhiều phôi tốt để chuyển phôi và làm tăng tỷ lệ có thai.Tuy nhiên, một vấn
đề lớn trong kích thích buồng trứng là sự xuất hiện của đỉnh LH, khi các nang
noãn chưa trưởng thành thì sẽ bước qua giai đoạn thoái triển, hoàng thể hóa
sớm, làm giảm chất lượng noãn và giảm tỷ lệ có thai [3]. Do đó việc ức chế
đỉnh LH trong kích thích buồng trứng để làm thụ tinh ống nghiệm là một
trong những bước tiến quan trọng trong các phác đồ kích thích buồng trứng
Vào đầu những năm 1980 (1984) chất đồng vận GnRH bắt đầu được
đưa vào để ức chế tuyến yên nhằm tránh hiện tượng phóng noãn sớm khi kích
thích buồng trứng đã tạo ra 1 bước đột phá và làm tăng đáng kể tỷ lệ thành
công của thụ tinh trong ống nghiệm.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa, tình hình và nguyên nhân gây vô sinh
1.1.1. Định nghĩa vô sinh
Vô sinh là tình trạng không có thai sau một năm chung sống vợ chồng
mà không dùng biện pháp tránh thai nào, đồng thời tần suất giao hợp ít nhất 2
lần mỗi tuần. Đối với phụ nữ trên 35 tuổi thì tính thời gian là 6 tháng [5]
Đối với những trường hợp trong đó nguyên nhân vô sinh đã tương đối
rõ ràng thì việc tính thời gian không còn được đặt ra.
Vô sinh nguyên phát là chưa có thai lần nào, còn vô sinh thứ phát là
trong tiền sử đã từng có thai ít nhất 1 lần.
Vô sinh nữ là nguyên nhân hoàn toàn do người vợ, vô sinh nam là vô
sinh có nguyên nhân hoàn toàn do người chồng.
Vô sinh không rõ nguyên nhân là trường hợp khám và làm các xét
nghiệm thăm dò kinh điển mà không phát hiện được nguyên nhân nào [5], [6].
1.1.2. Tình hình và nguyên nhân vô sinh
a. Trên thế giới tùy từng nước mà tỷ lệ vô sinh thay đổi từ 8 - 18% có
nơi lên đến 40%. Về nguyên nhân vô sinh theo tổ chức y tế thế giới năm
1985, có khoảng 20% không rõ nguyên nhân, 80% có nguyên nhân trong đó
vô sinh nữ chiếm 40%, vô sinh nam chiếm 40%, và do cả hai là 20%, [5],[6].
Các nguyên nhân gây nên tình trạng vô sinh nữ là do rối loạn phóng noãn
(30%), trong đó chủ yếu do BTĐN, rối loạn chức năng vòi tử cung (30%), các
rối loạn này xảy ra do dính vòi tử cung sau viêm nhiễm như nhiễm khuẩn lậu
cầu, Chlammydia…. Một số nguyên nhân khác gây nên vô sinh là do bệnh lạc
nội mạc tử cung, bất thường về giải phẫu, các kháng thể kháng tinh trùng và
một số các yếu tố khác chưa được biết đến [7].
4
Nguyên nhân gây vô sinh nam là do sự suy giảm sự sinh tinh có thể do di
truyền hoặc do di chứng của bệnh quai bị và các vết sẹo ổ thừng tinh xuất
hiện sau các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục [7]

cả FSH và LH đều không được bài tiết [9], [10]
1.2.2. Tuyến yên
Tuyến yên là một tuyến nhỏ nằm trong hố yên của xương bướm thuộc
nện sọ. Tuyến yên gồm hai thùy: Thùy trước và thùy sau [8]
Thùy trước tuyến yên được cấu tạo bởi những tế bào có khả năng chế
tiết nhiều loại hormone khác nhau, trong đó có các tế bào bài tiết hormone
hướng sinh dục: FSH và LH, trực tiếp điều hòa quá trình bài tiết hormone
sinh dục ở buồng trứng và prolactin kích thích tuyến vú.
Thùy sau tuyến yên chỉ là cấu trúc của các tế bào thần kinh đệm không
có khả năng bài tiết hormone. Tại đây tận cùng các sợi thần kinh có chứa
hormone vasopressin và oxytocin từ vùng dưới đồi bài tiết ra.
FSH và LH là hormon hướng sinh dục và mang một đặc tính tác dụng
riêng nhưng có liên quan đến tác dụng hiệp lực:
FSH: Có tác dụng kích thích các nang noãn của buồng trứng phát triển
và trưởng thành, kích thích phát triển lớp tế bào hạt để từ đó tạo thành lớp vỏ
của nang noãn.
LH: Có tác dụng:
- Phối hợp với FSH làm phát triển nang noãn tiến tới trưởng thành.
- Phối hợp với FSH gây hiện tượng phóng noãn vào ngày thứ 14 của
vòng kinh sinh lý 28 ngày.
- Kích thích tế bào hạt và lớp vỏ còn lại phát triển thành hoàng thể
đồng thời duy trì sự tồn tại của hoàng thể.
6
- Kích thích lớp tế bào hạt của nang noãn và hoàng thể bài tiết
progesterone và tiếp tục bài tiết estrogen.
Trong chu kỳ kinh nguyệt, nồng độ FSH và LH thay đổi, chúng ở mức
thấp khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt, sau đó tăng dần lên và đạt đỉnh cao trước
phóng noãn 1 ngày [8]. Tuy nhiên đỉnh FSH không cao đột ngột như đỉnh LH,
cũng không tăng nhiều như đỉnh LH. Vào ngày phóng noãn LH cao gấp 5 - 10
lần so với trước đó, vào nửa sau của vòng kinh, FSH hơi thấp hơn so với nửa

sinh dục, có nhân steran nên còn được gọi là các steroid sinh dục
Estrogendo các tế bào hạt các lớp áo trong của nang noãn bài tiết trong
nửa đầu CKKN và nửa sau do hoàng thể bài tiết ra.
Progesteron do các tế bào hạt của hoàng thể tiết ra
Androgen (hormone nam) do tế bào rốn của buồng trứng chế tiết.
Nang noãn được coi là 1 đơn vị hoạt động của buồng trứng cả về
phương diện sinh sản và phương diện nội tiết. Các hormone của nang noãn và
của hoàng thể đủ để làm thay đổi nội mạc tử cung giúp cho phôi làm tổ, và
nếu người phụ nữ không thụ thai thì cũng đủ gây ra kinh nguyệt [8],[11].
1.3. Sự phát triển nang noãn và sự trưởng thành nang noãn
1.3.1. Sự phát triển nang noãn
Quá trình phát triển nang noãn trung bình kéo dài 85 ngày , khoảng 3
chu kỳ, thường chỉ có 1 nang noãn trưởng thành và phóng noãn trong mỗi chu
kỳ kinh. Các nang noãn trải qua quá trình phát triển từ nang noãn nguyên
thủy, nang sơ cấp, nang thứ cấp và nang trước phóng noãn.

8

Hình 1: sự phát triển nang noãn chu kỳ kinh nguyệt [15].
1.3.2. Sự hình thành và phát triển nang noãn
Sự phát triển của noãn là sự hình thành, lớn lên và trưởng thành của
noãn. Quá trình này bắt đầu trong bào thai và kết thúc ở tuổi mãn kinh của
người phụ nữ, gồm 4 giai đoạn:
- Nguồn gốc ngoài cơ quan sinh dục của tế bào mầm nguyên thủy và sự
di chuyển của tế bào mầm vào cơ quan sinh dục.
- Sự gia tăng số lượng tế bào mầm bằng gián phân.
- Sự giảm chất lượng di truyền bằng giảm phân.
- Sự trưởng thành về cấu trúc và chức năng của nang.
1.3.3. Mối liên quan giữa kích thước nang và sự trưởng thành của nang
Khi biết rõ mối liên quan giữa kích thước nang và sự trưởng thành nang

10
1.3.4.1. Xét nghiệm nồng độ estradiol
Xét nghiệm nồng độ estradiol là phương pháp chính để theo dõi đáp
ứng của buồng trứng khi dùng gonadotropin ngoại sinh. Có mối tương quan
giữa nồng độ estradiol và sự phát triển nang noãn. Trong những chu kỳ
KTBT, nồng độ estradiol là tổng hợp lượng estradiol của nhiều nang noãn
đang phát triển không kể đến kích thước của các nang noãn, đo đó nồng độ
estradiol chỉ phản ánh một cách tương đối chất lượng noãn. Tuy nhiên, khi
KTBT trong TTON, để có được nang noãn trưởng thành thì nồng độ estradiol
phải đạt được mức độ nhất định trước khi tiêm hCG [13]
Để đánh giá sự phát triển nang noãn thường hay kết hợp giữa siêu
âm và xét nghiệm nồng độ estradiol, đặc biệt những trường hợp có nguy cơ
xảy ra hội chứng quá kích buồng trứng. Đối với những bệnh nhân có tiên
lượng đáp ứng kém với KTBT, xét nghiệm nồng độ estradiol vào ngày thứ
5 sau khi KTBT để phát hiện những trường hợp này và có hướng điều trị
thích hợp. Đây là cách đơn giản để phát hiện liều rFSH ban đầu đã đủ để
KTBT có hiệu quả chưa.
1.3.4.2. Siêu âm
Siêu âm có thể theo dõi sự phát triển nang noãn và độ dày niêm mạc tử
cung. Siêu âm giúp đánh giá số lượng, kích thước, tốc độ phát triển nang noãn
. Siêu âm theo dõi nang noãn trong những chu kỳ có KTBT kết hợp với xét
nghiệm nồng độ estradiol có thể giúp điều chỉnh liều gonadotropin và phác đồ
KTBT kịp thời để đạt được sự đáp ứng buồng trứng tối ưu và giảm thiểu các
biến chứng, giúp tiến hành kỹ thuật TTON đúng thời điểm để đạt được tỷ lệ
thành công cao.
Siêu âm giúp đánh giá độ dày niêm mạc tử cung, nhiều nghiên cứu cho
thấy tỷ lệ có thai cao ở những chu kỳ có độ dày niêm mạc tử cung dày hơn và
tăng phát triển nhanh hơn, ngưỡng độ dày niêm mạc tử cung thấp nhất được
ghi nhận có thai là 6 mm, nhưng khi độ dày niêm mạc tử cung > 14 mm thì tỷ
lệ có thai cũng giảm .

vừa phải để KTBT điều trị những rối loạn phóng noãn và làm tăng đoàn hệ noãn
đi đến phóng noãn, tăng LH cùng với FSH có thể xảy ra và sự thay đổi tạm thời
tỷ lệ LH/FSH là suy giảm trưởng thành nang noãn, kết quả phóng noãn bị trì
hoãn. Thuốc tương tác với protein gắn kết với thụ thể estrogen giống như
estrogen tự nhiên và tác dụng như cạnh tranh đối vận với thụ thể estrogen.
Chỉ định: + Không phóng noãn.
+ Hội chứng buồng trứng đa nang.
Vô kinh thứ phát, nhất là sau khi dụng thuốc tránh thai.
Chống chỉ định:
+ Adenoma tuyến yên, tăng prolactin máu.
+ Bệnh nhân bị gan hay tiền sử rối loạn chức nang gan.
+ Ưng thư nội mạc tử cung, buồng trứng có nang tồn dư từ trước.
Clomiphene citrat bắt đầu dùng từ ngày thứ 2 kích thích phóng noãn
sớm hơn, nó có tác dụng tương tự như hoặt động sinh lý của chu kỳ kinh
nguyệt bình thường. Liều bắt đầu dùng là 50 mg/ ngày, nếu không đáp ứng
có thể tăng liều. Để có kết quả tốt, điều trị clomiphene citrate nên được
theo dõi cẩn thận.
Tác dụng phụ: Những tác phụ thường gặp như nóng bừng (10%), căng
bụng, phù lên hay khó chịu (5%), nôn, buồn nôn (2%), Những triệu chứng ở
mắt như nhìn mờ (hiếm gặp). Điều trị clomiphene citrate kéo dài > 12 tháng
làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng . Vì vậy các nhà sản xuất khuyến cáo
thời gian điều trị tối đa với CC là 6 tháng
13
1.5.2. GnRH agonist (GnRH đồng vận).
GnRHa là những chất tổng hợp có cấu trúc gồm một chuỗi polypeptide
gồm 10 acid amin ở vị trí số 6 và số 10. Các GnRHa có tác dụng sinh học và thời
gian tác dụng cao hơn rất nhiều lần so với GnRH trong có thể [17],[18],[19].
GnRH khi tiêm vào cơ thể, ban đầu sẽ có tác dụng làm tăng tiết FSH,
LH trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên nếu cho tiếp tục nó sẽ làm giảm dần
các chức năng và số lượng các thụ thể của GnRH ở tế bào dẫn đến việc tuyến

ức chế nhanh chóng mà không gây kích thích ban đầu như các chất đồng
vận GnRH.
Trong thời gian điều trị Orgalutran, Cetrotide tỷ lệ Lh trung bình tăng
(>10 IU/ L) kèm theo tăng progesterone (>1 ng/ ml ) là 1,2 % so với), 8% khi
điều trị với thuốc đồng vận GnRH.
+ Đặc tính dược động học:
Orgalutran: Sau khi tiêm dưới da một liều duy nhất 0,25 mg, nồng độ
ganirelix trong huyết thanh tăng nhanh và đạt nồng dộ đỉnh khoảng 15ng/ml
trong vòng 1-2 giờ. Thời gian bán thải khoảng 13 giờ và độ thanh thải khoảng
2,4 L/giờ. Thuốc được bài tiết qua phân (khoảng 75%) và nước tiểu (22%).
Sinh khả dụng của Orgalutran sau khi tiêm dưới da khoảng 91%. Các thông
số dược động học sau khi tiêm dưới da nhiều liều Orgalutran (1 lần / ngày)
tương tự các thông số sau khi tiêm dưới da liều duy nhất.Sau khi dùng liều lặp
lại 0,25mg/ ngày, nồng độ ở trạng thái ổn định khoảng 0,6 ng/ ml đạt được
trong vòng 2- 3 ngày. Orgalutran là dung dịch tiêm, mỗi xylanh đóng sẵn
chứa 0,25 mg ganirelix trong 0,5 ml dung dich.
Cetrotide: Sinh khả dụng tuyệt đối của cetrorelix sau khi tiêm dưới da
khoảng 85%
15
- Thanh thải huyết tương toàn phần là 1,2 ml x số tối thiểu x kg.
- Thanh thải thận là 0,1 ml x số tối thiểu x kg
- Thể tích phân phối là 1,1 lít x kg.
- Thời gian bán hủy cuối cùng sau khi tiêm dưới da khoảng 30 giờ
Cetrotide: mỗi lọ chứa 55,7 mg bột chứa 0,25 mg cetrorelix acetate là
hoạt chất, tương đương 0,25 mg cetrorelix. Ngoài ra bột còn chứa tá dược là
manitol.Một ống tiêm pha sẵn chứa 1 ml nước pha tiêm, 1 tiêm có dấu vàng
để tiêm nước vào lọ và rút dung dich ra khỏi lọ, 1 tiêm có dấu màu xám để
tiêm dung dịch
- Chỉ định: Ngăn ngừa đỉnh LH sớm trên những bệnh nhân đang được
KTBT trong TTON

Follintropin alpha là hormone kích thích nang noãn, hàm lượng Gonal -
F 300 IU/ 0,5 ml hay Gonal - F 450 IU/),75 ml. Sau khi tiêm tĩnh mạch,
follitropin alpha phân bố vào dịch gian bào với thời gian bán hủy khoảng 2
giờ và được bài tiết ra khỏi cơ thể với thời gian bán hủy cuối là 1 ngày.
Saukhi tiêm nhắc lại, follitropin alpha tích lũy gấp 3 lần, đạt trạng thái ổn định
trong 3 - 4 ngày, khoảng 1/8 liều follitropin alpha được bài tiết qua nước tiểu.
Tác dụng ngoại ý: Phản ứng tại chỗ tiêm, nhức đầu, phản ứng dị ứng toàn
thân nhẹ. Hội chứng quá kích buồng trứng, thuyên tắc mạch do huyết khối.
2. Follitrpin beta. (Puregon).
Dung dịch tiêm Puregon chứa hormone kích thích nang (FSH) tái tổ
hợp. Sau khi tiêm bắp hoặc tiêm dưới da Puregon, nồng độ đỉnh FSH đạt
được trong khoảng 12 giờ. Thời gian bán hủy thải trừ khoảng 40 giờ (từ 12
dến 72 giờ), nồng độ FSH sẽ tiếp tục tăng trong 24 đến 48 giờ. Thời gian bán
hủy và thải trừ tương đối lớn nên khi tiêm nhắc lại 1 liều tương tự sẽ làm tăng
17
nồng độ FSH huyết tương cao hơn khoảng 1,5 đến 2,5 lần so với 1 liều điều
trị duy nhất. Sự tăng nồng độ FSH huyết tương này giúp cho thuốc đạt đến
nồng độ điều trị có hiệu quả.
Tác dụng ngoại ý: Phản tiêm tại chỗ, hội chứng quá kích buồng trứng,
nghẽn mạch huyết khối.
1.5.5. Human Chorionic Gonadotropin (hCG)
hCG là một gonadotripin do rau thai tiết ra, cấu trúc hóa học có chứa
chuỗi β hoàn toàn tương tự như LH vì vậy có thể gây đáp ứng tương tự như
LH lên nang noãn và noãn. hCG dễ chiết xuất, tác dụng sinh học mạnh hơn,
nên thường được sử dụng thay thế LH để kích thích sự phát triển của noãn và
gây phóng noãn [17],[18].
hCG thường được cho vào thời điểm nang noãn đã phát triển tốt và
chuẩn bị phóng noãn. Liều sử dụng thường 5.000 - 10.000 IU. Hàm lượng
hCG tối đa trong huyết tương đạt được khoảng 6 giờ sau mũi tiêm hCG.
Khoảng 80% hCG được chuyển hóa ở thận. Thời gian bán hủy của hCG

tiết. Phác đồ này thường có tỷ lệ xuất hiện đỉnh LH sớm cao và tỷ lệ thành
công thấp. Vì vậy , phác đồ này hiên nay không sử dụng trong IVF.
1.6.2. Phác đồ gonadotropin đơn thuần
Việc sử dụng hMG hoặc FSH đơn thuần để kích thích buồng trứng
trong IVF hiện nay ít dùng do không kiểm soát được sự xuất hiện đỉnh LH
sớm, có thể ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kích thích buồng trứng và tỷ lệ thành
công. Vì vậy mà hiện nay các phác đồ kích thích buồng trứng trong IVF đều
phối hợp FSH với GnRH đồng vận hoặc đối vận.
19
1.6.3. Phác đồ ngắn
GnRH đồng vận được sử dụng tiêm dưới da từ ngày thứ 2 của vòng kinh
và duy trì đến thời điểm tiêm hCG. FSH tái tổ hợp được sử dụng từ ngày thứ
3 của vòng kinh và liều GnRH đồng vận giảm đi một nửa so với ban đầu [17]
[24]. Theo dõi nang noãn bằng siêu âm, định lượng nội tiết LH và E
2
được bắt
đầu từ ngày thứ 7 - 8. Các lần siêu âm sau và liều thuốc tiếp tục được điều
chỉnh tùy theo kích thước và số lượng nang noãn phát triển. Tiêm hCG khi có
hai nang có đường kính ≥ 18 mm và hai nang có đường kính 17 mm, niêm
mạc tử cung ≥ 8 mm, E
2
khoảng 150- 200 pg/ ml cho một nang trưởng thành.
• Ưu điểm:
+ Khi dùng GnRh đồng vận kết hợp với gonadotropin trong phác đồ
ngắn có thể làm giảm tỷ lệ hủy do đỉnh LH sớm cò 2,5 - 7%.
+ Thời gian sử dụng thuốc ngắn.
+ Áp dụng thành công ở một số trường hợp đáp ứng kém với các
thuốc KTBT.
+ Số ống thuốc sử dụng tương đối ít.
• Nhược điểm:

tử cung ≥ 8 mm, E2 khoảng 150 – 200 pg/ ml cho một nang trưởng thành.
rFSH 150-400 đơn vị/ngày
SA nang noãn ≥ 18mm
hCG
Ngày 3 VK
Ngày 2 VK
GnRH agonist 0,05 mg/ngày
Ngày 1
GnRHa
0,1mg/ngày
Ngày 1
rFSH
Ngày 7
sau rFSH
XN:E
2
Ngày 8
sau rFSH
SA
Chọc
hút
Chuyển
phôi
21
- Chọc hút trứng được thực hiện sau khi tiêm hCG 34- 36 giờ.
Sơ đồ phác đồ dài trong thụ tinh ống nghiệm
• Ưu điểm:
+ Các nang noãn phát triển đồng bộ.
+ Giảm tối thiểu nồng độ FSH nội sinh từ đó sự sản xuất quá nhiều
androgen dưới tác dụng của LH, ảnh hưởng đến chất lượng nang noãn.

XN E
2
Chọc
hút
Chuyển
phôi
22
1.6.5. Phác đồ antagonist
Phác đồ Gonadotropin phối hợp GnRHant được áp dụng lâm sàng từ năm
2001 [26] và đã được ghi nhận một số mặt tích cực như thời gian tiêm thuốc
ngắn, nguy cơ QKBT giảm nên phác đồ này ngày càng được sử dụng nhiều hơn.
* Phương pháp tiến hành:
- Bệnh nhân bắt đầu được tiêm FSH vào ngày 2 đến ngày 4 của chu kỳ kinh.
- Liều FHS thay đổi từ 100- 300 UI/ ngày, tùy thuộc vào tuổi, nội tiết cơ
bản, AFC, BMI.
- Bổ sung GnRH ant 0,25 mg/ ngày vào ngày 5 hoặc 6 của FSH ( phác
đồ cố định) hoặc khi có ít nhất 1 nang ≥ 14 mm ( phác dồ linh động).
- Theo dõi sự phát triển nang noãn trên siêu âm và định lượng nội tiết
LH, E2.
- Điều chỉnh liều FSH tùy thuộc vào số lượng nang noãn phát triển và
nồng độ E2.
- Tiêm hCG khi có ít nhất 2 nang lớn nhất có đường kính ≥ 17mm
- Chọc hút trứng được thực hiện 34- 36 giờ sau khi tiêm hCG.
* Ưu điểm:
+ Kích thích buồng trứng sử dụng GnRHant giống với chu kỳ sinh lý hơn.
+ Không có hiện tượng hình thành nang chức năng.
+ Rút ngắn thời gian kích thích buồng trứng.
+ Lượng thuốc ít hơn cũng như thời gian tiêm thuốc ít hơn so với phác
đồ dài.
+ Có thể tránh gần như hoàn toàn QKBT

Phác đồ linh động
24
+ Gia tăng sựu hoàn thể hóa của nang noãn sau khi sử dụng hCG.
* Chỉ định sử dụng rLh từ đầu chu kỳ KTBT khi :
+ Thiểu năng tuyến hướng sinh dục, thiểu năng tuyến sinh dục.
+ Đáp ứng quá mạnh với GnRH đồng vận và GnRH đối vận.
+ Các bệnh nhân đáp ứng kém với KTBT [29]
+ Các bệnh nhân lớn tuổi [30].
* Chỉ định dùng rLH vào ngày 6 chu kỳ KTBT.
+ Dưới 5 nang noãn kích thước ≤ 12 mm ở cả 2 buồng trứng.
+ Kích thước nang không đều.
+ Nội mạc tử cung < 7 mm.
+ Nồng độ E2 ngày 6 < 600 pg/ ml.
Liều dùng rLH ( luveris ) thường dùng 75IU/ ngày, một số trường hợp
đặc biệt có thể lên đến 225 IU/ ngày.
Bổ sung rLH không chỉ cho các trường hợp thiếu LH mà còn cho mục
đích gia ăng đáp ứng với FSH làm cho nang noãn phát triển tốt hơn kể cả khi
các trường hợp này không hề thiếu LH.
1.7. Các đáp ứng bất thường của buồng trứng khi kích thích buồng trứng
1.7.1. Đáp ứng kém với KTBT
Đáp ứng kém với KTBT là tình trạng số lượng nang noãn ít, nồng độ
estradiol thấp sau khị dùng phác đồ KTBT. Theo cá nghiên cứu trên thế giới
tỷ lệ đáp ứng kém với KTBT ở bệnh nhân TTON khoảng 9 - 26% [31]. Đáp
ứng kém với KTBT thường xảy ra ở những bệnh nhân:
+ Lớn tuổi: (>35 tuổi) Khả năng đáp ứng của buồng trứng với các
gonadotropin giảm dần đi khi tuổi bệnh nhân càng lớn
+ Tiền sử có một chu kỳ đáp ứng kém với KTBT, tiền sử phẫu thuật vùng
bụng gây co kéo, tiền sử phẫu thuật buồng trứng làm giảm mô lành buồng
trứng, lạc nội mạc tử cung tại buồng trứng, suy buồng trứng sớm
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status